CÁC CUỘC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM VÀ 10 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 29/NQ-TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC

Giáo dục ngày nay vô luận hoàn cảnh nào cũng phải vừa là mục tiêu vừa là động lực của Kinh tế, tác động vào quá trình Kinh tế giúp cho Kinh tế có sự tăng trưởng GDP. Nhà trường ở mỗi Cộng đồng (đặc biệt Nhà trường Đại học) phấn đấu là Vầng trán khai minh Trí tuệ Nhân dân Cộng đồng, là Trái tim hòa hợp nhân tâm Cộng Đồng, là Đôi tay dẫn dắt Cộng Đồng đi tới các tiến bộ mới. Người Thày trong mỗi Nhà trường Đại học phấn đấu hoàn thành 3 sứ mệnh: Người truyền đạo – Người giải hoặc – Người thụ nghiệp
14:00 | 28/04/2024

1. Đặt vấn đề

Giáo dục ngày nay vô luận hoàn cảnh nào cũng phải vừa là mục tiêu vừa là động lực của Kinh tế, tác động vào quá trình Kinh tế giúp cho Kinh tế có sự tăng trưởng GDP. Nhà trường ở mỗi Cộng đồng (đặc biệt Nhà trường Đại học) phấn đấu là Vầng trán khai minh Trí tuệ Nhân dân Cộng đồng, là Trái tim hòa hợp nhân tâm Cộng Đồng, là Đôi tay dẫn dắt Cộng Đồng đi tới các tiến bộ mới. Người Thày trong mỗi Nhà trường Đại học phấn đấu hoàn thành 3 sứ mệnh: Người truyền đạo – Người giải hoặc – Người thụ nghiệp, và thực hiện được 5 nhiệm vụ:

–Dạy kiến thức

– Dạy phương pháp

– Khơi gợi Động cơ

– Truyền thụ cảm hứng

– Có hoài bão xây dựng cuộc sống mới cho xã hội

CÁC CUỘC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM VÀ 10 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 29/NQ-TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC

Trong bối cảnh có “VUCA”: V(volatility): Biến đổi ; U(Uncertainty): Bất định; C(Complexity): Phức tạp ; A(Ambiguity): Mơ hồ, Người Thày của bất cứ Nhà trường nào truyền cho Người học có tinh thần 6 mọi: Học mọi nơi, Học mọi lúc, Học mọi vấn đề, Học mọi người, Học bằng mọi cách, Học trong mọi hoàn cảnh, Phấn đấu xây dựng Trường Đại học theo tinh thần Power: P (Planning): Kế hoạch, O (Organizing): Tổ chức, W (Working): Làm việc, E (Evaluating): Đánh giá, R (Recognizing): Nhận diện.

Người Thày hình thành cho sinh viên có 4 năng lực: C1(Critical thinking: Năng lực phản biện, C2(Collaboration): Năng lực hợp tác, C3(Communication): Năng lực giao tiếp, C4 (Creativity): Năng lực sáng tạo

Xin thu hoạch một số ý tưởng về Đổi mới giáo dục Đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Năm thời kỳ của Giáo dục Việt và Đặc trưng Quốc học đương đại

Giáo dục ngày nay được hiểu không chỉ có giáo dục nhà trường mà còn có giáo dục gia đình, giáo dục Xã hội. Theo nghĩa này Giáo dục Việt đã trải qua năm thời kỳ: 1) Giáo dục thời Văn Lang – Âu Lạc; 2) Giáo dục thời tiếp biến Văn hóa Hán; 3) Giáo dục thời Việt – Nho; 4) Giáo dục thời tiếp biến Văn hóa Pháp; 5) Giáo dục thời hiện đại.

Có hai thời kỳ tạo nên “Quốc học”: (i) Thời Việt Nho (năm 939- năm 1864) với các khai minh của Trần Nhân Tông – Chu Văn An – Nguyễn Trãi – Lê Thánh Tông – Quang Trung… đã góp phần làm nên sức mạnh Văn hóa Việt khẳng định quyết liệt “Sơn hà cương vực đã chia – Phong tục Bắc Nam cũng khác”. (ii) Thời Quốc học đương đại (từ 02/09/1945)… với sự tiếp thu lý tưởng “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, và nhận thức Minh triết “Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh” của Phan Chu Trinh các nhà khai phóng: Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đã kiến tạo Quốc học toàn diện có cả Quốc Văn, Quốc Ngữ, làm nên Quốc Sử hiển hách đánh bại mọi âm mưu của kẻ thù hung bạo

2.2. Ba lần Đổi mới/ Cải cách Giáo dục Việt từ 02/09/1945

2.2.1. Đổi mới Giáo dục 1.0: Chuyển Giáo dục thực dân phong kiến sang Giáo dục “Dân tộc – Dân chủ”

Sau khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ trình bày Đường lối nội chính. Về Giáo dục ông khẳng định: “Nền giáo dục đang ở thời kỳ tổ chức, chắc chắn là bậc sơ học sẽ cưỡng bách, bậc trung học không có học phí, học trò nghèo sẽ được cấp học bổng. Việc giảng dạy hết sức thiết thực, sẽ đặc biệt chú trọng đến sự rèn luyện đức tính cần thiết trong cuộc đời đoàn thể rộng rãi và năng lực kỹ thuật cần lao của con người”.

Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước VNDCCH (03/09/1945), Chủ Tịch Hồ Chí Minh đề nghị : “Mở chiến dịch chống giặc dốt”. Ngày 08/09/1945 (chưa đầy một tuần sau Tuyên ngôn Độc lập), Chính phủ ký 4 Sắc lệnh về Giáo dục:

- Sắc lệnh số 16/SL đặt ra Ngành Thanh tra giáo dục, cử ông Đặng Thai Mai làm Thanh tra Giáo dục Trung học, ông Nguyễn Hữu Tảo làm Thanh Tra Giáo dục Tiểu học.

- Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ.

- Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng, làng nào thị trấn nào cũng phải có lớp Bình Dân Học Vụ.

- Sắc lệnh số 20/SL cưỡng bức học chữ Quốc ngữ, với thời hạn một năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ.

Khai trường Năm học 1945/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi học sinh Việt nam khẳng định quyết tâm của Chính quyền mới, xây dựng Nền giáo dục để đào tạo Học sinh Việt nam thành những người công dân hữu ích, Nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của Học sinh Việt nam.

Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 43 thành lập Quỹ tự trị đại học. Sắc lệnh này nêu rõ “Việc quản trị quỹ đó do một Hội đồng quản trị gồm có ông Giám đốc Đại học vụ làm Chủ tịch, Ông Đổng lý văn phòng Bộ Quốc gia giáo dục làm Phó Chủ tịch”.

- Ngày 10/08/1946, Chính phủ ký sắc lệnh số 146/SL quy định Nền giáo dục bao gồm: Bậc học cơ bản 4 năm, Bậc học tổng quát và chuyên nghiệp, Bậc Đại học. Cùng ngày ban hành sắc lệnh 147/SL quy định bậc học cơ bản không phải trả tiền, các môn học dạy học bằng tiếng Việt…

- Kháng chiến toàn quốc (19/12/1946) có làm gián đoạn một số mục tiêu chung, nhưng ở Vùng tự do do Chính quyền Cách mạng điều hành nền giáo dục mới, tiếp tục phát triển 3 ngành: Bình dân học vụ, Phổ thông, Đại học. Từng có những cảnh tượng hào hùng:

“Có những mái trường xưa

Vừa chống càn vừa học

Giặc lui trong phút chốc

Thầy trò lại ngâm thơ”.

Năm 1950, ở Vùng tự do, tiến hành Cải cách giáo dục lần thứ nhất xác định mục tiêu đào tạo con người lấy hệ giá trị “Nhân – Nghĩa – Trí – Dũng – Liêm” là các giá trị cốt lõi của nhân cách.

Thành quả của cuộc Cải cách giáo dục lần thứ nhất đã thúc đẩy giáo dục góp phần xứng đáng vào Chiến thắng Điện Biên Phủ (tháng 5/1954), chấm dứt sự cai trị của Thực dân Pháp.

Năm 1956, Miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Chính phủ VNDCCH, tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, có mục tiêu xây dựng Nhà trường lao động với Nguyên lý giáo dục:

“Học đi với lao động

Lý luận đi với thực hành

Cần cù đi với tiết kiệm”

Thành quả của Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai là đào tạo lớp người góp phần xứng đáng vào chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh chống sự xâm lược của Mỹ, tái thống nhất đất nước (30/04/1975).

Ba tượng đài Anh hùng giáo dục mà các Cuộc cải cách giáo dục đã kiến tạo được:

• Trường cấp 2 Bắc Lý với Minh triết giáo dục “Tất cả vì học sinh thân yêu”.

• Trường Thanh niên Lao động XHCN Hòa Bình với sự tổ chức có hiệu quả “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”.

• Trường học xã Cẩm Bình đề ra phương thức Giáo dục cho mọi người và Huy động sức mạnh của Xã hội cho phát triển giáo dục. (Education for All / EFA ~ All for Education / AFE)

Cải cách giáo dục lần thứ ba tiến hành vào năm 1979.

Ngày 30/04/1975, Sài Gòn giải phóng. Tuy nhiên, qua 4 năm mới thực hiện sự hợp nhất Hệ thống Giáo dục VNDCCH và Hệ thống Gd ở miền Nam có từ trước 30/04/1975 thành Hệ thống Giáo dục quốc dân thống nhất, bao quát 5 ngành học:

- Giáo dục nhà trẻ mẫu giáo, ngày nay là Giáo dục mầm non

- Giáo dục phổ thông

- Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp

- Giáo dục đại học

- Giáo dục bổ túc – tại chức; ngày nay là Giáo dục thường xuyên

2.2.2. Đổi mới Giáo dục 2.0: Chuyển giáo dục bị chi phối bởi Kinh tế tập trung bao cấp sang Kinh tế thị trường với định hướng Xã hội Chủ nghĩa

Từ tháng 12/1986: Chuyển Động thái Giáo dục từ sự chi phối bởi Kinh tế tập trung bao cấp sang Kinh tế thị trường với định hướng Xã hội Chủ nghĩa để phát triển Giáo dục rộng khắp tiến đến Xã hội Học tập.

Tháng 12/1986, Đất nước có sự điều chỉnh chiến lược đặt ra mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường với định hướng Xã hội Chủ nghĩa.

Ngày 21/8/1987, Ngành giáo dục có sự chuyển hướng theo tổng lộ tuyến này. Nhà nước có chủ trương tái lập Trường ngoài công lập (1989).

Quảng cáo

Tháng 04/1990 Chính phủ thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở hợp nhất: Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ giáo dục.

Ngành giáo dục đào tạo từ 1990 có các giải pháp thúc đẩy Sự nghiệp giáo dục quốc dân thích ứng Đường lối Đổi mới, định hướng XHCN.

Sau thời điểm này trên đất nước tiến hành các Kế hoạch và Chiến lược theo tinh thần PPP (Public – Private Partnership): Công tư cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp phát triển Giáo dục.

Từ năm 1990, đặc biệt từ sau khi Việt Nam tham gia WTO Hệ thống Tư thục được phát triển mạnh mẽ tại các Thành phố lớn. Hiện nay đã hình thành một số Nhân tố có tính “Tập Đoàn Giáo dục” phát triển Nhà trường liên cấp từ Mầm non đến Đại học. Nhiều Doanh nghiệp lớn có đầu tư đáng kể: Xây dựng các trường chất lượng cao, các trường theo tiêu chí: “Trường học Hạnh phúc”.

2.2.3. Đổi mới giáo dục 3.0: Từ bỏ Giáo dục “Quyền uy – ban ơn” tiến đến Giáo dục “Hợp tác – Sáng tạo”

Hai lần Đổi mới Giáo dục trên dù mang lại nhiều thành tựu song ở một số nơi, một số Nhà trường tư tưởng Sư phạm quyền uy ban ơn vẫn còn nặng nề. Minh triết giáo dục “Tất cả vì Học sinh thân yêu” chưa thấm sâu vào Quá trình dạy học.

Ngày 04/11/2013, Ban Chấp hành TƯ ĐCSVN ban hành NQ Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục đào tạo… thường gọi là NQ-29/TƯ khóa XI. Nghị quyết này xác định Đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết từ tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách … Một số Nhà nghiên cứu coi đây là “Đổi mới trạng thái văn hóa của giáo dục”, kiến tạo được Nền giáo dục tiến tới tính toàn vẹn theo mục tiêu: “Giáo dục của Dân – do Dân – vì Dân”.

Bác Hồ từng đề cập trong Di chúc (1969) “Đầu tiên là công việc với con người”. Giáo dục phải hướng vào hạnh phúc của con người.

Sự phát triển giáo dục phải đặt trên phương châm: “Phát triển nhân văn” (Human Development), Đó là sự phát triển không ngừng đáp ứng nhu cầu của con người, nâng cao năng lực lựa chọn của con người và mở rộng cơ hội lựa chọn cho con người.

CÁC CUỘC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM VÀ 10 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 29/NQ-TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC

2.3. Con đường phía trước

2.3.1. Vô luận hoàn cảnh nào Giáo dục (Đặc biệt là Giáo dục Đại học) phải thúc đẩy tăng trưởng Kinh tế song là sự tăng trưởng quán triệt 5 yêu cầu cốt lõi

Giáo dục ngày nay vô luận hoàn cảnh nào cũng phải vừa là mục tiêu vừa là động lực của Kinh tế, tác động vào quá trình Kinh tế giúp cho Kinh tế có sự tăng trưởng GDP song đó là sự tăng trưởng quán triệt 5 yêu cầu sau:

- Tăng trưởng không mất việc làm

- Tăng trưởng không mất tiếng nói

- Tăng trưởng không mất lương tâm

- Tăng trưởng không mất gốc rễ

- Tăng trưởng không mất tương lai.

Nhà trường ở mỗi Cộng đồng phấn đấu là Vầng trán khai minh Trí tuệ Nhân dân Cộng đồng, là Trái tim hòa hợp nhân tâm Cộng Đồng, là Đôi tay dẫn dắt Cộng Đồng đi tới các tiến bộ mới.

Người Thày trong mỗi Nhà trường phấn đấu hoàn thành 3 sứ mệnh: Người truyền đạo – Người giải hoặc – Người thụ nghiệp, thực hiện được 5 nhiệm vụ: Dạy kiến thức – Phương pháp – Động cơ – Truyền cảm hứng – Khơi dậy hoài bão cho Trò.

2.3.2. Quốc Học Việt đương đại phấn đấu “giúp cho Dân giàu”, làm cho “Dân vui”, khích lệ cho “Dân tin” hăng hái thực hiện “lẽ sống mới”

Gần 80 năm phát triển Giáo dục của kỷ nguyên mới cho thấy:

Ở Việt Nam ngày nay dù gặp hoàn cảnh nào, nan đề gì, nút thắt gì, điểm nghẽn gì thì Giáo dục đều hướng đến mục tiêu: Phục vụ cho sự nghiệp “Dân giàu/ Dân vui/ Dân tin” hăng hái theo Lẽ sống mới làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù muốn phá hoại hòa bình, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của đất nước.

Kinh tế Đất nước ngày nay dù còn nhiều khó khăn song cố gắng cung ứng các điều kiện để mọi Công dân được đi học, học hết bậc phổ cập có cơ hội phát triển tài năng.

Hiện nay dân số Việt Nam là trên 90 triệu thì số người đi học từ Giáo dục Mầm non đến Giáo dục Đại học là trên 23 triệu (trên 1/4 Dân số).

Phường xã nào cũng có Trường Mầm non, Trường Tiểu học, Trường THCS, Quận huyện nào cũng có Trường THPT. Tỉnh thành nào cũng có Trường Cao đẳng. Một số Tỉnh thành có Trường Đại học Địa phương.

Hệ thống trường chuyên ở bậc THPT có mặt tại nhiều Tỉnh thành trên toàn quốc và gắn vào nhiều Trường ĐH.

Sự kiện tự hào là năm 2010, Ngô Bảo Châu đã làm rạng danh Trí Tuệ Việt Nam khi nhận giải thưởng Fields (Về Toán học) tương đương như giải Nobel. Ngô Bảo Châu từng là Học sinh Khối chuyên Toán trường ĐH Tổng hợp Hà Nội.

Chi cho Giáo dục từ Ngân sách Nhà nước chiếm tới 20% (Khoảng 5% GDP) tuy nhiên Gia đình Việt Nam nào cũng có tâm niệm: “Con hơn cha là nhà có phúc” nên không tiếc công, tiếc của cho sự tiến bộ của con em. Nếu tính cả chi phí của Nhà nước và các Gia đình cho việc Học tập thì con số không dừng lại ở 5% GDP mà có thể gấp tới hơn 2 lần mức đã công bố.

“Lẽ sống mới” của người Việt trong cuộc sống hôm nay là lẽ sống thực hiện được “Cần – Kiệm – Liêm – Chính” chống được lười biếng, tham nhũng, phù hoa, xa xỉ, lấy hệ giá trị “Nhân – Nghĩa – Trí – Dũng – Liêm” trong tư duy và hành động, biết Tự trọng, tự tin có hoài bão làm được việc tốt cho Đất nước. Lẽ sống này phải là nền tảng để mỗi Nhà trường, Gia đình, Cộng đồng bồi dưỡng cho con em Tu thân tích cực, Xử thế sáng khôn, Dưỡng sinh hiệu quả.

