Chiến tranh là sự thử thách khắc nghiệt đối với các bên tham chiến. Quy luật tuyệt đối của chiến tranh là mạnh được, yếu thua và chiến tranh cũng chứng tỏ một điều mà như Tôn Tử đã viết trong Binh pháp 2500 năm trước đây rằng: “Biết mình, biết địch trăm trận không nguy, không biết địch chỉ biết mình có thể thắng có thể thua, không biết địch cũng không biết mình hễ đánh là thua”. Nhưng để “biết địch, biết ta”, biết đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch thì phải bám sát thực tiễn diễn biến của chiến tranh. Thực tiễn chiến tranh diễn biên vô cùng phức tạp, khi thì diễn ra dần dần, nhưng có lúc đột biến thức khắc, chốc lát “một ngày bằng 20 năm”, nhất là phía kẻ thù không ngừng có những thay đổi về âm mưu, thủ đoạn, biện pháp trong chiến tranh.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước kế hoạch mở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Ảnh tư liệu.
Trong thời điểm cuối của cuộc chiến tranh Pháp - Việt lần thứ hai (1945-1954), những diễn biến chiến tranh rất mau lẹ, đòi hỏi việc xem xét đánh giá tình hình và tương quan lực lượng giữa ta và địch của Đảng phải hết sức thận trọng. Ngay từ giữa năm 1953, khi phía Pháp triển khai Kế hoạch Nava với ý đồ tập trung quân tạo ưu thế để giành chủ động, mở các cuộc tiến công quân sự quy mô lớn nhằm đẩy ta vào thế bị động và phải kết thúc chiến tranh theo những điều kiện của Pháp, thì các cơ quan chiến lược của ta đã theo dõi sát diễn biến mới của tình hình. Trước âm mưu của địch, từ cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp bàn về nhiệm vụ quân sự Đông - Xuân 1953-1954. Bộ Chính trị phân tích cụ thể cục diện chiến tranh ở Đông Dương, âm mưu mới của Pháp - Mỹ và cho rằng, Kế hoạch Nava tuy có thể gây cho ta những khó khăn mới, nhưng bản thân nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn và có nhiều nhược điểm lớn: Đại bộ phận chủ lực địch đã dần dần tập trung ở Bắc Bộ, chủ yếu là ở đồng bằng; ở các chiến trường khác, nhất là miền núi, chúng có nhiều sơ hở và yếu. Tình hình đó đặt ra cho ta là tập trung quân ở đồng bằng, phát triển chiến tranh du kích, bảo vệ vùng tự do, hay đưa quân lên vùng Tây Bắc và phối hợp với quân đội bạn ở Lào là nơi địch có sơ hở và yếu nhưng chúng không thể bỏ?.
Dựa trên phương hướng chiến lược đúng đắn do Hội nghị lần thứ IV của Trung ương Đảng chỉ ra là tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh chắc thắng, Bộ Chính trị chủ trương đưa bộ đội chủ lực lên Tây Bắc. Tiến quân lên hướng này, dù ta có khó khăn lớn về tiếp tế, nhưng buộc địch phải phân tán lực lượng, tạo ra thời cơ để ta tiêu diệt sinh lực của chúng, đẩy mạnh hoạt động ở chiến trường sau lưng địch, phối hợp các chiến trường Đông Dương, chuẩn bị điều kiện tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.
Bộ Chính trị chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 nhằm phá vỡ kế hoạch tập trung quân của địch, trong đó chọn hướng tiến công chính là Tây Bắc, còn các hướng khác là phối hợp. Bộ Chính trị nhấn mạnh các nguyên tắc chỉ đạo chiến lươc và chỉ đạo tác chiến: đánh ăn chắc, đánh tiêu diệt, đánh nơi địch sơ hở và tương đối yếu, buộc địch phải phân tán. Phương châm tác chiến là: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt.
