Tóm tắt:
Chương trình giáo dục là pháp lệnh, sách giáo khoa là tài liệu chính thức dùng để dạy và học trong các trường phổ thông.
Chương trình giáo dục và sách giáo khoa là sản phẩm của khoa học giáo dục, có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông, không phải là học liệu thông thường.
Đổi mới chương trình và sách giáo khoa là việc làm có tính khoa học, có cơ sở lý luận và thực tiễn, cần phải có kế hoạch chuẩn bị bài bản, chu đáo và thực hiện nghiêm túc.
Nghị quyết số 29 TW khoá VIII về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đặt ra mục tiêu “nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát huy tiềm năng của học sinh, kết hợp dạy chữ với dạy người và định hướng nghề nghiệp” và “Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”.
Tuy nhiên cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông 2018 đang gặp phải những ý kiến trái chiều trong giáo giới, trong các nhà khoa học và quản lý giáo dục cần được trao đổi rộng rãi trong giới khoa học.
Bài báo trình bày một số vấn đề lý luận và phân tích thực trạng việc tổ chức thực hiện đổi mới về chương trình và sách giáo khoa phổ thông hiện nay, có một số kiến nghị điều chỉnh để cuộc đổi mới đi đúng trọng tâm.
Từ khóa: Chương trình giáo dục, sách giáo khoa phổ thông, cải cách giáo dục và đổi mới chương trình và sách giáo khoa, chương trình giáo dục tích hợp, phân hóa và đồng tâm.
1. Đặt vấn đề:
Nghị quyết số 29 TW khoa VIII về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội”.
Giáo dục là bộ mặt của xã hội hiện tại và là tương lai của đất nước, giáo dục thực hiện chức năng “trăm năm trồng người” và đào tạo nguồn nhân lực xã hội.
Giáo dục phải phát triển bền vững để trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế, văn hóa, xã hội.
Cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông hiện nay đang tiến hành có nhiều kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên có những ý kiến trái chiều trong dư luận xã hội, cần phải nghiên cứu để có những điều chỉnh cần thiết.
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn phát biểu cung cấp thông tin
về sách giáo khoa mới. Tại phiên thảo luận tổ ở Quốc hội sáng 25-5.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Chương trình giáo dục phổ thông
Chương trình giáo dục (Curriculum) phổ thông là bản kế hoạch tổng thể cho các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, có tính pháp lý, mọi nhà trường đều phải thực hiện nghiêm túc.
Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục phổ thông, do các nhà khoa học giáo dục - những người am hiểu giáo dục phổ thông biên soạn.
Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và cách thức đánh giá kết quả giáo dục phổ thông.
Chương trình giáo dục phổ thông được thiết kế đến từng môn học, từng khối lớp và từng cấp học.
2.2. Cải cách giáo dục và đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông:
Từ năm 1945 đến nay nước ta đã có 3 cuộc cải cách giáo dục và 2 lần đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
Mọi cuộc cải cách giáo dục đều xuất phát từ yêu cầu của lịch sử phát triển đất nước, được tiến hành để xây dựng mục tiêu, nguyên lý giáo dục, cơ cấu lại hệ thống giáo dục, đồng thời xây dựng chương trình và sách giáo khoa cho phù hợp với giai đoạn mới.
Đổi mới chương trình và sách giáo khoa là hoạt động có tính chu kỳ nhằm phát triển chương trình, bổ sung, hoàn thiện, làm mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại, với trình độ phát triển của giáo dục thế giới, cũng như những yêu cầu của thực tiễn xã hội.
Ba cuộc cải cách giáo dục:
- Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất được tiến hành vào năm 1950, chuyển từ hệ thống giáo dục 12 năm của Pháp sang hệ thống giáo dục 9 năm để kịp thời đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược. Với phương châm “ít mà tinh” nhà trường đã dạy những gì cần thiết nhất cho người học để có thể kịp thời tham gia đóng góp công sức cho cuộc kháng chiến mau chóng giành thắng lợi.
- Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai tiến hành vào năm 1956 ở miền Bắc, sau Hiệp nghị Geneva lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hệ thống giáo dục phổ thông miền Bắc chuyển từ hệ 9 năm trong kháng chiến sang hệ 10 năm. Ở lần cải cách này, cơ cấu hệ thống, chương trình giáo dục, sách giáo khoa được xây dựng theo mô hình giáo dục của các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ. Với mô hình này, giáo dục miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Nhiều học sinh, sinh viên của thời kỳ này đã trở thành lực lượng nòng cốt trong bộ máy quản lý, lãnh đạo đất nước, quân đội, những chiến sĩ anh dũng trên chiến trường, những tướng lĩnh tài ba và các nhà khoa học, chuyên gia, kỹ thuật viên sáng tạo có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội.
- Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 được tiến hành năm 1979 sau khi đất nước thống nhất. Hệ thống giáo dục phổ thông chuyển từ hệ 10 năm sang hệ 12 năm theo mô hình của các nước phát triển. Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn này cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn cả về quy mô và chất lượng, từng bước hiện đại hóa chương trình, nội dung, phương tiện, phương pháp giáo dục, từng bước tiệm cận với trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Học sinh Việt Nam đã đạt được nhiều giải cao khi tham dự các kỳ thi quốc tế, nhiều nhà khoa học tài năng đã được quốc tế công nhận. Giáo dục đã đóng góp nhiều công sức và trí tuệ cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ cho sư nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Hai lần đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông:
- Lần thứ nhất vào năm 2000, điểm nhấn của cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa lần này là giáo dục trung học phổ thông được phân thành hai ban: ban khoa học tự nhiên và ban khoa học xã hội. Ngay từ lúc triển khai đã có chuyên gia đặt câu hỏi: tại sao chỉ có hai ban, trong khi ở nhiều nước có tới hàng chục ban ? Một thời gian ngắn sau đó đã xuất hiện thêm một ban mới có tên gọi là “ban cơ bản”, các nhà quản lý giáo dục coi đây là giải pháp điều chỉnh”ngoạn mục”, còn giới chuyên môn thì cho rằng chương trình phân ban đã quay về số “0”. Thật vậy, ngay từ lúc này các trường trung học phổ thông chỉ còn dạy theo chương trình “ban cơ bản", chương trình phân ban kết thúc vào năm học 2014 - 2015.
- Năm 2018 nước ta lại tiến hành đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát huy tiềm năng của học sinh, kết hợp dạy chữ với dạy người và định hướng nghề nghiệp. Đó là mục tiêu đúng đắn, cần được nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để thực hiện thành công.
Điểm nhấn của chương trình giáo dục phổ thông 2018 là dạy tích hợp ở cấp trung học cơ sở và biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa.
2.3. Thiết kế chương trình giáo dục phổ thông:
Thiết kế chương trình giáo dục phổ thông là công việc có tính khoa học, nghiêm túc. Để thiết kế chương trình giáo dục phổ thông các nhà khoa học cần nghiên cứu nắm vững triết lý giáo dục, chiến lược phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, lý luận về giáo dục và đào tạo, đặc điểm tâm, sinh lý và đặc điểm nhận thức của học sinh các lứa tuổi, phân tích ưu, nhược điểm của chương trình giáo dục hiện hành, khảo sát những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong hoạt động giáo dục ở các địa phương, tham khảo chương trình giáo dục của các nước phát triển trên thế giới…
Thiếu một trong các thông tin trên có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng chương trình và kết quả thực hiện chương trình, các cuộc đổi mới chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông vừa qua đã chứng minh điều đó.
Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn giáo dục thế giới và Việt Nam cho thấy có ba hướng thiết kế chương trình giáo dục phổ thông đó là: tích hợp, phân hóa và đồng tâm.
- Hướng thứ nhất: Thiết kế chương trình giáo dục theo hướng tích hợp là lồng ghép nội dung kiến thức của các môn học khác nhau tạo thành một môn học mới (môn tích hợp) để giảng dạy, nhằm giúp học sinh huy động tổng hợp kiến thức của các môn học để thực hiện các nhiệm vụ học tập và vận dụng vào cuộc sống, từ đó phát triển năng lực tư duy tổng hợp và năng lực hoạt động sáng tạo.
Các môn học được sử dụng để thiết kế chương trình theo hướng tích hợp phải cùng một lĩnh vực, hoặc liền kề, hoặc có nội dung giao thoa với nhau, không thể tích hợp các môn học có kiến thức quá xa nhau, như Mỹ thuật với Âm nhạc ở tiểu học, Vật lý với Hóa học và Sinh học, Lịch sử với Địa lý ở trung học cơ sở…
Trên thế giới và ở Việt Nam chương trình giáo dục tích hợp được thiết kế cho cấp tiểu học, đây là cách làm rất phù hợp và có hiệu quả cao, bởi vì kiến thức ở tiểu học là kiến thức phổ thông, sơ đẳng (Elementary) gần gũi với cuộc sống xung quanh trẻ em. Học sinh tiểu học mới bắt đầu làm quen với việc học, phương pháp nhận thức còn mang tính cụ thể, trực quan, khi khai thác mối liên hệ kiến thức, kỹ năng giữa các phần trong một môn hay giữa các môn học giúp các em huy động tổng hợp kiến thức để nhận biết, để giải thích, để vận dụng, thực hành… từ đó mà nắm sâu kiến thức mới và hình thành kỹ năng mới.
Ở cấp tiểu học các môn học tích hợp đã được thiết để kế giảng dạy rất có hiệu quả như: Tiếng Việt, Khoa học… đã làm giảm đầu môn học, giúp trẻ em đỡ phải mang nặng ba lô sách vở đến trường.
- Hướng thứ hai: Thiết kế chương trình theo hướng phân hóa là thiết kế nội dung dạy học thành các môn học độc lập có hệ thống khái niệm, có đối tượng nghiên cứu riêng, có phương pháp nghiên cứu và học tập đặc thù. Chương trình giáo dục phân hóa giúp học sinh đi sâu vào từng lĩnh vực khoa học để đinh hướng nghề nghiệp, chọn nghề, để tiếp tục học ở bậc cao hơn.
Thông tin khoa học hiện đại rất đồ sộ, đang phát triển theo cấp số nhân, mỗi khoa học nghiên cứu một khía cạnh của thế giới và có xu hướng phân hóa ngày càng nhỏ, càng sâu, hiện nay trong kho tàng tri thức nhân loại có tới hàng nghìn lĩnh lực, chuyên ngành khoa học.
Nội dung mỗi môn học được chọn lọc từ thành tựu của khoa học tương ứng, được thiết kế cho phù hợp với trình độ của học sinh. Cấp học càng cao nội dung dạy học càng phân hóa thành nhiều môn học, nhiều chuyên ngành để nghiên cứu sâu vào các lĩnh vực khoa học mới.
Từ rất lâu chương trình giáo dục ở cấp trung học cơ sở được thiết kế thành các môn học độc lập như: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Công nghệ… Trình độ nhận thức của học sinh trung học cơ sở đã có nhiều tiến bộ, có khả năng tư duy phân tích để nắm sâu kiến thức của từng môn học. Việc thiết kế chương trình phân hóa ở cấp trung học cơ sở đã qua cho thấy học sinh học tốt, có chất lượng và hiệu quả, không có gì đáng lo ngại, hay phê phán.
Hiện nay trên thế giới có một số nước tổ chức dạy tích hợp ở cấp trung học cơ sở, việc này cần được nghiên cứu kỹ để có thể áp dụng vào hoàn cảnh thực tế ở nước ta.
Ở Việt Nam hiện đang tổ chức dạy tích hợp ở cấp trung học cơ sở nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn, đang gây ra nhiều ý kiến khác nhau trong dư luận xã hội, cả trong giáo giới và các nhà chuyên môn.
Lý do là cuộc đổi mới chưa được chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để thực hiện: chưa có sách giáo khoa tích hợp theo đúng nghĩa, chưa có giáo viên được đào tạo chuyên sâu để dạy tích hợp, chưa lưu ý đến những khó khăn về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa… đã gây khó cho cả thầy và trò trong việc dạy và học. Đây là điểm nghẽn trong đổi mới chương trình giáo dục cần phải tháo gỡ.
- Hướng thứ ba: Thiết kế chương trình theo hướng đồng tâm là nâng dần mức khó của các môn học theo từng lớp, từng cấp học. Ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông có các môn học cùng tên, nhưng độ khó của nội dung đã được nâng lên cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh và còn tiếp tục nâng lên ở các bậc học sau.
Chương trình đồng tâm được sử dụng phối hợp với chương trình tích hợp và phân hóa của từng lớp, từng cấp học, giúp học sinh nối mạch tư duy để nhận thức các khoa học hiện đại.
Một nguyên tắc rất quan trọng cần được quán triệt trong thiết kế chương trình giáo dục đó là tích hợp ở cấp học dưới, phân hóa ở cấp học trên và nâng dần mức độ khó theo từng lớp, từng cấp học.
2.4. Biên soạn sách giáo khoa:
Sách giáo khoa là tài liệu chính thức dùng để dạy và học trong trường phổ thông. Sách giáo khoa góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học trong nhà trường. Cần phải khẳng định rằng dạy và học không thể thiếu sách giáo khoa, chính vì điều đó mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa.
Sách giáo khoa phổ thông thể hiện chi tiết nội dung môn học có trong chương trình giáo dục đã ban hành. Nội dung sách giáo khoa ngoài hệ thống kiến thức và kỹ năng môn học, còn có những thí dụ, hình ảnh minh họa, nhiều bài tập, thực hành, nhiều câu hỏi củng cố, ôn tập, kiểm tra… trong đó quan trọng nhất là những định hướng, những gợi ý về phương pháp dạy và học, đây chính là tính sư phạm – một giá trị quan trọng của sách giáo khoa phổ thông, đây là công lao của các tác giả viết sách, đáng được trân trọng.
Không được hạ thấp vai trò của sách giáo khoa như một học liệu thông thường, mà đây là sản phẩm độc đáo, là sự kết hợp hài hòa giữa khoa học cơ bản và khoa học sư phạm do các nhà khoa học giáo dục và các giáo viên giỏi, có kinh nhiệm của các trường phổ thông biên soạn cho thầy dạy và cho trò học.
Sách giáo khoa tích hợp là sách giáo khoa đặc biệt, được biên soạn theo các chủ đề, chủ điểm… để giúp học sinh huy động tổng hợp kiến thức của các lĩnh vực khác nhau để tìm hiểu, giải quyết các nhiệm vụ học tập. Sách giáo khoa tích hợp không phải là sách ghép cơ học vài ba môn học vào một quyển sách mới để các thầy cùng dạy song song.
Ở nhiều quốc gia phát triển sách giáo khoa được phát miễn phí, hoặc cho học sinh mượn sử dụng, có nghĩa là xuất bản sách giáo khoa không vì lợi nhuận.
Trong cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa lần này Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa, với lời giải thích là nhằm xã hội hóa và chống độc quyền xuất bản.
Có nhiều bộ sách giáo khoa để giáo viên và học sinh tham khảo là điều rất tốt, tuy nhiên trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay chưa phù hợp. Không phải phụ huynh nào cũng có đủ tiền mua nhiều bộ sách cho con em học tập, không phải giáo viên nào cũng có nhiều bộ sách đặt trên bàn làm việc, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo…còn thiếu nhiều điều. Vì vậy nên chọn ra một bộ sách có chất lượng tốt nhất để giảng dạy thống nhất trong cả nước, để làm căn cứ cho kiểm tra, đánh giá, thi cử…
Bộ sách giáo khoa có chất lượng tốt thể hiện ở: tính khoa học, hiện đại, cập nhật, mới mẻ, tính thực tiễn, tính sư phạm, tính vừa sức đối với học sinh, hình thức trình bày đẹp, có minh họa đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật, giá thành phù hợp, được xã hội, nhà trường chào đón, thầy và trò hài lòng sử dụng có hiệu quả…
Các bộ sách còn lại đã xuất bản nên đưa lên mạng làm sách giáo khoa điện tử cho thầy và trò tham khảo, sử dụng, cách này là phù hợp nhất trong thời đại bùng nổ thông tin.
Hiện nay ở nhiều nước có xu hướng sử dụng sách giáo khoa điện tử. Năm học 2021-2022, Bộ Giáo dục Nhật Bản đã cho triển khai dự án thí điểm sử dụng sách giáo khoa điện tử tại 40% trường tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước đã cho kết quả tốt và họ có kế hoạch từ năm 2024 sách giáo khoa điện tử sẽ được sử dụng song song với sách giáo khoa in trên giấy.
2.5. Vai trò của đội ngũ nhà giáo:
Trên thế giới có những quốc gia có một chương trình nhưng có nhiều bộ sách giáo khoa như Trung Quốc và cũng có những quốc gia chỉ có chương trình mà không có sách giáo khoa như Australia, New Zeland, ở đó giáo viên có thể sưu tầm các nguồn tài liệu khác nhau, kể cả sách giáo khoa từ các quốc gia khác để giảng dạy.
Trước khi lên lớp giáo viên phải soạn giáo án hay còn được gọi là bản thiết kế giờ học. Để soạn giáo án giáo viên phải nghiên cứu nắm vững chương trình môn học, nắm vững nội dung sách giáo khoa, tìm chọn tài liệu tham khảo, mở rộng, tìm các thí dụ thực tế để minh họa, soạn các bài tập thực hành, thí nghiệm... Nội dung giáo án có thể vượt tầm nội dung và phương pháp sư phạm của sách giáo khoa, đó chính là năng lực của đội ngũ nhà giáo.
Ở bất kỳ thời đại nào giáo viên luôn là nhân tố quyết định phương hướng và chất lượng giáo dục, người gợi mở, dẫn dắt học sinh tư duy sáng tạo trong học tập và thực hành để trở thành người lao động giỏi.
Từ lý luận và thực tiễn giáo dục cho thấy cải cách giáo dục, hay đổi mới chương trình và sách giáo khoa chỉ phát huy được hiệu quả khi có đội ngũ nhà giáo có đủ phẩm chất và năng lực sư phạm thực hiện.
3. Kết luận, kiến nghị:
Đổi mới chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa là công việc mang tính khoa học nghiêm túc, cần có kế hoạch chi tiết, toàn diện, cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện cơ sở vật chất trước khi tiến hành đổi mới.
Chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông là sản phẩm của các nhà khoa học giáo dục, nhũng người nắm vững lý luận và thực tiễn giáo dục phổ thông biên soạn.
Tác giả viết sách giáo khoa nên là giảng viên các trường đại học sư phạm nơi đào tạo giáo viên để đổi mới giáo dục, nên là những nhà giáo giỏi đang giảng dạy ở các trường chuyên, trường năng khiếu, trường chất lượng cao, có nhiều kinh nghiệm trong giáo dục, bồi dưỡng tài năng trẻ, cùng phối hợp với các nhà khoa học cơ bản, hay chuyên ngành biên soạn.
Ở thời điểm hiện nay cần có một bộ sách giáo khoa dùng chung cho cả nước, để thống nhất về nội dung giảng dạy và tạo thuận lơi cho việc thanh tra, kiểm tra, đánh giá, thi cử. Những bộ sách đã xuất bản còn lại đưa lên mạng làm sách giáo khoa điện tử cho giáo viên và học sinh tham khảo sử dụng.
Để xã hội hóa việc viết sách giáo khoa nên tổ chức thi viết sách giáo khoa, với những quy định chặt chẽ về các tiêu chí chất lượng sản phẩm, có phần thưởng tinh thần và vật chất xứng đáng, chắc chắn sẽ thu hút được nhiều nhà khoa học, nhà giáo tham gia và sẽ có nhiều sách giáo khoa có chất lượng tốt để sử dụng.
Trong giai đoạn hiện nay nên tạm ngừng việc dạy tích hợp ở cấp trung học cơ sở, cho đến khi các trường sư phạm đào tạo đủ giáo viên dạy tích hợp và khi đã biên soạn được một bộ sách giáo khoa tích hợp, cũng như chuẩn bị đầy đủ các điều kiện vật chất để thực hiện.
Tài liệu tham khảo
- Amy Benjamin, 2013. Differentiated Instruction – A Guide for Middle and High School Teachers. Routledge, New York.
- Cash, Richard M., 2017. Differentiation: Thinking and Learning for the 21st Century, Free Spirit Publishing Inc, USA.
- Gregory, G. H. & Chapman, C., 2002. Differentiated instructional strategies: One size doesn’t fit all. Thousand Oaks, CA: Corwin Press.
- Đặng Thành Hưng, 1994. “Những vấn đề về phương pháp luận của giờ học phân hoá theo nhịp độ ở bậc tiểu học”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 4, tr 6 – 8.
- Martin & Loomis, 2014. Xây dựng đội ngũ nhà giáo: Một cách tiếp cận kiến tạo để nhập môn Giáo dục học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm Viết Vượng. Giáo dục học. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2016.
- Phạm Viết Vượng. Lý luận dạy học đại học. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2012.
- Phạm Viết Vượng. Lý luận giáo dục. NXB Giáo dục Hà Nội 2014.
- Phạm Viết Vượng. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2010.
- Các trang Web giáo dục.
PGS.TS. Phạm Viết Vượng
Trường ĐHSP Hà Nội
