CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ - NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

TCGCVN - Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, đánh thắng Kế hoạch Nava - cố gắng cao nhất và cuối cùng của thực dân hiếu chiến Pháp và đế quốc can thiệp Mỹ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây chẳng những là một trong những trận đánh lớn nhất của thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai làm “chấn động địa cầu”, mà còn để lại nhiều bài học có ý nghĩa lớn đối với dân tộc ta và với cả thời đại, “làm thay đổi số phận thế giới”.
03:49 | 03/05/2024

Kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (ngày 7/ 5/ 1954 – 7/ 5/ 2024)

TCGCVN - Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, đánh thắng Kế hoạch Nava - cố gắng cao nhất và cuối cùng của thực dân hiếu chiến Pháp và đế quốc can thiệp Mỹ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây chẳng những là một trong những trận đánh lớn nhất của thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai làm “chấn động địa cầu”, mà còn để lại nhiều bài học có ý nghĩa lớn đối với dân tộc ta và với cả thời đại, “làm thay đổi số phận thế giới”.

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ - NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

17g30 phút ngày 7-5-1954, lá cờ "Quyết chiến quyết thắng” của quân đội ta

tung bay trên nóc hầm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ảnh: TL

Đến năm 1953, nhìn toàn cục trên chiến trường Việt Nam và Đông Dương, quân và dân ta đã giành được thế chủ động, quân Pháp lâm vào thế bị động. Thực dân Pháp với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, ỷ vào quân số còn đông, vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, lại nhận được viện trợ ngày càng tăng của đế quốc Mỹ, từ giữa năm 1953, chúng có những cố gắng mới, tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường để đàm phán trên thế mạnh, kết thúc chiến tranh bằng “con đường danh dự”.

Tháng 5 năm 1953, Chính phủ Pháp cử Trung tướng Hăngri Nava - Tổng Tham mưu trưởng lục quân Pháp, trong khối Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương, một người được coi là nhân tài quân sự trẻ tuổi của quân đội Pháp làm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. Sau khi sang Việt Nam, Nava phác hoạch ra một kế hoạch tác chiến gọi là Kế hoạch Nava nhằm trong vòng 18 tháng, giành thắng lợi quyết định về quân sự để chuyển bại thành thắng trên chiến trường. Kế hoạch Nava gồm hai bước:

Bước một: Thu Đông 1953 và Xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở miền Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 18 trở ra), giữ vững đồng bằng Bắc Bộ và Thượng Lào; đồng thời thực hành tiến công chiến lược ở Nam Đông Dương, đánh chiếm các vùng tự do của ta ở Liên khu V, bình định các vùng chúng chiếm đóng.

Bước hai: Đến Thu Đông 1954, sẽ tập trung binh lực chuyển sang tiến công chiến lược trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi quân sự to lớn, tạo thế mạnh trong đàm phán kết thúc chiến tranh.

Kế hoạch Nava được Hội đồng Quốc phòng nước Pháp thông qua và được nhà cầm quyền Mỹ ủng hộ. Đây là cố gắng cao nhất và cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Về phía Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương chủ trương tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954 theo phương châm tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, kiên quyết đánh thắng Kế hoạch Nava ngay từ khi chúng triển khai. Phương hướng chiến lược của ta là: Lấy Tây Bắc làm hướng chính, đưa đại đoàn chủ lực 316 lên Tây Bắc, tiêu diệt địch ở Lai Châu; phối hợp cùng Quân Giải phóng Pathét Lào giải phóng Phong Xa Lỳ; phá kế hoạch tập trung quân của địch, tạo thời cơ để ta tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh hoạt động ở các chiến trường, chuẩn bị điều kiện tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.

Đến mùa Thu 1953, quân Pháp tự thấy kế hoạch quân sự bước đầu thực hiện khá suôn sẻ. Nava tuyên bố huyênh hoang “chủ động”, “tiến công” và huy động nhiều binh đoàn cơ động mở những cuộc tiến công lớn ra vùng tự do của ta.

Phía ta vẫn chủ động, tích cực chuẩn bị và triển khai kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954 như đã định.

Giữa lúc bị đánh thiệt hại nặng ở các cuộc tiến công ra vùng giải phóng của ta, Bộ chỉ huy quân Pháp lại nhận được tin tình báo một đơn vị quân chủ lực Việt Nam tiến lên Tây Bắc. Không thể để mất địa bàn chiến lược Tây Bắc, Thượng Lào, ngày 20 tháng 11 năm 1953, Nava bị động cho nhảy dù 6 tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ xuống chiếm giữ Điện Biên Phủ. Năm ngày sau, Nava lại cho 6 tiểu đoàn từ Thượng Lào đánh chiếm và xây dựng phòng tuyến sông Nậm Hu để nối liền Thượng Lào với Điện Biên Phủ.

Tiếp đó Bộ chỉ huy quân Pháp lại nhận được tin có nhiều đơn vị chủ lực Việt Nam, kể cả những đơn vị thiện chiến nhất tiếp tục di chuyển lên hướng Tây Bắc. Nava thay đổi ý định, quyết xây dựng Điện Biên Phủ trở thành “pháo đài bất khả chiến bại” để giữ vùng Tây Bắc, Thượng Lào, thu hút và đánh gây tổn thất nặng nề cho quân chủ lực Việt Nam. Như thế sẽ làm thay đổi so sánh lực lượng và thế chiến lược trên toàn chiến trường.

Điện Biên Phủ nằm ở trung tâm thung lũng Mường Thanh của người Thái, là trị sở phủ Điện Biên Phủ, nơi có vị trí chiến lược về quân sự đối với vùng Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào. Quân Pháp nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ, tăng viện và xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp tại Đông Dương. Đến tháng 3 năm 1954, quân số của Pháp tại Điện Biên Phủ lên đến 16.200 quân, gồm phần lớn là các đơn vị Âu Phi tinh nhuệ, do đại tá Đờ Cát (cuối chiến dịch được phong cấp thiếu tướng) làm tư lệnh. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, bố trí thành 8 cụm cứ điểm liên hoàn. Mỗi cụm cứ điểm là một khu vực phòng ngự, một trung tâm đề kháng. Các trung tâm đề kháng này lại được liên kết với nhau thành các phân khu. Toàn tập đoàn cứ điêm được chia thành ba phân khu: Phân khu Bắc gồm 3 trung tâm đề kháng là Him Lam, Độc lập và Bản Kéo; phân khu Trung tâm gồm 5 trung tâm đề kháng mạnh; phân khu Nam có 1 trung tâm đề kháng là Hồng Cúm. Sân bay chính Mường Thanh và sân bay dự bị Hồng Cúm có thể hạ, cất cánh gần 100 lần chiếc/ngày, chuyên chở mỗi ngày khoảng 200 đến 300 tấn quân dụng và thả dù từ 100 đến 150 binh lính. Nava còn dành 80% số máy bay của Pháp ở Đông Dương cùng sự chi viện của máy bay Mỹ trên tàu sân bay ở Vịnh Hạ Long thường xuyên bắn phá các tuyến đường vận tải tiếp tế và đội hình chiến đấu của quân ta. Nhiều nhà lãnh đạo chính trị, quân sự nước Pháp cùng một số nhà lãnh đạo nước Mỹ đã đến kiểm tra Điện Biên Phủ. Họ đều tỏ ra hài lòng với việc bố trí phòng thủ ở Điện Biên Phủ.

Đến lúc này, Điện Biên Phủ cùng với đồng bằng Bắc Bộ, đã trở thành hai nơi tập trung binh lực của quân Pháp ở Đông Dương. Kế hoạch Nava bắt đầu bị đảo lộn.

Về phía ta, từ khi địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tây Bắc đã trở thành hướng tác chiến chính của ta.

Ngày 6 tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến mới của Tổng Quân ủy và quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tư lện Quân đội nhân dân Việt Nam được cử làm Bí thư Đảng ủy kiêm Tư lệnh chiến dịch Biện Biên Phủ. Ngày 5 tháng 1 năm 1954, Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ lên đường ra mặt trận.

Lực lượng tham gia chiến dịch của ta gồm 4 đại đoàn bộ binh chủ lực, Đại đoàn pháo binh, trung đoàn pháo phòng không…, tổng quân số tham gia chiến dịch là 53. 800 bộ đội cùng 260. 000 dân công và thanh niên xung phong.

Vì tầm quan trọng của chiến dịch này, Bộ Chính trị khẳng định: “toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”[1].

Theo phương án tác chiến ban đầu là “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, nhưng tình hình địch đã có những thay đổi về phòng thủ. Nhớ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi đi chiến dịch “chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh”, Tư lệnh kiêm Chính ủy Võ Nguyên Giáp sau nhiều suy nghĩ, cân nhắc thấy rằng đánh theo phương án cũ chắc chắn bộ đội ta sẽ thương vong nhiều mà khó thành công, phải chuyển sang phương án “đánh chắc, tiến chắc”; cách đánh chắc thắng phải là “vây, lấn, tiến công, tiêu diệt” đối với cả tập đoàn cứ điểm và từng phân khu, từng cứ điểm. Muốn vậy, phải tập trung binh lực, tạo ra uy thế lớn, phá vỡ các tuyến phòng ngự liên hoàn của địch, tạo thời cơ tổng công kích vào trung tâm, giành thắng lợi hoàn toàn. Phương án này được Đảng ủy mặt trận và Đoàn cố vấn Trung Quốc đồng ý thông qua vào trước khi bắt đầu chiến dịch. Phương án tác chiến mới được tuyệt đối bí mật báo cáo về Bộ Chính trị và Bác Hồ.

Thực hành chiến dịch hình thành ba đợt tiến công:

Đợt thứ nhất, đúng 17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954, cuộc tiến công bằng bộ binh có pháo binh phối hợp vào phân khu Bắc, bắt đầu là tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, ngày tiếp theo là tiến công tiêu diệt trung tâm đề kháng Độc Lập; tiếp đó quân ta uy hiếp mạnh Bản Kéo và kêu gọi địch đầu hàng. Toàn bộ tiểu đoàn ngụy Thái đóng ở đây chống lệnh bọn chỉ huy Pháp, mang theo vũ khí ra hàng. Sau 5 ngày tiến công mở đầu, quân ta đã giành thắng lợi giòn giã, tiêu diệt toàn bộ phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, diệt và bắt hàng 2.000 tên địch. Phân khu trung tâm của địch bị hở sườn.

Đợt thứ hai, bắt đầu lúc 17 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954 với cuộc tập kích dữ dội bằng pháo binh vào khu trung tâm, trong đó có các cứ điểm quan trọng ở phía Đông như A1, D1, D2, C1, C2… Đợt này, cuộc chiến đấu diễn ra gay go, quyết liệt, giành đi, giật lại từng cứ điểm, quân ta cũng bị tổn thất, nhưng ta đã chiếm được nhiều cứ điểm quan trọng. Địch bị thiệt hại nặng, phải co cụm vào trung tâm tập đoàn cứ điểm.

Đến hạ tuần tháng 4, tình hình quân địch đã trở nên nguy kịch, tinh thần suy giảm nghiêm trọng. Phía ta, sau khi bộ đội được sinh hoạt củng cố tư tưởng, hậu phương tăng cường chi viện, tinh thần và sức khỏe bộ đội nâng cao. Vòng vây của quân ta ngày càng thít chặt trung tâm đầu não của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Đợt thứ ba, mục tiêu đợt tiến công thứ ba là: Đánh chiếm những điểm cao cuối cùng ở phía Đông, tiêu diệt một số điểm khác của địch, thu hẹp hơn nữa phạm vi đóng quân và vùng trời của chúng, nắm vững thời cơ, tiến hành tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch.

17 giờ ngày 1 tháng 5 năm 1954, đợt tiến công thứ ba bắt đầu Quân ta lần lượt tiến công tiêu diệt điểm cao C1, C2, A1 và nhiều cứ điểm khác. Phạm vi chiếm đóng của địch chỉ còn không đến 1km2. Nhiều dấu hiệu quân địch đã rối loạn, mất hết tinh thần và khả năng chiến đấu. 15 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch quân ta ra lệnh cho các đơn vị lập tức mở cuộc tổng công kích vào trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Quân ta đánh đến đâu, địch giương cờ trắng đầu hàng đến đó.

17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đầu hàng. Lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho quân đội phất cao trên nóc hầm Tổng chỉ huy địch. Ngay đêm 7 tháng 5, quân địch ở Hồng Cúm gồm 2.000 tên tháo chạy ra theo hướng sang Lào. Quân ta đã bố trí chặn đánh và bắt toàn bộ cánh quân này. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

Chiến thắng Điện Biên Phủ có nhiều nguyên nhân sâu xa và trực tiếp:

Có cội nguồn từ khí thiêng sông núi, từ sức mạnh Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa lịch sử. Ít có dân tộc nào có lịch sử chống ngoại xâm giữ gìn nền độc lập, thống nhất vẻ vang như dân tộc ta. Đó là sức mạnh tiềm tàng của dân tộc. Chủ trịch Hồ Chí minh đã viết: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống qúy báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiếm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lữ cướp nước”[2].

Có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc đó mang tên là Đảng Lao động Việt Nam) đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh linh hoạt, sáng tạo, giải quyết thành công những tình huống phức tạp của thực tiễn kháng chiến. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta có sức mạnh đại đoàn kết của toàn quân, toàn dân ta từ Bắc đến Nam, từ miền ngược đến miền xuôi, từ tiền tuyến đến hậu phương trong cả nước.

Có lực lượng vũ trang nhân dân trưởng thành vượt bậc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, lập nên những chiến công rực rỡ. Từ khi ra đời, trải qua gần mười năm cách mạng và kháng chiến, đây là chiến dịch có quy mô lớn nhất, khó khăn, ác liệt nhất và có ý nghĩa chiến lược to lớn nhất. Với sự dồn sức cho trận công kiên lớn nhất này, quân và dân ta đã tạo ra ưu thế chung của chiến dịch và từng trận đánh so với địch. Các “chiến sĩ Điện Biên” với lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc, tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh của Đảng, của Bác Hồ, của các cấp lãnh đạo, chỉ huy một lòng một dạ vì nhân dân mà chiến đấu, đã chấp nhận gian khổ hy sinh, cuối cùng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, của Bác Hồ và nhân dân cả nước.

Có sự phối hợp chiến đấu chung một chiến hào, thủy chung son sắt của Đảng, Chính phủ, quân đội kháng chiến và nhân dân hai nước anh em Lào và Campuchia. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chiến dịch Điện Biên Phủ, quân dân hai nước Lào và Campuchia đã phối hợp chiến đấu trên các chiến trường ở hai nước anh em. Nhân dân Lào còn giúp cho chiến dịch Điện Biên Phủ hàng nghìn tấn gạo.

Có sự viện trợ quý báu của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là của Trung Quốc, Liên Xô, trực tiếp là Trung Quốc và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới. Tính chung trong chiến dịch, Trung Quốc, Liên Xô đã viện trợ cho ta nhiều vũ khí, khí tài, có cả các loại hiện đại như trọng pháo, hỏa tiễn, máy thông tin cùng nhiều quân trang, quân dụng.

Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với dân tộc ta và đối với thời đại:

Với dân tộc ta: Chiến thắng Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược giáng đòn quyết định đập tan ý chí xâm lược của thực dân hiếu chiến Pháp và can thiệp Mỹ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hội nghị Giơnevơ gồm Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và các nước hữu quan bàn về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã khai mạc sau chiến thắng Điện Biên Phủ một ngày. Ngày 21 tháng 7 năm 1954 Hiệp định đình chiến Đông Dương được 8/9 đoàn đại biểu ký kết, riêng đoàn đại biểu Mỹ không ký kết, nhưng ra tuyên bố riêng cam kết tôn trọng Hiệp định. Hiệp định Giơnevơ quy định: Các nước tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, các bên đình chỉ chiến sự và Pháp rút hết quân khỏi ba nước Đông Dương; Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, tháng 7 năm 1956, sẽ tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặt nền tảng vững chắc cho nhân dân ta tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước đến toàn thắng, giành hòa bình, độc lập, thống nhất vào mùa Xuân năm 1975. Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ là một quá trình liên tục tất yếu và mỗi chiến thắng trước đều là tiền đề và các chiến thắng sau đều là sự củng cố thắng lợi của các chiến thắng trước.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là mốc son chói ngời tô thắm truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta. Sau này, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đánh gía: “Trận Điện Biên Phủ vĩ đại đã được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX”[3].

Đối với thế giới: Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ cũng là chiến thắng của tình đoàn kết ba dân tộc Đông Dương: Việt Nam, Lào, Campuchia. Với Hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp đã buộc phải thừa nhận quyền độc lập của Lào, Campuchia và phải rút quân viễn chinh khỏi Đông Dương, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản để cách mạng Lào và Campuchia phát triển sang một giai đoạn mới.

Chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, thức tỉnh và góp phần quan trọng vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kiện “chấn động địa cầu”, không chỉ vì đó là một trong những trận đánh lớn nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mà quan trọng hơn, bởi ý nghĩa lịch sử vĩ đại của chiến thắng đó “làm thay đổi số phận thế giới”, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, thức tỉnh khát vọng và niềm tin vào tương lai tốt đẹp của hàng nghìn triệu người bị nô dịch, góp phần quan trọng vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.

Chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Trong thời đại ngày nay. Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nếu có một Đảng mác - xít chân chính lãnh đạo với đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định đánh thắng được chiến tranh xâm lược của kẻ thù dù chúng lớn mạnh hơn nhiều lần.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã qua 70 năm, nhưng mốc son lịch sử đó mãi mãi sống động, tiếp tục soi sáng cho dân tộc ta trên các chặng đường cách mạng. Một dân tộc như dân tộc ta có bề dày dựng nước và giữ nước, có truyền thống vẻ vang như chiến thắng Điện Biên Phủ, hiện nay, thế nước đang lên, nhất định chúng ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Danh mục tài liệu tham khảo

Quảng cáo
  1. Báo Nhân Dân, ngày 22 - 24 tháng 6 năm 1954, ngày 6 tháng 5 năm 1964.
  2. Báo Quân đội nhân dân, ngày 6 tháng 5 năm 2004.
  3. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1996.
  4. Ban nghiên cứu lịch sử quân đội, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tập I.
  5. Bộ Quốc phòng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tập IV.
  6. Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng, Một số văn kiện chỉ đạo chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
  7. Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tập 2.
  8. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
  9. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006.
  10. PGS, TS Vũ Như Khôi, TS Nguyễn Văn Hữu, ThS Trần Thị Thái, Chiến dịch Điện Biên Phủ - Thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014.
  11. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 7.
  12. Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 1994.

PGS. TS. NGƯT Vũ Như Khôi

Nguyên PCN Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị


[1] . Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng, Một số văn kiện chỉ đạo chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 88,

[2]. Hồ Chí Minh, to ập, Nxb Chính trị quốc gia, H Nội, 2011, t 7, tr. 38.

[3] . Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 90.

Yên Bái: Hội thảo Khoa học và Kỷ niệm Ngày Khoa học - Công nghệ Việt Nam 18/5/2024

Yên Bái: Hội thảo Khoa học và Kỷ niệm Ngày Khoa học - Công nghệ Việt Nam 18/5/2024

TCGCVN - Sáng 17/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái tổ chức Hội thảo Khoa học "Đổi mới phương thức hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật và các tổ chức Hội thành viên theo tinh thần Nghị quyết số 45 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và Kỷ niệm ngày Khoa học công nghệ Việt Nam 18/5/2024". Tham dự và chủ trì Hội nghị có ông Tạ Văn Long - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Bí thư Đảng đo