Giữa tháng 11/1953, bộ đội ta bắt đầu tiến quân lên Lai Châu. Từ những diễn biến đầu tiên trong kế hoạch hoạt động quân sự Đông - Xuân 1953-1954 của ta đã đưa tới một tình huống là Điện Biên Phủ trước đây vốn không nằm troing kế hoạch của mình, nhưng đến lúc này Nava phải lựa chọn đóng chốt ở Điện Biên Phủ bằng biện pháp vội vàng đưa quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ trong ngày 20/11/1953 và xúc tiến xây dựng phòng tuyến sông Nậm Hu, nối liền Điện Biên Phủ với Thượng Lào. Từ chỗ bị động giữ vị trí chiến lược này với 6 tiểu đoàn, Nava đã điều chỉnh kế hoạch tăng quân vào đầu tháng 12/1953 với tổng số 12 tiểu đoàn và tập trung khẩn trương xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm vững chắc nhằm giành quyền chủ động tiêu diệt lực lượng chủ yếu của ta ở đây. Điện Biên Phủ từng bước trở thành trung tâm, hạt nhân của Kế hoạch Nava. Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và như thế Điện Biên Phủ được cả hai phía chọn làm nơi đọ sức, thực hiện cuộc “Tổng giao chiến” để định đoạt kết cục cuộc chiến tranh.

Chiều 7-5-1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của quân đội ta
tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Ảnh: TTXVN
Điện Biên Phủ (thuộc tỉnh Lai Châu trước đây) là một thung lũng rộng lớn nằm ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc, cách Hà Nội khoảng 300km, cách Luông Phabăng (Lào) 190km. Thung lũng Điện Biên (canh đồng Mường Thanh) có chiều rộng 6-7km, chiều dài hơn 18km, nằm gần biên giới Việt - Lào. Bao bọc xung quanh thung lũng Điện Biên là một vùng rừng núi trùng điệp, có độ cao trung bình 500m, có mỏm đột xuất cao tới 1.461m.
Sau khi đổ quân, Pháp lợi dụng các điểm cao và sân bay Mường Thanh xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm với 49 cứ điểm, mỗi cứ điểm đều có hệ thống công sự, hàng rào, vật cản, hoả lực để độc lập tác chiến, đồng thời các cứ điểm gần nhau lại được tổ chức lại thành cụm cứ điểm, gọi là trung tâm đề kháng. Tập đoàn cứ điểm có 8 trung tâm đề kháng và được chia thành 3 phân khu: Trung tâm, Bắc và Nam.
Khi ta nổ sung tiến công, địch ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 2 tiểu đoàn lựu pháo 105mm (24 khẩu), 2 tiểu đoàn súng cối 120mm (20 khẩu), 1 đại đội trọng pháo 155mm (4 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng (10 chiếc), 1 đại đội xe vận tải (khoảng 200 ô tô). Lực lượng không quân thường trực tại sân bay Mường Thanh có 7 máy bay khu trục, 5 máy bay trinh sát, 4 máy bay vận tải và 1 trực thăng. Ngoài ra, địch sẽ huy động 2/3 máy bay ném bom, máy bay tiêm kích và 100% máy bay vận tải hiện có ở Đông Dương để yểm trợ trực tiếp cho Điện Biên Phủ trong trường hợp bị tiến công. Tổng số quân lúc đầu lên tới 11.800 tên, chủ yếu là lính dù và Âu Phi tinh nhuệ, đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá Đờ Cát-xtơ-ri.
Với lực lượng đông, hoả lực mạnh, hệ thống công sự, vật cản được xây dựng vững chắc, hoàn chỉnh và tận dụng được lợi thế của địa hình, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thực sự là một hệ thống phòng ngự mạnh chưa từng có ở Đông Dương lúc bấy giờ. Bộ chỉ huy Pháp coi Điện Biên Phủ là một “pháo đài không thể công phá” và tin chắc “sẽ gây cho Việt Minh một thất bại nghiêm trọng” ở đây.
Về phía ta, lực lượng tham gia chiến dịch lúc đầu có 9 trung đoàn bộ binh với 27 tiểu đoàn, 1 trung đoàn sơn pháo 75mm (24 khẩu), 2 tiểu đoàn lựu pháo 105mm (24 khẩu), 4 đại đội súng cối 120mm (16 khẩu), 1 trung đoàn pháo cao xạ 37mm (24 khẩu) và 2 tiểu đoàn công binh.
