Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trí thức hoàn toàn” Trong tác phẩm “sửa đổi lối làm việc” và giải pháp đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ trí thức hiện nay

Trên con đường đi lên của cách mạng Việt Nam còn nhiều thành phần xã hội khác nhau, không ít người vẫn mang bên mình chiếc ba lô đầy tang tích của chế độ phong kiến. Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh với bút danh XYZ đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Tác phẩm ra đời vào thời điểm này có giá trị như một nguồn tài liệu chỉnh đốn đảng, tạo ra động lực mới cho cách mạng
17:56 | 09/03/2023

1. Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về “Người trí thức hoàn toàn”

Năm 1947, cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới, đòi hỏi phải tập trung cao độ tinh thần, trí tuệ và mọi nguồn lực của xã hội chủ động tấn công địch trên các mặt trận. Vào lúc này, lĩnh vực ý thức hệ xã hội đang có sự chuyển hóa từ hệ tư tưởng của chế độ xã hội cũ sang hệ tư tưởng của xã hội mới. Trên con đường đi lên của cách mạng Việt Nam còn nhiều thành phần xã hội khác nhau, không ít người vẫn mang bên mình chiếc ba lô đầy tang tích của chế độ phong kiến. Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh với bút danh XYZ đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Tác phẩm ra đời vào thời điểm này có giá trị như một nguồn tài liệu chỉnh đốn đảng, tạo ra động lực mới cho cách mạng.

Hồ Chí Minh đã khái quát thành ba hạng khuyết điểm mà cán bộ, đảng viên ta hay mắc phải. Đó là: Bệnh chủ quan; Bệnh hẹp hòi; Bệnh ba hoa. Bệnh chủ quan là khuyết điểm về tư tưởng được Hồ Chí Minh xếp ở hạng đầu tiên. Hồ Chí Minh chỉ ra “Nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông”. Vì vậy, “chứng kém lý luận” và “trí thức một nửa” là hai vấn đề cơ bản, nổi cộm trong bệnh chủ quan.

Luận giải về hai vấn đề này, Hồ Chí Minh đã đề cập đến hai phạm trù khoa học mới, đó là “người cán bộ hoàn toàn” và “người trí thức hoàn toàn”. Ngay trong phần mở đầu của tác phẩm, Hồ Chí Minh đã viết: “Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm. Cố nhiên, những anh em đó rất quý báu cho Đảng. Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận… Những anh em đó, cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”[4, tr.234]. Khái niệm “người cán bộ hoàn toàn” được Hồ Chí Minh sử dụng nhất quán với khái niệm “người trí thức hoàn toàn”. Cũng trong tác phẩm này, Bác viết: “Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”[5, tr.235]. Trong bài nói tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ II, ngày 7 tháng 5 năm 1958, một lần nữa Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là trí thức một nửa”[7, tr.173]

Khi nói đến người trí thức hoàn toàn là để phân biệt với người trí thức không hoàn toàn hoặc là trí thức một nửa. Dưới chế độ phong kiến, với quan niệm: “Vạn ban giai hạ phẩm; Duy hữu độc thư cao”. Nghĩa là mọi nghề đều thấp kém, duy mỗi nghề đọc sách là thanh cao. Quan niệm đó đã dẫn đến sự đối lập giữa lao động trí óc với lao động tay chân, đề cao lao động trí óc hạ thấp vai trò của lao động tay chân, coi lao động trí óc là quân tử, lao động tay chân là tiểu nhân. Người trí thức trong chế độ xã hội cũ chỉ biết đọc sách, không biết thực hành các công việc trong thực tiễn. Vì vậy, họ chỉ là trí thức một nửa, trí thức không hoàn toàn.

Mặt khác, con người là sản phẩm của điều kiện xã hội lịch sử cụ thể. Trong chế độ xã hội chưa phát triển hoàn toàn thì không thể tạo ra con người phát triển hoàn toàn. Người trí thức trong chế độ xã hội cũ, do sự quy định của trình độ phát triển xã hội mà họ không thể phát triển hoàn toàn được. Chỉ khi nào giải phóng hoàn toàn xã hội cũ, xây dựng một chế dộ xã hội mới bình đẳng giữa người với người thì mới có cơ sở xã hội cho sự phát triển hoàn toàn của người trí thức.

Ngay trong phần đầu của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của trí thức: “Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều”. Nhưng tư tưởng đối lập giữa lao động trí óc với lạo động tay chân của chế độ xã hội cũ không thể một sớm, một chiều có thể thay đổi dược ngay. Tư tưởng đó được biểu hiện thành những chứng bệnh như “kiêu ngạo, lên mặt”, rất có hại cho họ, ngăn trở họ tiến bộ.