2.3.3. Các Nhà trường thấm nhuần “Tâm nguyện/ Huấn đức” của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp

Chủ Tịch Hồ Chí Minh yêu cầu toàn Đảng, toàn Xã hội quan tâm đến Giáo dục: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ Dân chủ Xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa Thầy và Thầy, giữa Thầy và Trò, giữa Học trò với nhau, giữa Cán bộ các cấp, giữa Nhà trường và Nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó.

Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp Cách mạng to lớn của Đảng và Nhân dân ta, do đó các ngành, các cấp Đảng và Chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc Nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp Giáo dục của ta lên những bước phát triển mới” (Thư gửi Ngành Giáo dục năm 1968).

Nhà Văn hóa Phạm Văn Đồng huấn thị cho các Địa phương thực hiện:

“Trường ra Trường, Lớp ra Lớp,

Thày ra Thày, Trò ra Trò,

Dạy ra Dạy, Học ra Học”

(Ông nêu năm 1980 khi đang giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Cải cách Giáo dục TW)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp xác định sứ mệnh của Giáo dục:

“Giáo dục là mục đích cuộc sống, vì con người không chỉ có sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mà còn có sứ mệnh tạo ra những giá trị văn hóa, đạo đức, thể mỹ và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội” (Tâm thư gửi Bộ chính trị năm 2009)

Tham khảo Chỉ số phát triển con người của Việt Nam theo công bố của UNDP năm 2020:

Ngày nay, Thế giới đang dùng chỉ số HDI (Human Development Index) để xác định trạng thái phát triển của mỗi đất nước. Trong HDI có 3 chỉ số thành phần:
Chỉ số Kinh tế, Chỉ số Giáo dục, Chỉ số Tuổi thọ. HDI của Việt Nam đang được đánh giá thuộc loại có mức cao (0,704), xếp thứ 117/189 Quốc gia, trong đó có sự đóng góp lớn của phát triển giáo dục.

Tư liệu

Xin dẫn ra tư liệu sau về HDI (chỉ số phát triển con người )
của các nước trong khối ASEAN:

Chỉ số phát triển con người (HDI)/Human development Index (HDI)

Xếp hạng HDI/Quốc gia Rangking HDI/Country

Chỉ số bất bình đẳng giới (GII)/Gender Inequality Index (GII)

Xếp hạng GII/Quốc gia Rangking GII/Country

Đông Nam Á – Southeast Asia

Brunei

Căm-pu-chia

In-đô-nê-xia

CHDCND Lào

Ma-lay-sia

Mi-an-ma

Phi-líp-pin

Sin-ga-po

Thái lan

Timor-Leste

Việt Nam


0,838

0,594

0,718

0,613

0,810

0,583

0,718

0,938

0,777

0,606

0,704

47/189

144/189

107/189

137/189

62/189

147/189

107/189

11/189

79/189

141/189

117/189

0,255

0,474

0,480

0,459

0,253

0,478

0,430

0,065

0,359

-

0,296

60/162

117/162

121/162

113/162

59/162

118/162

104/162

12/162

80/162

-

65/162

Trong bài "Một số Ví dụ lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", GS.TS Nguyễn Phú Trọng (Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam) đã trang trọng nhắc tới sự kiện này. Ông viết:

"Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704 thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển."

3. Kết luận

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Giáo dục và đào tạo luôn vận động, phát triển gắn liền với sự vận động phát triển của thực tiễn, của điều kiện xã hội lịch trong từng giai đoạn cụ thể, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Mười năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, mặc dù còn nhiều khó khăn, bất cập và hạn chế, nhưng nhìn chung ngành giáo dục đã bám sát thực tiễn, đào tạo được nguồn nhân lực về cơ bản đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Chỉ số phát triển người HDI của Việt Nam đã có bước phát triển mạnh, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới.

PGS.TS. Đặng Quốc Bảo - Chủ tịch Viện Trí Việt

(thuộc Liên Hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam/ VUSTA)

Yên Bái: Hội thảo Khoa học và Kỷ niệm Ngày Khoa học - Công nghệ Việt Nam 18/5/2024

Yên Bái: Hội thảo Khoa học và Kỷ niệm Ngày Khoa học - Công nghệ Việt Nam 18/5/2024

TCGCVN - Sáng 17/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái tổ chức Hội thảo Khoa học "Đổi mới phương thức hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật và các tổ chức Hội thành viên theo tinh thần Nghị quyết số 45 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và Kỷ niệm ngày Khoa học công nghệ Việt Nam 18/5/2024". Tham dự và chủ trì Hội nghị có ông Tạ Văn Long - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Bí thư Đảng đo