Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc có nhiều trước tác đóng góp cho phát triển khoa học giáo dục đất nước trên các lĩnh vực Tâm lý học, Giáo dục học, Quản lý giáo dục. Một trong những cuốn sách có tác dụng sâu sắc nhất cho lý luận và thực tiễn mà GS, VS dày công hoàn thành là cuốn “Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam”do NXB Chính trị quốc gia ấn hành. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ chia sẻ một đề xuất của GS. về Triết lý giáo dục “Giá trị bản thân” – một đề xuất dựa trên quan điểm hoạt động- giá trị.

GS Phạm Minh Hạc nhấn mạnh: Theo tôi, Triết lý giáo dục “là thực tế giáo dục đã được con người, cộng đồng, xã hội trải nghiệm - cái đã trải qua và nghiệm thấy, tức là đã cảm nhận, biết đến, hiểu ra, ý thức được- được đúc kết lại thành một giá trị, được biểu đạt trong câu ngắn gọn, ca dao, tục ngữ, cụm từ.. nhằm truyền đạt, tiếp thu và thể hiện trong cuộc sống, mang lại một giá trị nhất định cho con người, cộng đồng, xã hội duy trì và làm nảy nở cái đúng, tốt đẹp, ngăn ngừa, sửa chữa, loại trừ cái sai, cái ác và cái xấu”
Trong quá trình tìm hiểu một số triết lý giáo dục thế giới, một số tổ chức, một vài nước và ở nước ta, cũng như qua nghiên cứu lý thuyết hoạt động và Giá trị học, và đặc biệt là qua kiểm nghiệm thực tế, một phần có cả trải nghiệm của chính bản thân , GS đã đưa ra một triết lý giáo dục dựa trên quan điểm Hoạt động- Giá trị được biểu đạt trong một câu mà người đọc vô cùng tâm đắc: Triết lý giáo dục “Giá trị bản thân”! Bao quát từ tầm vĩ mô trong quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo đến tầm vi mô cá nhân người học tức là phải rất cụ thể, con người trong hoàn cảnh cụ thể. GS đưa ra quan niệm “Giá trị bản thân” được tạo thành bởi ba thành tố: Tâm lực, Trí lực, Thể lực. Triết lý giáo dục “Giá trị bản thân” hình thành, phát triển, phát huy Tâm lực, Trí lực, Thể lực đặt mục đích giáo dục là tạo nên năng lực- sức mạnh của cá nhân người học, được gọi là giá trị của từng người, tức là cái có ý nghĩa, mang lại lợi ích cho bản thân và cho gia đình, xã hội.
GS đã nghiên cứu vế giáo dục phương Đông, phương Tây, từ cổ chí kim bàn luận về ba thành tố này, kết quả những nghiên cứu và phân tích của GS là vô cùng thú vị, trong khuôn khổ bài viết này không có điều kiện để trình bày, chỉ xin đề cập đến một vài khía cạnh nội hàm triết lý giáo dục “giá trị bản thân”: Hình thành, Phát triển, Phát huy Tâm lực, Trí lực, Thể lực do GS đề xuất.
Tâm lực dùng trong nghĩa “Giá trị bản thân”: chữ Tâm có nội hàm chỉ phạm trù tinh thần (các giá trị tinh thần, giá trị văn hóa, giá trị nhân cách) và chữ Lực là sức mạnh, là ý chí. Như vậy Tâm lực là sức mạnh tinh thần, sức mạnh văn hóa, sức mạnh tâm lý, nó tạo nên cái ý chí, chí hướng, lý tưởng phấn đấu (có câu “có CHÍ thì nên). GS viết: “Tâm lực là kết quả của cả một quá trình giáo dục lâu dài, bao gồm nhiều thành tố, không chỉ có đạo đức mà còn cả trí tuệ, tình cảm nói chung, trong đó có cả tình cảm thẩm mĩ, và cả sức khỏe (có cả sức khỏe thể chất và có sức khỏe tinh thần) tham gia hình thành nên. Nói cụ thể hơn , đến một lứa tuổi nào đó, toàn bộ hoạt động giáo dục có thể phải đặt nền tảng cho việc hình thành “cái chí”, xác định mục tiêu cuối cùng của giáo dục là đào tạo con người hành động, hoạt động .
Trí lực, GS phân tích: Tri thức là công cụ làm nên giá trị con người. Người ta gọi thế kỉ giáo dục là thế kỉ ánh sáng; Người mở mang việc học được gọi là Nhà khai sáng, đem lại những công cụ tâm lý, tinh thần cho con người và xã hội. Nội dung chương trình, sách giáo khoa đưa đến cho con người vốn kiến thức khổng lồ, nếu lĩnh hội được, con người có vốn hiểu biết vô cùng quý giá, đó là một giá trị không gì so nổi, giá trị nổi bật đặc trưng của loài người. Nhưng hàng thiên niên kỉ, triết lý giáo dục từ chương, khoa cử, quan trường, học một mớ kiến thức để đi thi đã hạn chế tác dụng của tri thức, không chuyển thành các công cụ tâm lý vào công cuộc xây dựng (GS dùng là “cải tạo”) cuộc đời, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21 ở các nước phát triển đã bắt đầu có quan điểm biến tri thức thành trí năng- năng lực trí tuệ, gọi là trí thông minh. Chúng ta đều biết có thông minh sách vở và thông minh trong thực tế cuộc đời. Triết lý giáo dục nhiều quốc gia trên thế giới từ xa xưa đã khẳng định nguyên lý “Học đi đôi với hành”, giáo dục chuyển sang phương pháp dạy và học giải quyết vấn đề chính là thực học, Dạy và học phải đạt được các năng lực của người học. Bác Hồ đã từng nói: Giáo dục phải phát triển hoàn toàn các năng lực sẵn có ở các em. Với những phân tích như vậy, GS đi đến khẳng định thành tố “Trí lực” trong Giá trị nhân cách như là một đề xuất triết lý giáo dục thời nay ở nước ta. Đã đến lúc phải thay đổi, dạy không phải chỉ truyền đạt một mớ kiến thức, Học không phải nhét đầy đầu các kiến thức đó, mà Dạy và Học để có trí tuệ phát triển năng lực/ kĩ năng hành động có ích cho cuộc sống. Thực học để đi đến thực nghiệp.
Thể lực. Muốn chuyển từ vốn học vấn tri thức thành Tâm lực, Trí lực con người cần có Thể lực. Thể lực là điều kiện đầu tiên để thực hiện giá trị sống còn của con người, nó hỗ trợ cho Tâm lực và Trí lực. GS phân tích làm rõ hơn, trong giáo dục thể chất phải tạo thành một sức mạnh vật chất ở từng người học, để có thể đủ cơ sở vật chất cho Tâm lực, Trí lực phát triển, phát huy tác dụng vào cuộc sống của con người. Với ba thành tố Tâm lực, Trí lực, Thể lực tạo nên giá trị sống, thành “vốn người”- nguồn lực người.
GS nhắc nhở: vẫn phải tiếp tục phát triển một nền giáo dục toàn diện, nhưng không chỉ chú tâm vào triển khai đức dục, trí dục, thể dục, mĩ dục và nghề một cách máy móc, đơn giản mà phải nhắm tới Tâm lực, Trí lực, Thể lực hợp thành “Giá trị bản thân” gồm 4 thành tố cụ thể: Tồn tại, Hoạt động, Hưởng thụ, Cống hiến.
Triết lý giáo dục có thể ở các cấp độ khác nhau: một cá thể, một tập thể, cả một quốc gia cho cả một hệ thống giáo dục (đường lối, chiến lược, chính sách… phát triển giáo dục, thái độ đối với nhà giáo, với học trò, vận dụng vào xác định mục tiêu kế hoạch phát triển giáo dục, chỉ đạo phát triển chương trình, sách giáo khoa) đến một trường, một lớp học, một nhà giáo, một gia đình (gắn với gia phong)
Để thực hiện được triết lý giáo dục hình thành, phát triển, phát huy giá trị bản thân phụ thuộc rất nhiều vào giáo dục nhà trường. Giáo dục nhà trường lại chịu sự chi phối của quan điểm, đường lối, chính sách của Nhà nước, trong đó có ảnh hưởng của hệ giá trị Quốc gia- Dân tộc. GS chỉ rõ: Từ cấp độ Nhà nước, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước trực tiếp ảnh hưởng nhiều đến HÌNH THÀNH giá trị bản thân, còn PHÁT TRIỂN, PHÁT HUY giá trị bản thân chịu ảnh hưởng nhiều vào chính sách dùng người, chính sách lao động, chính sách trọng dụng người tài, thật sự coi trọng nhân tố con người, tạo lập môi trường xã hội thuận lợi cho giá trị bản thân mỗi con người được sinh thành, nảy nở. Nếu cả xã hội, nhất là các cấp Đảng, chính quyền các cấp thực sự đối xử với giáo dục như là quốc sách hàng đầu thì triết lý giáo dục giá trị bản thân sẽ thành hiện thực.
Từ cấp độ Nhà trường, triết lý giáo dục phải được thể hiện trước hết trong nội dung chương trình, sách giáo khoa, tài liệu dạy học, phương pháp dạy và học làm sao người học có được “giá trị bản thân” để có cuộc sống của bản thân tốt đẹp (sống tích cực: chăm học, chăm làm, sống hạnh phúc) và đóng góp cho cộng đồng, xã hội.
Gia đình có vai trò quyết định trong hình thành, và vai trò quan trọng trong phát triển, phát huy “Giá trị bản thân” của mỗi người. Giáo dục nhà trường chỉ có thể thành công khi kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. GS cũng mong muốn ba thực thể này phải phối hợp với nhau gắn bó hơn, tạo thành môi trường giáo dục thống nhất, theo một mục tiêu thống nhất là hình thành, phát triển, phát huy giá trị nhân cách. Phải có suy nghĩ và hành động thực học, thực nghiệp phát huy giá trị bản thân.
Và cuối cùng, nhân tố người học, hoạt động tích cực của người học quyết định đến việc hình thành, phát triển, phát huy giá trị bản thân. Ở đây có ba khái niệm chỉ ba quá trình: Hình thành, Phát triển, Phát huy là ba phạm trù rất quan trọng trong Giáo dục học và Tâm lý học, với ý nghĩa là triết lý giáo dục giá trị bản thân, ba quá trình này được GS diễn đạt thành 4 giá trị cụ thể: 1/ Tồn tại, 2/ Hoạt động, 3/Hưởng thụ, 4/ Cống hiến và 3 giá trị lớn: Tâm lực, Trí lực, Thể lực.
Tồn tại và hình thành: Cha Mẹ sinh ra một sinh linh, nuôi dưỡng, dạy dỗ … bắt đầu quá trình tồn tại, hình thành một cá thể, cha mẹ đã cho con người một giá trị duy nhất trên cõi đời, một giá trị không có gì có thể thay thế. Bằng giáo dục và tự giáo dục làm sao mỗi người học nhận biết được giá trị của bản thân.
Giá trị do cha mẹ cho có thành “giá trị bản thân” hay không, cái đó còn phụ thuộc vào hoạt động tích cực của mỗi người. Hoạt động là sự tự thể hiện mình và tự khẳng định mình rõ rệt nhất, hoạt động là thành phần cốt tử của giá trị bản thân, đi liền với tồn tại,
Hưởng thụ với nghĩa là cảm nhận, cảm thụ, trải nghiệm kết quả của hoạt động, kích thích chủ thể hoạt động tích cực, sống hết mình, tạo nên niềm tin vào chính mình, có bản lĩnh vượt qua khó khăn, cản trở, sống lạc quan.
Với tư cách là thành viên của cộng đồng, xã hội, trong “Giá trị bản thân” không thể thiếu giá trị đóng góp, cống hiến cho cộng đồng, xã hội. Tinh thần trách nhiệm xã hội là giá trị cao quý của con người, từ trách nhiệm với gia đình đến trách nhiệm với đất nước sẽ nâng cao giá trị của con người, đem vào giá trị bản thân một chất lượng mới, qua đó con người thể hiện mình và tự khẳng định mình rõ rệt nhất.
Như vậy, theo GS .VS Phạm Minh Hạc, triết lý giáo dục phải thấm đến từng người học, “giá trị bản thân” chính là mục đích, mục tiêu giáo dục phải đi tới từng người học, ở những lứa tuổi, trình độ, hoàn cảnh sinh sống khác nhau, dựa trên cơ sở tư tưởng là Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh; đường lối phát triển giáo dục- đào tạo là quốc sách hàng đầu của Đảng, Nhà nước, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, giáo dục là cơ sở hạ tầng xã hội – kinh tế với sứ mạng cao cả là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; phương châm là chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa.
Tiếp thu nội dung cuốn sách “Triết lý giáo dục thế giới và Việt nam” người đọc cảm nhận được sự uyên thâm, kiến thức sâu, rộng và tâm huyết của tác giả. Trước sự vận động của bối cảnh giáo dục chịu tác động của nền kinh tế thị trường, của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều cán bộ quản lý giáo dục và đồng nghiệp nhận thức rằng sách “Triết lý giáo dục thế giới và Việt nam” của GS.VS Phạm Minh Hạc có vai trò như một cẩm nang chỉ dẫn cho mọi chính khách giáo dục, nhà giáo, nhà quản lý giáo dục, thực hiện sứ mệnh của mình không bị lạc điệu với bản chất của giáo dục và không bị lạc hậu với giáo dục thế giới phát triển hiện nay.
Học trò xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc.
Hà Nội, tháng 5 năm 2024
GS. TS. NGND Nguyễn Thị Mỹ Lộc