Những chứng bệnh đó đã dẫn đến hệ quả trong những năm đầu của cuộc cách mạng xã hội, tầng lớp trí thức với đa số được xuất thân trong chế độ xã hội cũ, đôi khi bị xem như lực lượng đối lập của cách mạng. Năm 1930, Xứ uỷ Trung kỳ ra chỉ thị về vấn đề thanh Đảng. Chỉ thị viết: “Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”[9, tr.157]. Mặc dù đó là nhận thức chưa đầy đủ, Trung ương Đảng đã kịp thời uốn nắn và yêu cầu Xứ uỷ Trung Kỳ phải có nhận thức đúng đắn đối với trí thức nhằm lôi kéo họ về với cách mạng và không được đẩy họ về phía khác. Nhưng trong thực tế, trí thức vẫn chưa được đặt vào hàng ngũ cùng với công – nông. Trong Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930), trí thức, tiểu tư sản, học sinh được coi “là bọn xu hướng quốc gia chủ nghĩa”[8, tr.96]. “Trong thời kỳ chống đế quốc chủ nghĩa thì bọn ấy cũng hăng hái tham gia, nhưng chỉ lúc đầu mà thôi; chúng nó không thể binh vực quyền lợi cho dân cày được, vì chúng nó phần nhiều có dây dướng với bọn địa chủ”[8, tr.96]. Đại hội II của Đảng (tháng 2-1951), đã xác định trí thức “là bạn đồng minh có thể tin cậy”[10, tr.81].

Những năm về sau, lực lượng trí thức mới được đào tạo trong chế độ xã hội mới đã chiếm đa số, vai trò của tầng lớp trí thức với cách mạng ngày càng được khẳng định, sự gắn kết giữa lao động trí óc với lao động tay chân ngày càng chặt chẽ. Ngày nay, trí thức được coi như một nguồn nhân lực chất lượng cao trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, đặc biệt là trong xây dựng nền kinh tế tri thức.

2. Sự nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về “Người trí thức hoàn toàn” với giáo dục “con người phát triển hoàn toàn”

Khái niệm “người cán bộ hoàn toàn” và “người trí thức hoàn toàn” được Hồ Chí Minh sử dụng nhất quán trong nhiều bài nói, bài viết khác nhau. Khi bàn về giáo dục quân nhân, Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm “người quân nhân hoàn toàn”. Người nói: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn mới là quân nhân hoàn toàn”[5, tr.588].

Những khái niệm mới về “người cán bộ hoàn toàn”, “người trí thức hoàn toàn”, “người quân nhân hoàn toàn” là một hệ thống khái niệm khoa học phản ánh tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh về giáo dục con người phát triển hoàn toàn. Khái niệm “người trí thức hoàn toàn” trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là một phần trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục con người phát triển hoàn toàn. Để tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trí thức hoàn toàn” và giáo dục con người phát triển hoàn toàn, trước hết cần phải làm rõ nguồn gốc và nội hàm của thuật ngữ “hoàn toàn”.

Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm học đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã viết: "Từ giờ phút này trở đi các cháu bắt đầu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam . . . một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các cháu nên những người công dân có ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các cháu". Có thể coi như đây là bản tuyên ngôn của một nền giáo dục mới, "nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có" của người đi học.

Tư tưởng giáo dục con người phát triển hoàn toàn đã được C. Mác đề cập đến: “Phải thay thế người lao động bộ phận tức là kẽ phải chịu nhiều đau khổ làm một chức năng sản xuất bộ phận bằng người lao động phát triển hoàn toàn, tức là kẽ có thể làm được nhiều loại công việc khác nhau và đối với anh ta những chức năng khác nhau do anh ta đảm nhiệm chỉ làm cho những tài năng muôn vẻ vốn có hoặc do rèn luyện mà có được của anh ta, được tự do phát triển mà thôi”[2, tr.693]. Như vậy thuật ngữ “người lao động phát triển hoàn toàn” đã được C.Mác đề cập đến.

Chúng ta thấy, giữa C. Mác và Hồ Chí Minh có sự thống nhất cao về mô hình con người phát triển hoàn toàn và phương thức phát triển hoàn toàn con người. C. Mác cho rằng, giáo dục con người phát triển hoàn toàn là làm cho “những tài năng muôn vẻ vốn có hoặc do rèn luyện mà có được của anh ta, được tự do phát triển mà thôi”. Hồ Chí Minh cho rằng giáo dục con người phát triển hoàn toàn là “làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có” của người đi học.

Theo C.Mác, con người phát triển hoàn toàn là con người của điều kiện xã hội lịch sử cụ thể. Con người tác động vào hoàn cảnh, cải tạo hoàn cảnh trong chừng mực nào thì hoàn cảnh cũng tác động vào con người, cải tạo con người trong chừng mực ấy. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác đã khái quát luận điểm mang tính phương pháp luận rằng: "Con người tạo ra hoàn cảnh trong chừng mực nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người trong chừng mực ấy".

Hồ Chí Minh gắn mục tiêu giáo dục con người phát triển hoàn toàn với mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu cuối cùng của cuộc cách mạng xã hội là vấn đề con người. Con người vừa là nhân tố quyết định của cách mạng vừa là mục tiêu của cách mạng. Giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc phải gắn với giải phóng con người. Đề cao vai trò quyết định của nhân tố con người trong mọi cuộc cách mạng, Hồ Chí Minh đồng thời rất coi trọng vai trò của giáo dục đối với sự phát triển con người. Quá trình giáo dục phát triển con người có quan hệ biện chứng với quá trình thực hiện các mục tiêu của cách mạng xã hôi. Mục tiêu phát triển con người phải tương thích với mục tiêu phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Xã hội phát triển đến đâu, con người phát triển hoàn toàn đến đó. Điều đó có thể suy ra là, không thể giáo dục con người phát triển toàn diện khi mà xã hội chưa được phát triển toàn diện.

Trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng, giáo dục con người phát triển toàn diện là cái đích mà chủ nghĩa cộng sản phải đi tới, đang đi tới và nhất định sẽ đi tới, nhưng đó là cái đích của tương lai, khi mà chủ nghĩa cộng sản đã phát triển đầy đủ. Còn "ngay bây giờ mà trên thực tiễn, muốn đạt được cái kết quả tương lai đó của chủ nghĩa cộng sản đã phát triển đầy đủ, đã hình thành vững chắc và đã hoàn toàn chín muồi rồi thì chẳng khác gì muốn dạy toán cao cấp cho một em bé lên bốn"[3, tr.41]. V.I.Lênin phê phán, đó là một biểu hiện của bệnh ấu trỉ "tả khuynh", và không thể thực hiện được. Có thể so sánh “Bệnh ấu trỉ tả khuynh", với “Bệnh chủ quan” trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Hồ Chí Minh.

Trong bài nói chuyện ở lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I. Ngày 12-6-1956, Hồ Chí Minh đã nhắc ngành giáo dục rằng: "Giáo dục cũng phải theo hoàn cảnh, điều kiện. Phải ra sức làm, nhưng làm vội không được. Từ đây ra cửa thì thứ nhất là bước thứ nhất, thứ hai mới đến bước thứ hai, rồi thứ ba mới là bước thứ ba. Vội thì ngã. Làm phải có kế hoạch, có từng bước"[6, tr.184]. Luận điểm này của Hồ Chí Minh hoàn toàn thống nhất với luận điểm của V.I.Lênin trong tác phẩm "Bệnh ấu trĩ "tả khuynh" trong phong trào cộng sản", khi phê phán về sự nóng vội trong giáo dục con người phát triển toàn diện.

3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “Người trí thức hoàn toàn” trong giáo dục, đào tạo phát triển đội ngũ trí thức hiện nay

Quảng cáo

Trí thức là những người tiêu biểu cho trí tuệ dân tộc, là nguyên khí của quốc gia. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí quan trọng và vai trò ngày càng to lớn của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước một lần nữa khẳng định vai trò to lớn của đội ngũ trí thức và nêu ra những nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết khẳng định: “Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Ðầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững”[1].

Sau 15 năm thực hiện tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, đội ngũ trí thức Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng; nhiều trí thức có trình độ cao, năng động, sáng tạo, hoạt động trong nhiều ngành, lĩnh vực quan trọng; đã tiệm cận một số nước tiên tiến trong khu vực và thế giới ở một số lĩnh vực; tích cực, chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế; từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Những thành tựu đó đã tạo cơ sở vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo của đội ngũ trí thức. Mặt khác, chính sự phát triển đó đã đặt ra những yêu cầu mới cho việc xây dựng chuẩn hoá về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới.

Tại Hội nghị Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì đã rút ra nhận định “Chất lượng của đội ngũ trí thức chưa thực sự đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thiếu trí thức đầu ngành, tổng công trình sư, trí thức có khả năng chủ trì thực hiện các chương trình, dự án nghiên cứu lớn; tỷ lệ trí thức nữ có trình độ cao chưa nhiều. Cơ cấu của đội ngũ trí thức còn bất hợp lý, phân bố không đồng đều giữa các vùng miền, các lĩnh vực, thiếu trí thức cho các vùng khó khăn, cho khu vực doanh nghiệp”. Hội nghị đã chỉ ra nguyên nhân của hạn chế đó là “chưa có chiến lược phát triển đội ngũ trí thức; thiếu cơ chế, chính sách đột phá trong trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức; việc thu hút, trọng dụng trí thức còn nhiều điểm bất cập, chưa sát với thực tiễn cuộc sống; hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu đặt ra”.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “Người trí thức hoàn toàn” trong giáo dục, đào tạo, xây dựng phát triển đội ngũ trí thức hiện nay cần phải tập trung vào những vẫn đề cơ bản như sau:

Một là, cần phải nghiên cứu làm rõ khái niệm trí thức và xây dựng tiêu chí về người trí thức hoàn toàn trong bối cảnh hiện nay

Về nhận thức cần phân biệt rõ khái niệm “trí thức” với “nhân lực khoa học và công nghệ”, “nhân lực chất lượng cao, “trí thức tinh hoa”, “trí thức nòng cốt", “người có tài năng”. Trên cơ sở nhận thức đúng về khái niệm trí thức để xác định tiêu chí về người trí thức hoàn toàn, đồng thời có cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ trí thức phù hợp với thực tiễn.

Tiếp cận theo quan điểm khoa học giáo dục hiện đại, quá trình đào tạo, xây dựng phát triển đội ngũ trí thức hiện nay cần gắn kết tư tưởng về “Người trí thức hoàn toàn” với tư tưởng đào tạo “con người phát triển hoàn toàn”. Theo đó, trong đào tạo phải coi trọng nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, làm cho những khả năng vốn có hoặc do rèn luyện mà có được của người học được tự do phát triển hoàn toàn trong môi trường sư phạm có định hướng. Đó là con đường để đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức có trình độ cao trong bối cảnh hiện nay.

Quá trình đào tạo, xây dựng phát triển đội ngũ trí thức trong xu hướng hội nhập, hợp tác quốc tế và bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cần phải xác định mô hình mục tiêu của “người trí thức hoàn toàn” với các tiêu chí cụ thể. Trong đó không chỉ coi trọng các tiêu chí về trình độ học vấn, mà còn phải coi trọng các tiêu chí về trình độ trải nghiệm thực tiễn, về tin học và ngoại ngữ cho từng loại đối tượng. Đặc biệt, cần phải xác định được tiêu chí cho sự phát triển hoàn toàn khả năng cá nhân của người được đào tạo.

Hai là, người trí thức trong phải thường xuyên học tập, không ngừng nâng cao trình độ lý luận, khắc phục “bệnh kém lý luận, khinh lý luận”

Hiện nay, một bộ phận cán bộ trí thức, kể cả các giảng viên ở các nhà trường đại học còn lười học, lười nghiên cứu lý luận. Có hai loại lý luận, đó là lý luận chính trị và lý luận về khoa học chuyên ngành. Về lý luận chính trị, một bộ phận cán bộ, giáo viên có biểu hiện xem thường lý luận chính trị, thậm chí đòi loại bỏ các môn lý luận chính trị ra khỏi nhà trường đại học. Việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước còn mang tính hình thức. Trong giảng dạy, nghiên cứu có một số giảng viên đã bộc lộ những yếu kém về lý luận như nhận thức không đầy đủ, không đúng, thậm chí còn hiểu sai quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng.

Bệnh lười học lý luận khoa học chuyên ngành được biểu hiện ra bằng sự không tham gia nghiên cứu khoa học. Một số giảng viên đại học chỉ có tham gia giảng dạy, lười nghiên cứu khoa học dẫn đến các kiến thức bị lạc hậu, phương pháp giảng dạy chủ yếu theo kinh nghiệm, không cập nhật trình độ phát triển của lý luận chuyên ngành, không cập nhật lý luận của khoa học giáo dục.

Những hạn chế nêu trên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả giảng dạy, nghiên cứu và kết quả đào tạo của nhà trường. Đây thực sự đang là yêu cầu cấp thiết và là “mệnh lệnh” đối với những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu lý luận ở các nhà trường, học viện hiện nay. Thực trạng “bệnh lười học, lười nghiên cứu, bệnh kém lý luận” đó đòi hỏi đội ngũ trí thức đang giảng dạy, nghiên cứu lý luận ở các nhà trường, học viện phải tích cực, tự giác, không ngừng học tập làm giàu vốn tri thức lý luận của mình nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình”.

Ba là, người trí thức phải hướng hoạt động nghiên cứu khoa học của mình vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn theo chức trách được giao

Những kiến thức lý luận mà người trí thức tích lũy được trong quá trình học tập, nghiên cứu phải được vận dụng vào giải quyết những vấn đề thực tiễn theo chức trách nhiệm vụ được giao. Với tư các là người giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị, trong giảng dạy, kiến thức lý luận mà giảng viên truyền thụ phải hướng mạnh vào việc lý giải và làm sáng tỏ những vấn đề của thực tiễn, nhất là những vấn đề mới, những bức xúc mà thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra, cung cấp cho người học những thông tin mới, những kiến thức thuộc lĩnh vực mà họ đang thiếu, đang cần. Trong giáo dục lý luận chính trị, không được né tránh, hoặc phân tích, lý giải một cách qua loa, thiếu tính thuyết phục những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong thực tế. Do vậy, người trí thức làm công tác giảng dạy lý luận trong các nhà trường, học viện phải nghiên cứu tìm tòi, không ngừng làm giàu vốn tri thức của mình để có năng lực tư duy, trình độ lý luận sắc bén, có thông tin kịp thời, chính xác từ thực tiễn, để phân tích, lý giải một cách khoa học, qua đó, giáo dục, tạo niềm tin khoa học cho người học, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng, đồng thời, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội trước những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra.

Bốn là, người trí thức phải biết tạo ra sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, thông qua tổng kết thực tiễn mà bổ sung, phát triển lý luận

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh viết: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Lý luận không phải là cái gì khô cứng, bất biến mà ngược lại nó chỉ sống được trong thực tiễn khi nó luôn được bổ sung, cập nhật những kết luận được rút ra từ sự phát triển của thực tiễn.

Những sản phẩm lý luận ngay từ khi ra đời đã bộc lộ những bất cập và đã “tụt hậu” ở những mức độ khác nhau so với sự vận động của thực tiễn. Trong bối cảnh thời đại ngày nay, cùng với sự vận động biến đổi nhanh của thực tiễn xã hội là những thành tự của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm cho lượng thông tin khoa học ngày càng tăng nhanh. Những thông tin mới nhanh chóng bị lạc hậu, được thay vào đó bằng những thông tin mới hơn. Vì thế, các nhà trí thức giảng dạy, nghiên cứu luận ở các nhà trường, học viện phải thường xuyên quan tâm nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, kịp thời tiếp thu thông tin từ thực tiễn, khái quát phát triển thành lý luận để bổ sung làm mới thêm lý luận.

Đấy là con đường tạo nên sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn và cũng là con đường đào tạo, bồi dưỡng phát triển “người trí thức hoàn toàn” theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay.

Tài liệu tham khảo

  1. Ban chấp hành Trung ương (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy, BCHTƯ khóa X, Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, số 27-NQ/TW, Hà Nội, ngày 06 tháng 8 năm 2008
  2. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr.693
  3. V.I.Lênin, Bệnh ấu trĩ "tả khuynh" trong phong trào cộng sản, Toàn tập, Tập 41, Nxb Tiến bộ Mát- xcơ-va. 1978. trang 41
  4. Hồ Chí Minh, “Sửa đổi lối làm việc”, Toàn tập, Tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 234.
  5. Hồ Chí Minh, “Thư gửi quân nhân học báo”, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr. 588.
  6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002, trang 184
  7. Hồ Chí Minh “Bài nói tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ II”, Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2002, tr. 173.
  8. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 96.
  9. Văn kiện Đảng: “Chỉ thị của Trung ương gửi Xứ uỷ Trung Kỳ về vấn đề thanh Đảng Trung kỳ”, ngày 20-5-1931, Toàn tập”, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 157.
  10. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.81

Yên Bái: Hội thảo Khoa học và Kỷ niệm Ngày Khoa học - Công nghệ Việt Nam 18/5/2024

Yên Bái: Hội thảo Khoa học và Kỷ niệm Ngày Khoa học - Công nghệ Việt Nam 18/5/2024

TCGCVN - Sáng 17/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái tổ chức Hội thảo Khoa học "Đổi mới phương thức hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật và các tổ chức Hội thành viên theo tinh thần Nghị quyết số 45 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và Kỷ niệm ngày Khoa học công nghệ Việt Nam 18/5/2024". Tham dự và chủ trì Hội nghị có ông Tạ Văn Long - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Bí thư Đảng đo