Tóm tắt
Luật Giáo dục quy định về Giáo dục Mầm non là bậc học cơ bản trong Hệ thống Giáo dục quốc dân. Giáo dục Mầm non vẫn luôn luôn được định vị coi là nền tảng của phát triển Nhân cách.Tuy nhiên công luận xã hội vẫn hiểu nền tảng Triết lý của Giáo dục Mầm non là Mẫu giáo và thường nhắc đến lời căn dặn của Bác Hồ: "Làm mẫu giáo là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm được thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ cũng như trồng cây non. Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt." (Toàn Tập, tập12, tr 286). Giáo viên mầm non là đối tượng trực tiếp Giáo dục trẻ, phải có sự khiêm cung, tôn trọng tha nhân, để làm gương cho các chủ nhân đất nước đang dần hoàn thiện về mặt tâm lý- lứa tuổi, hình thành và phát triển nhân cách "soi”. Góp phần thực hiện đúng Hiến pháp năm 2013 của nước ta, điều 37 quy định” Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.” trong tình hình hội nhập phát triển giáo dục hiện nay.
Từ khóa: Giáo viên, chống, xâm hại, trẻ

Hội thảo khoa học“Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”; Đồng Tháp ngày 23/12/2023
1.Đặt vấn đề
Trong những năm qua tình trạng bạo lực nói chung và bạo hành trong trường học nói riêng và ngay cả xâm hại trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non đã gây nên sự lo lắng cho xã hội. Bệnh xâm hại trẻ em trong trường học sẽ để lại “di căn”cho tương lai, phá vỡ kỳ vọng của loài người trong công cuộc xây dựng và đổi mới. Biểu hiện của mỗi loại xâm hại khác nhau nhưng đều gây ra tổn thương về thể chất, tinh thần, tâm lý, bởi mọi hoạt động của trẻ đều bị chi phối bởi tình cảm, cảm xúc của bản thân. Mối tương quan giữa xâm hại trẻ và kỹ năng GVMN đã được chứng minh cả lý thuyết và thực tế GVMN thiếu kỹ năng thường có hành vi bạo hành. Vì vậy, giáo viên mầm non cần phải có kĩ năng biểu lộ cảm xúc phong phú, đa dạng nhằm tương tác, giúp trẻ nhận biết được các trạng thái cảm xúc trong mỗi tình huống và có cách biểu lộ cảm xúc phù hợp, phát triển các dạng cảm xúc tích cực và kiểm soát được các cảm xúc tiêu cực bằng phương pháp khoa học giáo dục.
2. Nội dung
2.1 Một vài vấn đề lý luận về nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng phòng chống xâm hại trẻ
"Bồi dưỡng" là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc.(Quyết định 273/QĐ-BTP năm 2018) Điều này có nghĩa bồi dưỡng là quá trình giúp người học cập nhật và nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc của họ. Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật kiến thức và kỹ năng làm việc.(Theo Luật Giáo dục 2005, tỷ lệ đạt chuẩn đào tạo của GV nhà trẻ: 99,9%, giáo viên mẫu giáo: 99,8%, hiệu trưởng nhà trẻ: 91% và mẫu giáo: 86%. Theo Luật Giáo dục 2019, tỷ lệ đạt chuẩn này còn thấp: giáo viên nhà trẻ: 55%, giáo viên mẫu giáo:70% và cán bộ quản lý nhà trẻ: 89%, cán bộ quản lý mẫu giáo: 79%.)
Thông qua quy trình trãi việc GVMN phải tự nâng cao kỹ năng kiến thức mới, thường xuyên linh hoạt để thích nghi với nhu cầu công việc, để nâng văn bằng chứng chỉ lên mức cao hơn các cách thức đa dạng, phong phú nhưng gắn với thực tế, để duy trì quan hệ tích cực với người khác; thích ứng với các quan hệ xã hội hướng đến việc thực hiện yêu cầu của công việc hiệu quả.
Riêng hình thức bồi dưỡng GVMN trong CSGD trẻ không chỉ dừng ở mức đọc hiểu trực tiếp trong chương trình đào tạo mà còn trực tuyến, thông qua hệ thống công nghệ 4.0, gắn lý thuyết song song với thực hành trãi ngiệm (các tín chỉ trong đào tạo, giữa lý thuyết và thực hành, tuyến và trực tiếp, trang thông tin mạng chính thống..)
Điều 4 Luật Trẻ em 2016 quy định "Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.". Trong đó gồm các hành vi được xem là xâm hại trẻ em như:
Có hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em. Tước đoạt quyền sống của trẻ em.
Hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi.
Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
Trẻ bị ỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em. Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn. Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác. Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình. Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em. Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em…
Trong nhiều gia đình, bạo lực được sử dụng làm phương tiện để thiết lập hệ thống phân cấp của nam giới và củng cố nam tính. Hành vi như vậy bị ảnh hưởng bởi khả năng tài chính, trình độ học vấn của cha mẹ và các vấn đề khác như lạm dụng rượu hoặc ma túy…
Thực tiễn cho thấy, không ít trẻ em từ 3 đến 4 tuổi đã phải trông em cho bố mẹ đi làm cả buổi; 5 đến 6 tuổi đã phải đi chăn trâu và làm việc như ô sin trong nhà. Những năm gần đây trẻ em còn bị người lớn bắt đi ăn xin hoặc bị lợi dụng làm công cụ cho hoạt động ăn xin.
Do kỷ luật mang tính bạo lực vẫn là một tiêu chuẩn được một bộ phận cư dân xã hội chấp nhận, trẻ em dễ bị tổn thương khi các em có hiểu biết hạn chế về quyền của mình nên không lên tiếng và tìm sự giúp đỡ khi xâm hại xảy ra.
Căn cứ vào các nội dung trên có thể nhận thấy xâm hại có ý nghĩa rất rộng và đa dạng. Theo các nội dung đó, áp vào thực tiễn có thể nhận thấy hiện trạng xâm hại trẻ nói chung là tương đối phổ biến trong hoàn cảnh hiện nay, trong đó có xâm hại ở các trường mầm non, bởi trẻ chưa được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để phòng tránh bị xâm hại.
2.2 Xâm hại trẻ em tại các cơ sở GDMN từ góc nhìn Tâm lý học – Giáo dục học
Không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà các cơ sở GDMN mang lại, nó góp phần bảo đảm quyền đi học của trẻ em, giảm bớt áp lực cho các trường tiểu học trong tiền đề chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.Nhưng thực trạng từ các vụ bạo hành trẻ bị phát hiện có tính chất vô cùng nghiêm trọng, xảy ra ở đủ các lứa tuổi MN, thậm chí có trẻ mới vài tháng tuổi. Trẻ bị bạo hành, xâm hại cả về mặt thể xác lẫn tinh thần và xảy ra trong hầu hết các hoạt động trong ngày của trẻ, cụ thể như: quăng quật trong giờ ngủ; dọa nạt, nhồi nhét thô bạo trong giờ ăn; đánh đập trong lúc tắm, lúc đi vệ sinh.... Ngoài bạo lực bằng tay chân, các đối tượng bạo hành trẻ bằng bất cứ thứ gì và lên bất cứ bộ phận nào của trẻ như: dép, can nhựa, đũa, vá, rẻ lau, gậy học thể dục, kể cả dao, kéo... và thậm chí có trẻ còn bị cô đẩy lên cho các bạn trong lớp đánh hội đồng hay cho trẻ ngồi trên bô suốt ngày để khỏi phải mặc quần...
Dù ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào thì xâm hại trẻ em cũng để lại những hậu quả. Chúng ta cần nghiên cứu để có biện pháp khắc phục, hạn chế những hậu quả để lại đặc biệt là đối với tâm lý trẻ em.
2.3. Hậu quả của tình trạng xâm hại trẻ em
Tất cả những hành vi xâm hại trẻ dù ở mức độ nào, loại hình nào đều để lại hậu quả nhất định, không chỉ là những ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe thể chất, trẻ bị tách biệt khỏi bạn bè không hiểu lý do, chỉ nghĩ rằng hư sẽ bị đánh, từ đó tạo ra sự tẩy chay giữa các trẻ với nhau. Dần dần bạn bị xâm hại sẽ cảm thấy bị cô độc, bản thân có vấn đề, tự đổi lỗi cho bản thân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần, kéo theo nhiều hệ lụy tâm lý. Xét về góc độ tâm lí, những tổn thương, di chứng về tâm lý do xâm hại gây ra chưa thể thấy ngay như về mặt thể xác mà có thể diễn ra trong thời gian dài sau khi trẻ trưởng thành và có thể sẽ đi theo trẻ suốt cả cuộc đời.
Những hành vi mắng chửi, lăng nhục, dọa nạt, đánh đập… khiến đứa trẻ thiếu tự tin, rụt rè, luôn trong trạng thái thảng thốt. Bị xâm hại thường xuyên sẽ khiến trẻ có những rối loạn hành vi và ứng xử. Có hai kiểu phản ứng ở trẻ thường xảy ra khi bị xâm hại. Nếu biểu hiện ra bên ngoài, trẻ có thể thay đổi tính nết:
- Phản ứng kiểu thứ nhất là trẻ đang hiền lành bỗng trở nên hung bạo, có xu hướng gây hấn, bạo lực với những người xung quanh bằng nhiều hình thức, mức độ khác nhau như cáu gắt, khóc lóc, thậm chí có hành vi hung tính như đánh đập người khác hoặc độc ác với thú vật. Việc thiết lập mối quan hệ của trẻ với người khác cũng khó khăn hơn rất nhiều.
- Kiểu thứ hai là trẻ thu mình lại, những hình ảnh về xâm hại sẽ được ghi dấu trong đầu chúng. Sau này, khi chứng kiến lại những cảnh tương tự hoặc chẳng may trẻ bị lặp lại những vấn đề này, những dấu vết đã hằn sâu sẽ khiến đứa trẻ lo lắng, hoảng sợ, buồn phiền, xa lánh mọi người, không thích tiếp xúc và luôn mang cảm giác sợ sệt. Một biểu hiện rõ nhất nữa là trẻ chán học, chán đến trường. Theo một khảo sát của gần đây với 200 trẻ, khi hỏi "có sợ cô giáo không", thì có 48% trẻ trả lời "có". Mức độ trầm trọng hơn là trẻ bị rối loạn tâm thần với các triệu chứng như hoang tưởng, ảo giác.
Việc xâm hại sẽ gây hậu quả trầm trọng đến việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, dần dần hình thành một nhân cách nhút nhát, tự ti, thiếu sự khẳng định mình. Trẻ gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi chấp nhận và vượt qua các thử thách biến cố hay thất bại trong cuộc sống sau này. Nếu tình trạng này kéo dài, đến một lúc nào đó, trẻ rất dễ rơi vào tình trạng trầm cảm, lo âu và rối loạn về mặt cảm xúc trẻ sẽ có những biểu hiện hung bạo, hay cáu gắt, khó tính, khi lớn lên, trẻ có thể trở thành một con người cục cằn, lỗ mãng và độc ác. Sống trong môi trường không lành mạnh, bị xâm hại hoặc chứng kiến sự xâm hại , trẻ sẽ có quan niệm sống lệch lạc, không biết tôn trọng người khác và cũng không biết tôn trọng chính bản thân mình. Thậm chí trẻ trở nên vô cảm, không biết lên án những hành vi phi đạo đức của người khác.
Như vậy có thể nói nhìn từ góc độ tâm lý, những hậu quả do nạn xâm hại trẻ em nói chung để lại về mặt tinh thần là vô cùng nghiêm trọng. Việc tìm ra nguyên nhân của xâm hại trẻ em tại các cơ sở GDMN sẽ giúp chúng ta đưa ra một số giải pháp thiết thực để ngăn chặn, phòng chống vấn nạn này.
2.4. Các nguyên nhân xâm hại trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non
Có nhiều nguyên khác nhau dẫn đến trẻ trong các cơ sở GDM bị xâm hại. Nhìn từ góc độ khoa học tâm lý, giáo dục, tôi đưa ra một số nguyên nhân sau:
2.4.1. Các nguyên nhân chủ quan
a. Tình cảm nghề nghiệp của giáo viên mầm non
Tình cảm là động lực thúc đẩy con người nỗ lực vượt qua mọi khó khăn vất vả của GVMN là mến trẻ. Một trong những yêu cầu về phẩm chất là phải có lòng yêu trẻ, cô giáo sẽ thực sự yêu thích công việc, cô sẽ nhạy cảm với trẻ, dễ dàng phát hiện ra những biến đổi dù là rất nhỏ về thể chất và tâm lý của trẻ để thỏa mãn hợp lý các nhu cầu phát triển của trẻ, dịu dàng, nhẹ nhàng với trẻ... Sự trưởng thành của mỗi đứa trẻ sẽ là niềm vui, niềm hạnh phúc của người GVMN.
Tuy nhiên, một thực tế cho thấy rất nhiều GVMN vào ngành không xuất phát từ lòng yêu nghề, mến trẻ hoặc do các nguyên nhân khác như: Không đỗ vào các trường khác; bị cha mẹ ép; học theo bạn bè cho vui. Chính điều này khiến GV chưa thực sự tâm huyết với nghề, dễ có những phản ứng tiêu cực như cáu gắt, nặng lời, đánh đập trẻ...
b. Trách nhiệm nghề nghiệp của GV mầm non
Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình được thể hiện qua chuẩn mực phẩm chất, đạo đức, kỷ luật, sáng tạo về lương tâm, nhằm phản ánh năng lực và tạo ra nội lực bên trong giúp điều chỉnh hoàn thiện nhân cách của người thầy, chính từ ý thức trách nhiệm, thái độ, ứng xử trong hoạt động nghề trước lợi ích hay sự tự phán xét luôn có tính kỷ luật trong chuyên môn để nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ.
Một bộ phận GVMN mặc dù được đào tạo bài bản nhưng lại thiếu ý thức trách nhiệm của một nhà giáo, thiếu đạo đạo đức nghề nghiệp, họ thực hiện công việc với một tinh thần hời hợt, nguội lửa nghề, chờ chính sách vào khung hưởng chế độ để tin giản biên chế, tâm nghề ngủ trong lúc trẻ thức, làm việc đối phó, thiếu tính kỷ luật. Từ đó dẫn đến có những hành vi xâm hại trẻ.
c. Điều chỉnh cảm xúc bản thân của giáo viên mầm non
Điều chỉnh xúc cảm bản thân là một quá trình tâm lý mà cá nhân đó nhận ra và thực hiện việc chỉnh lại, sửa lại các mức độ cảm xúc không phù hợp trong một tình huống cụ thể (liên quan đến sự nhận diện, kiềm chế, kiểm soát, sử dụng... trạng thái hay hành vi cảm xúc) . Đây là một trong những nguyên nhân then chốt trực tiếp dẫn đến xâm hại trẻ của GVMN , bởi họ không có khả năng điều chỉnh cảm xúc tiêu cực bản thân như: Lo lắng, buồn bực, nóng giận... Theo nghiên cứu của Nhà triết học cổ đại Hy Lạp Hipôcrát đã tìm hiểu các quá trình thần kinh của con người thông qua việc quan sát các hành vi phong phú của họ và ông đã phân ra bốn loại tính khí: Tính khí nóng nảy, tính khí ưu tư, tính khí linh hoạt và tính khí điềm đạm. Khí chất của con người có ảnh hưởng đến cảm xúc của họ. Chẳng hạn: người có khí chất nóng nảy sẽ dễ bị kích động, xuất hiện những cơn thịnh nộ...
Việc GVMN có kỹ năng điều chỉnh xảm xúc, quản lý, kiểm soát tốt các trạng thái bên trong như sự bốc đồng, buồn bực cũng như nỗi đau của bản thân, sẽ giúp họ sẽ có những lời nói, hành vi phù hợp và đúng đắn nhất với trẻ, cũng có nghĩa là sẽ ngăn chặn được các hành vi xâm hại trẻ. Ngược lại, khi GVMN không kiểm soát điều chỉnh được cảm xúc bản thân, trẻ sẽ có nhiều nguy cơ trở thành thành đối tượng trút giận từ chính người nuôi dạy.
d. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên mầm non
Trước đây, trình độ chuẩn của GVMN là có bằng tốt nghiệp Trung cấp sư phạm mầm non. Từ khi luật Giáo dục sửa đổi năm 2019 có hiệu lực, trình độ chuẩn được đào tạo của GVMN là có bằng tốt nghiệp CĐSPMN. Cải tiến chuẩn hoá trong đào tạo bài bản từ các trường ĐH. ĐBSCL hiện có 17 trường ĐH (11 Trường công lập, 06 trường ngoài công lập) trong 13 tỉnh thành (11/13 tỉnh có trường ĐH) từ đó giúp GVMN có nhiều cơ hội tự học để nâng cao trình độ chuyên môn hơn về nhận thức, am hiểu đặc điểm tâm sinh lý trẻ, và các kỹ năng nghề nghiệp..., từ đó họ tự tin, chủ động, tích cực hơn trong hoạt động nghề. Để có kỹ năng ứng xử, giao tiếp phù hợp với từng độ tuổi của trẻ nhất là những trẻ cá biệt. Thực tế cho thấy trong thời gian qua nhiều trẻ mầm non bị xâm hại phần lớn từ tác động xâm hại là người trược tiếp chăm sóc nuôi dạy trẻ phải chăng chưa đạt chuẩn hay mới chỉ có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, lẽ nào chưa hề qua trường lớp đào tạo.
Bên cạnh một số bộ phận non nghề đã đi theo lối mòn “ăn xổi ở thì” nghèo đồ dùng sáng tạo, nông cạn kiến thức về đặc điểm tâm sinh lý trẻ, trong cách tổ chức hoạt động vui chơi, trãi nghiệm thiếu đồ dùng đạo cụ …yếu về kỹ năng xử lý tình huống sư phạm, dẫn đến khi có trẻ hiếu động vi phạm kỉ luật, quấy khóc, biếng ăn…. Thay vì dùng tình cảm dỗ dành, hoặc nghiêm khắc uốn nắn bằng các phương pháp sư phạm khác thì cô lại quát mắng, dọa nạt, đánh đập trẻ…
e. Tâm lý việc làm không ổn định, đứng núi này trông núi nọ
Vào biên chế là động lực mục tiêu phấn đấu, là niềm khao khát của không ít người, vì đây là vị trí công việc phục vụ lâu dài, đảm bảo sự ổn định cho đến tuổi nghỉ hưu, nếu không thuộc diện bị tinh giản biên chế hoặc không tự nguyện nghỉ việc. Nên có thể nói nhiều người coi biên chế nhà nước là tấm khiên chắn tuyệt vời cho sự ổn định. Ngược lại nếu môi trường làm vệc không ổn định chính sách đãi ngộ chưa phù hợp cũng phần nào nhũi lòng.Vì thế họ thường không có mục tiêu phấn đấu, không có sự gắn bó với trường lớp. Nên dễ dẫn đến những hành vi ứng xử không phù hợp với trẻ để được thay đổi môi trường làm việc.
g. Tuổi đời và kinh nghiệm nghề nghiệp của gáo viên mầm non
Một thực tế, GVMN lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc, giáo dục trẻ thường nhẫn, chậm, bình tĩnh hơn trong xử lý các tình huống sư phạm; Riêng giới trẻ mới vào nghề có sức khỏe, năng nổ, nhiệt tình, nhưng lại thiếu kinh nghiệm, nóng vội...
Do đặc thù sàng lọc, nơi tuyển dụng hàng năm chọn đối tượng, làm cho người bán trí tuệ GD nhũi lòng trước kinh nghiệm vốn có(có tuổi, chậm) hay văn bằng ngất ngưỡng( Th.s, không thoã đáng về chính sách) vẫn không đáp ứng được, nên tình trạng thiếu GVMN vùng ĐBSCL theo sô liệu thống kê số lượng thừa thiếu giáo viên năm học 2018-2019 tin từ BGDĐT, ĐBSCL còn thiếu 11.637 giáo viên mầm non. Đây cũng là một trong những nguyên nhân xảy ra tình trạng xâm hại trong các cơ sở GDMN.
2.4.2. Các nguyên nhân khách quan
a. Về phía các cơ quan quản lí
- Chưa có sự quản lý, giám sát chặt chẽ từ phân cấp các cơ quan quản lý:Theo phân cấp quản lý trên thực tế, lực lượng làm công tác quản lý còn nhiều rào cản từ biên chế cơ chế quy định ngành dọc (Tổ GDTH-MN, sử dụng 01 biên chế dùng chung) chưa kể tại một số địa bàn còn có nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục, dùng chung .
- Đào tạo dễ dãi; cấp phép đơn giản: Thực tế trong đào tạo vì chạy theo lợi nhuận mà bỏ quên chất lượng về đội ngũ giảng dạy, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo và chất lượng đầu vào tình trạng liên kết đào tạo tràn lan, khó kiểm soát dẫn đến chất lượng đào tạo giảm sút. Thậm chí, một vài chương trình đào tạo chứng chỉ nghiệp vụ bảo mẫu MN chỉ diễn ra vẻn vẹn 2 tháng cho đối tượng học là những người có trình độ từ THCS trở lên. GVMN mặc dù có đầy đủ bằng cấp nhưng thực tế lại thiếu kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ. Hay số ít tín chỉ trong đào tạo về Thực hành dạy học tại trường sư phạm cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng non nghề
- Phụ huynh không nhận diện được tính pháp lý về cơ sở GDMN mà họ gửi con; chưa quan tâm nhiều đến những biểu hiện của con để có những phát hiện kịp thời về xâm hại; giao phó con mình cho GV, nhưng khi có chuyện gì xảy ra với con, họ đổ hoàn toàn trách nhiệm cho GV và không có cái nhìn thông cảm, thấu hiểu, gây áp lực cho GV.
- Một bộ phận người dân chưa có cái nhìn tích cực về nghề GVMN, đánh giá thấp, thậm chí có thái độ coi thường nghề GVMN. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến GVMN thiếu đi động lực và tình yêu thương đối với trẻ.
- Các tổ chức xã hội trên địa bàn, những người dân gần cơ sở mầm non còn bàng quan, thiếu quan tâm, thậm chí vô cảm với những hành vi xâm hại trẻ. Khi sự việc bị phát hiện, họ trả lời báo chí rằng: họ biết sự việc nhưng chỉ nghĩ là các cô giáo đánh để răn dỗ con trẻ. Nếu họ đồng cảm với những người làm cha mẹ, có trách nhiệm với xã hội hơn, thì những sự việc đáng tiếc sẽ được ngăn chặn sớm.
c. Môi trường làm việc
Đặc thù nghề nghiệp về thời gian lao động của GVMN mang tính liên tục, vượt ra khỏi khuôn khổ giờ hành chính 8 giờ/ngày. Đối tượng lao động của người GVMN là trẻ em ở độ tuổi nhỏ nhất, từ 0-6 tuổi, lứa tuổi có cơ thể non nớt, sức đề kháng kém, chưa có khả năng tự bảo vệ mình, hiếu động, hay quấy khóc, ăn uống khó khăn... Nên GVMN không chỉ thực hiện nhiệm vụ giáo dục mà còn phải bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Theo báo cáo của Chính phủ, trong 6 tháng đầu năm 2019, số trẻ em bị xâm hại tăng đột biến, với 1.400 trẻ, gần bằng 80% số lượng trẻ em bị xâm hại trong cả năm 2018 (1.779 trẻ), tính trung bình cứ 1 ngày cả nước có 7 trẻ em bị xâm hại trong đó có cả bảo mẫu, GV lôi trẻ vào góc khuất camera hành hạ thương tâm và các vụ xâm hại là do trẻ ăn chậm, hiếu động, đi vệ sinh không đúng quy định. Áp lực nhiều khiến GV dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi, dẫn đến có những cảm xúc, hành vi tiêu cực với trẻ, thể hiện tâm lý “giận cá chém thớt”. CSVC một số đơn vị chưa đáp ứng đủ đồ dùng danh mục điều lệ trường MN. GVMN không có nhiều thời gian để làm ĐDĐC tự tạo bởi còn phải thực hiện kế hoạch CSGD, áp lực ngày một lớn dần thành cáo gắt dẫn đến xâm hại trẻ …
2.5. Giải pháp bồi dưỡng kỹ năng phòng chống xâm hại trẻ em cho giáo viên mầm non vùng Đồng bằng Sông Cửu long hiện nay
Một là, về phía các cơ quan quản lí, bồi dưỡng kỹ năng cho GVMN
Quán triệt nhận thức trách nhiệm cho cán bộ quản lí giáo viên mầm non, không chỉ dừng lại từ cách hiểu Luật Giáo dục, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2005).Kế hoạch hành động, phòng ngừa hỗ trợ can thiệp, bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em trong các cơ sở giáo dục giai đoạn 2020-2025 hiện hoá các nội dung trong chủ trương, nghị quyết, thông tư... “buộc phải” trở thành thói quen thông qua ý thức, thái độ, hành vi để nhận diện, kiểm soát cảm xúc, để có kỹ năng phòng ngừa khi thực hiện CSGD.Thắt chặt khâu tuyển dụng vì đây là nghề dạy học đặt thù, có cơ chế pháp lý độc lập làm rào cản răn đe trước khi xảy ra xâm hại trẻ, phòng trong quản lý, không để xảy ra rồi xử lý.
Kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng nghề cho đội ngũ CBQLGVMN theo định kỳ. Mạnh tay xử lí với các giáo viên vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Sớm có chủ chương tăng cường chính sách đãi ngộ tương xứng với ngày công lao động giúp GVMN cải thiện đời sống trước áp lực công việc. Tăng cường đầu tư CSVC đủ, đúng theo danh mục để GVMN giảm phần vất vả.
Hai là, các hình thức Bồi dưỡng cảm xúc tích cực của bản thân người giáo viên mầm non
Việc CSGD trẻ lứa tuổi mầm non đòi hỏi giáo viên phải hiểu tâm sinh lý trẻ, nắm vững về kiến thức nghiệp vụ sư phạm, chịu được áp lực, kiểm soát cảm xúc, tự tháo gỡ các khó khăn từ kiến thức khoa học giáo dục hiện đại thông qua sách, mạng internet và tham gia các buổi tập huấn, tự bồi dưỡng trước yêu cầu đổi mới của ngành học, khi chọn, làm trọng trách “trồng người” để mang lại không khí vui tươi, thân thiện giữa giáo viên với trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa các giáo viên với nhau. Đó là nền tảng để xây dựng lớp học hạnh phúc.
Ba là, giáo viên phải Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ mầm non
GVMN phải giàu kiến thức, kỹ năng CSGD mới giúp trẻ tránh khỏi xâm hại trong trường mầm non. Đồng thời cung cấp cho trẻ bước đầu có được một số kĩ năng cơ bản nhận diện,tự vệ, cầu cứu, linh hoạt ngay cả trong việc xử lí những tình huống, hành vi khi bị xâm hại, trở ngại, khó khăn mà không có người lớn, người thân ở bên cạnh, tránh được những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra. Lồng ghép GDXH trong kế hoạch CSGD qua các chủ đề phù hợp theo từng độ tuổi.
Bốn là, về phía gia đình và xã hội
Gia đình có vai trò đặc biệt quan trong đối với các hoạt động giáo dục trẻ. Cha mẹ trẻ cần phải có trách nhiệm và biết phương pháp giáo dục trẻ. Các cơ quan chức năng cần có phương thức bồi dưỡng giúp gia đình trẻ sớm thay đổi Quan niệm “trăm sự nhờ thầy cô và nhà trường” đỗ mọi trách nhiệm về nơi giáo dục quên rằng vai trò chính trong việc hình thành phát triển nhân cách được bắt nguồn từ tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ chính trong giáo dục phòng chống xâm hại trẻ. Để tạo tiền đề giúp trẻ dần bước vào môi trường giáo dục xã hội có kiến thức tự vệ tốt hơn.
4. Kết luận
Nhà giáo dục người Anh Herbert Spencer nói: "Mục đích của giáo dục không phải đáp ứng những yêu cầu cứng nhắc nhất định, mà là làm cho trẻ em trở thành một con người hạnh phúc và trong quá trình học tập trẻ cũng nên được hạnh phúc" . Bởi, khi đó giáo viên cảm thấy yêu nghề, thân thiện, yêu thương, tin tưởng, tôn trọng từ điểm đến cho đến khi thường xuyên liên tục biết tự bồi dưỡng các kỹ năng nghề sẽ góp phần ngăn chặn xâm hại trẻ len lõi vào trong trường mần non. Góp phần cho trẻ được trãi nghiệm với các kỹ năng tự phụ vụ, kỹ năng tự vệ, kỹ năng sống, biết bộc lộ những cảm xúc tích cực, thực hiện những hành vi phù hợp với quy tắc đạo đức xã hội mà trẻ tích lũy từ hình ảnh đẹp “ Cô giáo như mẹ hiền”.
Tài liệu tham khảo
- Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản thứ hai, tập 12
- Quyết định 273/QĐ-BTP năm 2018.Về Quy chế đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bộ Tư pháp Ban hành: 12/02/2018
- Luật Trẻ em 2016
- Luật Giáo dục, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2005).
- Herbert Spencer trích dẫn về giáo dục
- Thông tư số 52/2020/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành Điều lệ Trường mầm non; Ngày ban hành, 31-12-2020.
- Thông tư số 26/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non.
- Nghị định số 105/2020/NĐ-CP ngày 08/9/2020 của Chính phủ quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non.
- Quyết định số: 987/QĐ-BGDĐT,Hà Nội ngày 17 tháng 4 năm 2020 Ban hành kế hoạch hành động, phòng ngừa hỗ trợ can thiệp, bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em trong các cơ sở giáo dục giai đoạn 2020-2025
- Quyết định Số: 1472/ QĐ -TTg,Hà Nội ngày 28 tháng 9 năm 2020, ban hành kế hoạch triển khai nghị quyết số121/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020 của QH về việc tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách pháp luật về phòng chống xâm hại trẻ em.
ThS. Nguyễn Thị Mỹ Ngân
NCS, Trường Đại học Đồng Tháp
Email: [email protected]