Câu chuyện phát triển tiếng Hán ở Việt Nam chắc cần nhiều giấy mực, sự tham gia của xã hội, và không thể chỉ gói gọn trong một hai hội thảo hay ý kiến của một vài cá nhân. Bài viết này, vốn được viết từ 2013 khi Bộ GD cải chính[[1]] việc không phổ cập tiếng Hoa, chỉ điểm lại một cách vắn tắt một số điểm nôi bật qua các tranh luận gần đây.
.jpg?md5=epx85atNesHhzBIWtdzAdg&expires=1785016348)
Ảnh minh họa
Trước hêt, cần phải khẳng định ngay rằng nhiều người không biết tiếng Hán (tiếng Hoa) vẫn viết và nói tiếng Việt rất trong sáng.
Tôi không rõ tác giả câu thơ “Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” có biết tiếng Hán không, nhưng câu thơ đó của anh rất Việt, rất trong và sáng! Ngôn từ trong câu lục bát đó đều thuần Việt, đâu chứa nhiều chất Hán văn. Nếu đọc Nam Cao, Nguyên Hồng, v.v… ta sẽ thấy các ông rất thuần Việt. Tiếng Việt và văn Việt đâu có “thụt lùi” khi viết bằng Quốc ngữ?
Phải công nhận rằng trong một số trường hợp, từ Hán Việt “đắt” hơn và súc tích hơn từ thuần Việt. Song, trong nhiều trường hợp khác, khi từ thuần Việt hoàn toàn có đủ khả năng chuyển tải thông điệp, thì tại sao cứ phải dùng từ Hán Việt hay trật tự từ của tiếng Hán: “trưng cầu dân ý” mà không phải “trưng cầu ý dân”, … khiến trật tự từ tiếng Việt bị lai căng. Tại sao cứ phải nói “yến sào” mà không phải là “tổ yến”, sao phải nói “mãi dâm” mà không nói “bán dâm”, ... “Quốc hoa”, “quốc yến” … nghe còn được, nhưng “quốc giỗ” thì cả là sự cắm râu ông nọ vào cằm bà kia rồi – đúng kiểu “Bà cụ tẩu như phi”. Một số người cố tình néo từ gốc Hán – phải chăng để khoe chữ (?).
Lỗi sử dụng từ Hán Việt thường do những nguời sính và lạm dụng chữ gốc Hán, trong khi không hiểu cặn kẽ ý nghĩa của từ. Lẫn lộn “yếu điểm” với “điểm yếu” là một ví dụ. Có trường hợp còn tai hại như “Tại điểm giao hợp của thời đại lịch sử”[[2]].
Vay mượn là hiện tượng bình thường giữa các ngôn ngữ. Một khi từ ngữ vay mượn trở thành tài nguyên của ngôn ngữ mới, chúng có thể thoát khỏi ràng buộc của ngôn ngữ gốc, có thể được sử dụng theo nét nghĩa mới, theo quy luật ngữ pháp, văn hóa của tiếng vay mượn. Ví dụ, có người bắt bẻ từ “hỗ trợ” trong câu “Chính phủ hỗ trợ họ,” là chưa đúng quy chiếu theo nghĩa gốc Hán. Song, “hỗ trợ” đã là từ tiếng Việt, mang nghĩa “giúp đỡ” một chiều và được cộng đồng người Việt chấp nhận. Người ta nói “thuyên chuyển” thay cho “thiên chuyển”. Được đa số người nói tiếng Việt chấp nhận – tức là nó đã được Việt hóa. Vả lại về nhạc tính, “thuyên chuyển” dễ nghe và dễ phát âm hơn trong tiếng Việt vì hiện tượng đồng hóa hay nhược hóa.
Đúng hơn phải nói rằng biết và sử dụng tốt ngoại ngữ, chứ không chỉ riêng tiếng Hán, sẽ làm tiếng Việt của người nói và viết THÊM trong sáng.
Chữ Hán Nôm giúp hình thành và phát triển nhân cách tốt hơn?
Nhận định đó mang tính phiến diện, chủ quan và vội vã. Nghiên cứu khoa học không thể tiến hành trong phạm vi một trung tâm ngoại ngữ nào đó. Để kết luận khoa học có sức thuyết phục, không thể lấy hiện tượng đơn lẻ thay thế hay đại diện cho cho đa số. Hệt như lấy phát biểu của một vài người rồi bảo đó là “toàn dân”.
Nhân cách được hình thành và phát triển đòi hỏi nhiều yếu tố rộng hơn rất nhiều – từ môi trường gia đình, xã hội đến cá tính mỗi đứa trẻ, ... Các nghiên cứu về giáo dục học, tâm lý học, đạo đức học đã khẳng định như vậy. “Nhân cách” hình thành và phát triển tốt không chỉ vì những học sinh này đươc học Hán nôm!
Vả lại, thế nào là “nhân cách tốt” để hình thành cũng cần được định nghĩa? Những gì một số người cho là tốt chưa hẳn đã là tốt.
Học sinh không hứng thú với việc học tiếng mẹ đẻ?
Kết luận rằng học sinh không hứng thú với việc học tiếng mẹ đẻ là do “chưa nắm vững nghĩa của những yếu tố cấu thành từ Hán Việt” là ngộ nhận và khiên cưỡng.
Giao tiếp hàng ngày và văn bản bằng tiếng Việt trong các tình huống khác nhau, từ giảng đường, công sở hành chính đến đường phố, ... ngày càng vắng từ Hán Việt. Thay vào đó là từ thuần Việt hoặc được Việt hóa đến nhuần nhuyễn. Những “lệch chuẩn” với Hán Việt không làm giao tiếp bị đảo lộn, không làm văn bản pháp luật, khoa học, văn học … viết bằng Quốc ngữ bị hiểu sai.
Học sinh không hứng thú với ngữ văn và cả những môn xã hội khác không phải vì không được học tiếng Hán … mà vì những nguyên nhân sâu xa hơn thế nhiều: Các môn KHXH đã đánh mất vai trò của mình là môn khoa học, học sinh bị gò theo những khuôn mẫu cả về phương pháp cảm thụ, tư duy, … lẫn hình thức. Vấn nạn này đã được nói đến nhiều rồi.
Đọc tác phẩm bằng nguyên tác là lý tưởng. Song, để làm được việc đó đòi hỏi trình độ ngoại ngữ, văn hóa, … của tiếng bản gôc rất cao. Không có bản dịch nào có thể chuyển tải được hoàn hảo những ý nghĩa là ‘máu thịt’ của của ngôn từ bản gốc. Chơi chữ, một thủ pháp sử dụng những thuộc tính chỉ thuộc về ngôn ngữ, văn hóa nhất định, là một ví dụ, do vậy nghĩa của nó hầu như không thể diễn đạt được một cách trọn vẹn ở ngôn ngữ khác. Thử hỏi bao nhiêu người học tiếng Hán có thể chẻ sợi tóc làm tư để hiểu cái phép ẩn dụ, hoán dụ khi phân tích nét ngang nét dọc của Hán tự; bao nhiêu người có thể thưởng thức được Shakespeare, Molière, Cervantes, v.v… bằng nguyên tác?
Những việc này nên để dành cho các nhà chuyên môn, chứ không thể cho tất cả mọi người.
.jpg?md5=5-Q7TIAVyIntw2opEC4XNg&expires=1785016348)
Nhật, Nam Hàn, … phát triển nhờ có tiếng Hán?
Nói về sự tiến bộ của Nhật, Nam Hàn, … thì cần phải nhớ rằng Nhật vươn lên thành cường quốc chính nhờ tư tưởng Meiji, du nhập cách quản trị xã hội của phương Tây. Người Nhật còn bỏ luôn Tết Trung Hoa. Trong khi đó, cũng là quốc gia trong khu vực đồng văn, tại sao Bắc Hàn ‘lận đận’ như vậy?
Trong hệ thống giáo dục của Nam Hàn, “tiêng Anh được dạy từ lớp 3 và phát triển đến THPT, cũng như trong hầu hết các trường đại học. Học sinh cấp 3 ngày càng tích cực học tiếng Anh để vào các trường đại học danh tiếng trong nước hoặc học ở nước ngoài.”[ [3]]
Tại Nhật, “Các môn học cơ bản bắt đầu cấp trung học cơ sở là tiếng Nhật, tiếng Anh, toán, và khoa học”.[[4]] Về ngôn ngữ, vì tiếng Nhật và tiếng Hán sử dụng chung tới 70-80% chữ tượng hình kanji và có nghĩa tương tự (nhưng phát âm hoàn toàn khác nhau), học sinh Nhật cần học chữ kanji là điều tất nhiên. Việc dạy tiếng Hán (như một ngoại ngữ) ở Nhật thì sao? Tổ chức phi lợi nhuận Diễn đàn, có trụ sở ở Tokyo, với muc đích thúc đẩy việc dạy tiếng Hán ở Nhật, cho biết chỉ có 10 trong số 5550 trường cấp 3 ở Nhật tổ chưc dạy tiếng Quan thoại, và Bộ Giáo dục Nhật không chủ trương xây dựng một chương trình chuẩn hóa cho tiếng Quan thoại như đối với tiếng Anh.”[[5]]
Không có chữ Hán, không nghiên cứu khoa học được?
Trong bảng xếp hạng đại học thế giới hàng năm theo ngành học, các trường đại học của Hoa Kỳ, VQ Anh, Đức, Bỉ, … , là những trường dẫn đầu ngành XH-NV [[6]] chứ không phải trường của TQ hay các nước dưới ảnh hưởng Hán văn.
Trong bảng xếp hạng top-100 trường ĐH theo ngành XHNV năm học 2015-16, điều trớ trêu là ĐH Tokyo và ĐH Hong Kong xếp thứ 44, trong khi ĐH Bắc Kinh xếp thứ 84. Nếu cần có tiếng Hán nghiên cứu khoa học XHNV mới tốt thì lẽ ra ĐH Bắc Kinh phải tốt hơn hai trường kia vì nó “Hán xịn”!
Như vậy nghiên cứu XHNV không phụ thuộc tiếng Hán. Nghiên cứu khoa học, đặc biệt nghiên cứu ngành XH-NV, đòi hỏi tự do học thuật, điều kiện, phương tiện tiếp cận vấn đề, và quyền được công bố. Đây rất có thể là nguyên nhân quan trọng nhất để ĐH Tokyo và ĐH Hongkong xếp trên ĐH Băc Kinh.
Chỉ một vài dẫn chứng đã cho thấy những nhận định về vai trò tiếng Hán là phiến diện và vội vàng, thể hiện phương pháp tư duy có vấn đề. Ngôn ngữ và tư duy có quan hệ qua lại mật thiết. Nhưng tôi không có ý nói rằng cách tư duy ấy có vấn đề là do học và đọc tiếng Hán (?)
Học ngoại ngữ nào?
Theo thống kê chính thức, ở Việt Nam, người thuộc dân tộc Hoa có chỉ có khoảng hơn 800.000 người[[7]]. Ngay tại Singapore, nơi 74,1% dân số là Hoa kiều, những người đã tìm cách chuyển ngôn ngữ học đường tại đây sang tiếng Hoa đã thất bại. Sinh thời, ông Lý Quang Diệu của Singapore, người gốc Hoa kiên quyết khước từ khi người Trung Quôc tiếp cận và vận động ông đưa tiếng Hoa vào nhà trường. Theo ông, "tương lai con trẻ phụ thuộc vào việc thông thạo dùng ngôn ngữ của những sách giáo khoa mới nhất – đó là tiếng Anh".
Trong khi mỗi thứ tiếng có vị trí nhất định trong đời sống quốc tế và được xác định là quan trọng đến mức độ nào, cảm tính chủ quan hay ý thích của chúng ta không làm thay đổi vị thế của nó.
Ngoại ngữ nào ích nước, lợi dân thì chúng ta hãy cố gắng dạy và học ngoại ngữ đó cho thật tốt, cho dù đó là tiếng của một bộ lạc thổ dân ở châu lục xa xôi.
Một số ít người, xuất phát từ những động cơ và cảm xúc riêng, vẫn hoài công tranh cãi cố tìm cách chứng minh rằng ngoại ngữ này là quan trọng hay ngoại ngữ kia kém quan trọng, đôi khi dẫn đến đố kị.
Dạy tiếng Hán là một trong các ngoại ngữ thứ hai là một chuyện, nhưng phổ cập nó lại là chuyện hoàn toàn khác. Nếu có ai đó vừa tài trợ, hãy sử dụng vào khai thác kho tư liệu Hán Nôm! Chỉ vì một món tài trợ mà thí nghiệm trên lưng con trẻ thì phải hết sức cẩn trọng, lặp lại vết xe của chương trình bilingue trước đây, đem con bỏ chợ vì “thui chó nửa mùa hết rơm”.
Về vấn đề này, tôi đã bàn trong bài Chọn ngoại ngữ nào …? (VnExpress, 24/9/2016).
Một lần được hỏi Việt Nam nên học ngoại ngữ nào, tôi đáp: “Tiếng Anh và tiếng Hoa.” Vì tiếng Hoa là của một nền văn hóa lớn thuộc văn minh phương Đông. Song, học tiếng Hoa không phải vì lo tiếng Việt không trong sáng, … và càng không phải từ những cách nhìn phiến diện đầy cảm tính của mấy thày Nho.
Qua cách hành xử trong đời sống quốc tế, Trung Quốc mới thể hiện mình là một nước to– chứ chưa phải là cường quốc theo ý nghĩa đầy đủ của khái niệm này – ông bà mình có câu chớ vội thấy đỏ đã ngỡ là chín.
Hãy cứ để tiếng Hoa ở vị trí hiện tại của nó là một trong các ngoại ngữ thứ hai tự chọn cho đến khi học sinh Việt Nam nói được ngoại ngữ thứ nhất cho ra hồn, chứ không phải nói ‘một thứ na ná tiếng Anh’ như hiện nay.
Hãy để yên cho các cháu học sinh được học thứ tiếng mà trong đó 95,9% tài liệu khoa học, công nghệ, XH-NV của nhân loại được xuất bản. Việc bình cái nghệ thuật chơi chữ Hán, cái hình tượng liễu yếu đào tơ bị anh chàng nào đó làm cho nẩy cái nét ngang ngày nay nên dành cho các thày Đồ nhâm nhi cùng bầu rượu túi thơ.
Nguyễn Phương
[1] [1] Không dạy đại trả tiếng Hoa. <http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/63994/>
[2] Trần Việt Tú (dịch). Các Mác, tiểu sử, Tập 2, NXBKHX, trong Dọn vườn Tập1: 1955-1989, tr380. NXB TRẺ, 2013.
[5] http://www.japantimes.co.jp/life/2004/01/29/language/japan-is-learning-to-love-and-loving-to-learn-chinese/#.V8aKZVt97IU
[6] https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2016/subject-ranking/arts-and-humanities-0#!/page/0/length/25/sort_by/rank_label/sort_order/asc/cols/rank_only
[7] Tổng cục Thống kê VN, 2009.