So sánh lực lượng hai bên, về bộ binh, tuy ta hơn địch về số tiểu đoàn, nhưng quân số mỗi tiểu đoàn của ta chỉ bằng 2/3 quân số tiểu đoàn địch và trang bị yếu hơn địch. Về pháo binh chi viện trực tiếp cho bộ binh, ta hơn địch về số lượng (64/48 khẩu), nhưng đạn pháo dự trữ của ta rất hạn chế. Ta không có xe tăng và chỉ có 1 trung đoàn pháo cao xạ 37mm để đối phó với toàn bộ không quân địch. Như vậy, xét toàn bộ lực lượng chiến dịch, ta không có ưu thế về binh lực. Ngay cả lực lượng bộ binh ta cũng không hơn địch bao nhiêu, trong khi đó, thông thường để tiến công phía đối phương phòng ngự trong công sự, bên tiến công phải có lực lượng đông gấp 3 đến 5 lần.
Để thực hiện nguyên tắc cao nhất trong chiến dịch là “đánh chắc thắng” như Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và “chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn” theo lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một vấn đề hết sức khó khăn đặt ra cho Bộ chỉ huy chiến dịch đó là đánh giá đúng so sánh lực lượng địch - ta nhằm có cách đánh phù hợp. Lúc đầu (đầu tháng 12/1953) do có những khó khăn về nắm tình hình địch và địa hình ở Điện Biên Phủ nên Bộ chỉ huy chiến dịch sơ bộ xác định phương châm cũng là cách đánh chung của chiến dịch là “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Khi đó, lực lượng phòng ngự của địch chưa được tăng cường, trận địa phòng ngự của chúng chưa được xây dựng hoàn chỉnh và chưa được củng cố. Bên ta có thể khoét sâu những hạn chế này của đối phương, thực hành tiến công đồng loạt các mục tiêu quan trọng trong khu vực phòng ngự chủ yếu của địch rồi nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch trong 3 đêm, 2 ngày. Xem xét, đánh giá phương án “đánh nhanh, giải quyết nhanh” ta có lợi một số mặt: Quân ta sung sức, chiến đấu không kéo dài nên ít ngại tiêu hao, mệt mỏi; thời gian chiến dịch không dài nên việc tiếp tế lương thực, đạn dược có thể bảo đảm chắc chắn, không gặp trở ngại lớn. Tuy nhiên, trên toàn cục lại không có lợi bởi ta chưa có kinh nghiệm thực tế, đây là lần đầu tiên đánh tập đoàn cứ điểm, mà lại là tập đoàn cứ điểm mạnh. Ta sẽ khó có khả năng thực hiện được ý định chiến dịch đã đề ra. Ưu thế tương đối của ta trong chiến dịch (36 tiểu đoàn ta/17 tiểu đoàn địch, mà lý thuyết: bên tiến công 3, bên phòng ngự 1) không đủ tạo nên sức mạnh tiến công áp đảo đối với tập đoàn phòng ngự lớn của địch trong hệ thống trận địa. Sức đột kích chủ yếu của ta là bộ binh, nên nếu đưa lực lượng lớn để tiếp cận và tiến công địch trên địa hình thung lũng trống trải thì dễ bị hoả lực không quân, pháo binh của địch đang chiếm ưu thế làm tổn thất nặng. Ta không có máy bay và xe tăng, hoả lực pháo binh lại không nhiều, bộ binh ta khó có thể đột phá nhanh chóng và liên tục các cụm cứ điểm của địch. Trong thời gian chuẩn bị nổ súng tiến công địch theo phương án “đánh nhanh, giải quyết nhanh” về phía ta có những khó khăn hiện ra rất rõ:
Thứ nhất, ta dự định nổ sung đánh địch vào ngày 20/1/1954, nhưng đã phải lùi lại 5 ngày do ta kéo pháo vào trận địa bằng sức người lại gặp địa hình hiểm trở, đường xa, nhiều dốc cao, vực sâu, địch đánh phá ác liệt. Điều này sẽ càng khó khăn cho “đánh nhanh, giải quyết nhanh” vì cứ mỗi ngày quân Pháp ở Điện Biên Phủ lại tăng cường lực lượng và xây dựng củng cố trận địa vững chắc thêm. Hơn nữa khi chiến đấu, việc tiếp tế đạn pháo của ta sẽ rất khó khăn.
Thứ hai, trên thực tế lúc này bộ đội chủ lực ta mới chỉ tiến công tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng cường có công sự vững chắc và mới đánh vào vị trí tiểu đoàn, tiểu đoàn thiếu, công sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm mà vẫn có những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều.
Thứ ba, trận này tuy ta không có máy bay, xe tăng, nhưng đánh hợp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà chưa qua diễn tập. Do đó lúc này có trường hợp trung đoàn trưởng xin trả lại pháo vì không biết phối hợp thế nào.
Thứ tư, bộ đội ta từ trước tới lúc đó mới chỉ quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ ẩn náu. Chủ lực ta chưa có kinh nghiệm đánh công kiên ban ngày trên địa hình bằng phẳng, với một kẻ thù có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng mà trận đánh diễn ra trên một cánh đồng dài 18km và rộng 6-7km.
Từ những phân tích trên, Bộ chỉ huy chiến dịch thấy rằng trong quá trình tiến hành công tác chuẩn bị phải tiếp tục theo dõi tình hình địch, kiểm tra lại khả năng của ta. Nhờ vậy, chúng ta phát hiện được địch đã tăng cường lực lượng, xây dựng trận địa và tổ chức hệ thống phòng ngự vững chắc. Hơn nữa, gần đến ngày nổ súng (25/1/1954) theo kế hoạch trước đó thì một chiến sĩ của Đại đoàn 312 không may bị địch bắt. Bộ phận thông tin kỹ thuật của ta nghe địch thông báo cho nhau qua điện đài về ngày, giờ tiến công của bộ đội ta. Đây là những diễn biến đầu tiên ngoài dự kiến. Đứng trước những diễn biến của tình hình, nắm vững nguyên tắc “đánh chắc thắng”, chúng ta đã nhận định rằng trong tình huống tập đoàn cứ điểm của địch đã được củng cố, không còn tình trạng lâm thời chiếm lĩnh trận địa, nếu đánh nhanh, giải quyết nhanh thì không mười phần bảo đảm thắng lợi. Do đó, chúng ta nghiên cứu xem xét theo hướng thực hiện phương châm tác chiến mới của chiến dịch là “đánh chắc, tiến chắc”. Thực hiện “đánh chắc, tiến chắc”, ta nhận thấy sẽ có những khó khăn như: chiến dịch kéo dài, địch càng tăng cường công sự, trận địa, chúng có thêm viện binh; ta hoạt động kéo dài có thể bị tiêu hao, mệt mỏi và khó khăn lớn nhất là cung cấp, tiếp tế. Đặc biệt lúc này, một khó khăn mới xuất hiện cần giải quyết ra sao khi pháo binh đã vào vị trí sau nhiều ngày đêm bộ đội vất vả, hy sinh kéo pháo, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong. Quyết định hoãn trận đánh một lần nữa sẽ tác động rất lớn tới tinh thần, tư tưởng của bộ đội. Nhưng nếu “đánh chắc, tiến chắc” tức là đánh từng bước thì ta có nhiều thuận lợi. Đó là, ta có thể tập trung ưu thế tuyệt đối binh lực, hoả lực vào từng cuộc chiến đấu, bảo đảm chiến thắng cho từng trận chiến đấu ấy; phù hợp với trình độ của bộ đội ta lúc này mới đánh công kiên; ta chủ động hoàn toàn trong lựa chọn thời gian đánh và điểm đánh, chuẩn bị chu đáo chắc thắng mới đánh, chưa chu đáo chưa đánh; khoét sâu nhược điểm lớn nhất của địch là vấn đề tiếp tế, vận tải; nếu ở Điện Biên Phủ ta đánh trong thời gian dài thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường khác tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều đất đai và nhân dân.
Trên cơ sở nắm vững thực tiễn diễn biến tình hình, phân tích chính xác so sánh lực lượng giữa ta và địch và để thực hiện đúng nguyên tắc “đánh chắc thắng”, Bộ chỉ huy chiến dịch đã quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” vào 11 giờ ngày 26/1/1954, đúng thời điểm diễn ra những vấn đề phức tạp nhất. Đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng uỷ Mặt trận Điện Biên Phủ. Quyết định này thể hiện trách nhiệm cao cả trước vận mệnh dân tộc và sinh mệnh của cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Cũng từ quyết định này đã tạo cho quân Pháp bị bất ngờ, chủ quan khi không thấy ta nổ sùng vào 17 giờ ngày 25/1/1954 và đưa ra phán đoán rằng Việt Minh đã bỏ ý định đánh Điện Biên Phủ, để rồi đúng 17 giờ ngày 13/3/1954, chúng phải chịu những đòn tiến công mãnh liệt đầu tiên của bộ đội ta.
Thực hiện phương châm tác chiến “đánh chắc, tiến chắc”, chiều ngày 13/3/1954, đợt một của chiến dịch bắt đầu. Bằng trận tập kích hoả lực mạnh và bất ngờ, chính xác, ta đã làm cho địch lúng túng. Sau 5 ngày đêm chiến đấu, với hai trận lớn then chốt, ta đã tiêu diệt các cụm cứ điểm Him Lam và Độc lập, đập vỡ hệ thống phòng ngự của địch ở phân khu Bắc và một trung tâm đề kháng của phân khu Trung tâm, đánh bại hoàn toàn quân địch ra phả kích. Tiếp đó, vào 18 giờ, ngày 30/3/1954, quân ta nổ súng tiến công địch đợt hai. Sau 6 ngày đêm chiến đấu, ta chiếm được một số cứ điểm, uy hiếp phân khu Trung tâm. Đặc biệt, 18 giờ ngày 30/4/1954 ta tiếp tục tiến công mạnh, tiêu diệt thêm một số cứ điểm, xiết chặt vòng vây quân địch ở phân khu Trung tâm. Tiếp đó, đến ngày 1/5/1954, đợt tiến công thứ ba của chiến dịch bắt đầu, ngày 7/5/1954 toàn Mặt trận Điện Biên Phủ tiến hành tổng công kích vào phân khu Trung tâm, 17 giờ, ta chiếm được Sở chỉ huy và buộc toàn bộ cơ quan tham mưu của tập đoàn cứ điểm, cùng quân địch ở phân khu Trung tâm phải đầu hàng, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Điện Biên phủ sau 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ.
Bằng quyết định chính xác, kịp thời dựa trên cơ sở nắm chắc thực tiễn, phân tích đánh giá đúng so sánh lực lượng địch - ta, đã quyết định tạo nên thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, tránh được điều mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghĩ và viết trong cuốn sách “Điên Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” rằng: “Lần đó cứ đánh nhanh, thắng nhanh” thì cuộc kháng chiến có thể lùi lại mười năm”. Hay như lời của Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói trong dịp kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1964): “nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ”. Đây thực sự là một bài học quý báu từ sự chỉ đạo của Đảng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ - trận công kiên lớn nhất trong lịch sử dân tộc.
Bài học thành công trong chỉ đạo Chiến dịch Điện Biên Phủ đã được Đảng và các cấp chỉ huy quân đội tiếp tục phát huy cao độ trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Bảy thập kỷ đã trôi qua, nhưng bài học kinh nghiệm về bám sát thực tiễn, đánh giá đúng so sánh lực lượng địch - ta, kịp thời chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn vẹn nguyên giá trị để chúng ta kế thừa và tiếp tục phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Đại tá, PGS.TS. NGƯT NGUYỄN XUÂN TÚ
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng