TỪ BÌNH DÂN HỌC VỤ ĐẾN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 80 NĂM NHÌN LẠI MỘT CHẶNG ĐƯỜNG

ThS. Đào Duy Thụ Nghiên cứu viên cao cấp Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, Giáo dục thường xuyên (GDTX) luôn luôn là một bộ phận quan trọng của hệ thống Giáo dục quốc dân (GDQD). Tùy theo mục tiêu cụ thể của mỗi thời kỳ mà GDTX ở Việt nam có tên gọi thích hợp như: Bình dân học vụ, Bổ túc văn hóa, Giáo dục bổ túc, rồi đến Giáo dục thường xuyên. Mỗi tên gọi của mỗi thời kỳ, thể hiện một nhiệm vụ chính trị của GDTX theo một giai đoạn nhất định, đề
15:01 | 27/08/2025

ThS. Đào Duy Thụ

Nghiên cứu viên cao cấp Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, Giáo dục thường xuyên (GDTX) luôn luôn là một bộ phận quan trọng của hệ thống Giáo dục quốc dân (GDQD). Tùy theo mục tiêu cụ thể của mỗi thời kỳ mà GDTX ở Việt nam có tên gọi thích hợp như: Bình dân học vụ, Bổ túc văn hóa, Giáo dục bổ túc, rồi đến Giáo dục thường xuyên. Mỗi tên gọi của mỗi thời kỳ, thể hiện một nhiệm vụ chính trị của GDTX theo một giai đoạn nhất định, đều được xác định như là một hệ thống con trong hệ thống Giáo dục quốc dân (GDQD).

Hệ thống GDTX – 80 năm qua, trải qua 5 chặng đường lớn: Từ Bình dân học vụ (BDHV) - thời kỳ từ tháng 9/1945 đến tháng 9/1949; Bổ túc văn hóa (BTVH) - thời kỳ từ tháng 9/1959 đến tháng 9/1989; Giáo dục bổ túc (GDBT) - thời kỳ từ tháng 9/1989 đến tháng 11/1993; Giáo dục thường xuyên (GDTX) - thời kỳ từ tháng 11/1993 đến 11 /2010; Giáo dục thường xuyên/học tập suốt đời (HTSĐ) – thời kỳ từ 2011 đến nay.

1. Trước hết tiền thân của hệ thống GDTX đó là thời kỳ Bình dân học vụ (từ tháng 9/1945 đến tháng 9/1959)

1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của bình dân học vụ (BDHV)

Trong lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học (đầu tháng 10 năm 1945), Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Hầu hết người Việt Nam mù chữ. Như thế thì tiến bộ làm sao được? Nay chúng ta đã giành được độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí…”.

Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch đã chỉ tra nhiệm vụ trước mắt của BDHV là phải XMC cho mọi người, sau đó là phải làm cho mọi người hiểu biết về quyền lợi, bổn phận của mình và có kiến thức để tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước.

Sau này , khi đã có hàng triệu người được xóa mù chữ, việc tổ chức lớp học dự bị bình đân đã được đẩy mạnh giúp cho người mới thoát mù chữ đạt trình độ biết đọc, biết viết thật chắc chắn, có tác dụng thiết thực. Nhu cầu của kháng chiến đang đến gần thắng lợi đòi hỏi ở công nhân, nông dân, cán bộ những kiến thức khoa học, kỹ thuật, nghề nghiệp cao hơn và không ngừng nâng lên nữa.

Như vậy BDHV có nhiệm vụ trước hết là XMC cho mọi người và sau đó là nâng cao trình độ văn hóa cho công, nông và đội ngũ cán bộ của Đảng, Chính quyền và đoàn thể.

1.2.Đối tượng phục vụ của bình dân học vụ.

Trong những năm đầu ngành BDHV đã tổ chức điều tra, thống kê số người mù chữ theo 3 độ tuổi: nhóm từ 8 đến 15 tuổi; nhóm từ 16 đến 45 tuổi; nhóm từ 46 tuổi trở lên.

Đối tượng phục vụ của BDHV là những người mù chữ từ 8 tuổi trở lên. Nhưng ưu tiên giành những khóa đầu cho nhóm tuổi từ 16 đến 45 tuổi. Công nhân và nông dân là những lực lượng nòng cốt của chế dộ mới cho nên phải mở lớp dạy cho họ trước, nhất là những người đang trong độ tuổi lao động, đang sung sức, hoạt động tích cực cho việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Từ năm1951 trở đi , đối tượng phục vụ của BDHV còn có thêm những người cần được nâng cao trình độ văn hóa. Do yêu cầu phát triển của công cuộc kháng chiến, kiến quốc, nên ngoài những người mù chữ trong độ tuổi được mở rộng hơn trước (từ 12 đến 50 tuổi), đối tượng phục vụ của BDHV còn bao gồm những công nhân, nông dân, cán bộ cốt cán của Đảng, chính quyền đoàn thể các cấp từ xã đến trung ương , những cán bộ trẻ và thanh niên công nông có thành tích trong chiến đấu và sản xuất cần được nâng cao trình độ văn hóa (trình độ học vấn).

1.3.Tổ chức, quản lý bình dân học vụ.

Khi mới thành lập nước, Chính phủ đã thành lập Bộ Quốc gia giáo dục. Trong Bộ Quốc gia giáo dục có 7 cơ quan trong đó có Nha BDHV. Nha BDHV có hệ thống tổ chức quản lý từ Bộ đến cơ sở xã như sau:

  • Cấp trung ương có Nha BDHV.
  • Cấp khu có Sở BDHV.
  • Cấp tỉnh có Ty BDHV.
  • Cấp huyện có Ban BDHV.
  • Cấp xã có Cán bộ BDHV/ Ban BDHV xã.

Giai đoạn 1946 – 1959, Bộ Quốc gia giáo dục được đổi thành Bộ giáo dục. Trong Bộ giáo dục có 3 vụ, đó là vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Nha giáo dục phổ thông và Nha BDHV.

Như vậy, ngay từ ngày đầu dựng nước, GDTX đã được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước.

1.4.Xây dựng mạng lưới trường lớp của Bình dân học vụ.

  • Ở trình độ sơ cấp bình dân và dự bị bình dân, BDHV lấy lớp học là cơ sở dạy – học/ giáo dục theo tinh thần lớp học bình dân cố gắng tìm đến người học.
  • Ở trình độ bổ túc bình dân, BDHV lấy trường tập trung hoặc tại chức là cơ sở dạy - học/ giáo dục.
  • Cuối năm 1947, liên khu 5 mở trường “Tiểu học bình dân” (học viên học trọng 2 năm)
  • Năm 1948, Nam bộ ở cấp tỉnh mở các trường ‘Tiểu học bình dân”. Ở cấp khu mở “Trung học bình dân”.
  • Đầu năm 1949, ngành quân giới hình thành các Trường bổ túc văn hóa trong các xí nghiệp.
  • Năm 1951, Trường phổ thông lao động Trung ương được thành lập. Cũng trong thời gian này, các khu và tỉnh đã mở được 20 trường Phổ thông lao động.
  • Cuối năm 1954, ở Hà Nội, các Trừơng BTVH tại chức được tổ chức theo hệ thống liên hiệp các công đoàn cơ quan Trung ương và Hà Nội.
  • Năm 1956, Trường Bổ túc công nông Trung ương được thành lập.
  • Năm 1958, các Trường BTVH tập trung cấp huyện được thành lập.

1.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên Bình dân học vụ.

Là một ngành mới , BDHV phải tự xây dựng từ đầu đội ngũ cán bộ, giáo viên của mình. Lúc đó được gọi một tên chung là “chiến sĩ bình dân học vụ”. Họ cần phải đạt một số yêu cầu sau:

  • Là một cán bộ quần chúng, biết tuyên truyền cổ động , tổ chức phong trào.
  • Phải có đức tính kiên nhẫn, hy sinh, chịu đựng gian khổ, ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần than ái đoàn kết.
  • Biết dạy học cho người lớn.

1.6.Chương trình và cơ cấu trình độ đào tạo.

Lúc đầu chương trình BDHV dự định có 4 cấp: Sơ cấp bình dân, dự bị bình dân, bổ túc bình dân và trung cấp bình dân.

  • Sơ cấp bình dân với mục tiêu trong vòng 4 tháng giúp người học biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ ( đọc được một bài tập đọc chữ in và chữ số từ 1 đến 1000, không có câu hỏi miệng, viết được một bài chính tả có từ 40 đến 50 tiếng, không có câu hỏi).
  • Dự bị BD với mục tiêu trong vòng 4 tháng giúp người học đạt được trình độ cao hơn bậc sơ học trước và ngang với lớp nhì bậc tiểu học.
  • Bổ túc BD với mục tiêu trong vòng 8 tháng giúp người học đạt được một trình độ cao hơn bậc tiểu học trước và ngang với lớp năm đệ nhất trung học phổ thông trước, nghĩa là bằng lớp 5 của trường phổ thông 9 năm.
  • Trung học BD với mục tiêu trong vòng 18 tháng giúp người học đạt được trình độ học thức ngang với lớp 8 của trường phổ thông 9 năm.
  • Chương trình sơ cấp bình dân ngay từ đầu chiến dịch chống nạn mù chữ (tháng 11/ 1945) Nhưng khóa sơ cấp BD đầu tiên mãn khóa tháng 2/ 1946.
  • Chương trình dự bị BD thì đến năm 1948 mới thực hiện.
  • Sáu tháng cuối năm 1948, xây dựng và thực nghiệm chương trình BT bình dân gồm 2 cấp 5 lớp.
  • Tháng 6/ 1952 chương trình BTVH tiếp tục xây dựng lại theo phương châm “Đẩy mạnh công tác BTVH” của Đảng là: Lý luận và thực tiễn thống nhất, học kết hợp với hành, học để dùng…

Chương trình có 2 cấp, mỗi cấp là một chương trình tương đối trọn ven.

Cấp I: 2 lớp (lớp 1, lớp 2) tương đương cấp I phổ thông

Cấp II: 3 lớp (lớp 3, lớp 4 và lớp5) tương đương với cấp II phổ thông.

Có 2 loại : Chương trình Phổ thông lao động học tập trung và chương trình BTVH tại chức, soạn riêng cho 3 địa bàn : Xí nghiệp, cơ quan và nông thôn.

  • Năm 1956, chương trình dành cho Trường Bổ túc Công nông được xây dựng. Chương trình này theo sát chương trình phổ thông được cải cách năm 1956. Cấp III được phân thành 3 ban: Toán- Lý- Hoa, Toán – Hóa – Sinh, Văn – Sử - Địa. Mục tiêu của chương trình này là bổ túc cho cán bộ trẻ và thanh niên công nông, chuẩn bị cho họ vào học các trường đại học và trung học chuyên nghiệp.

Tóm lại : BDHV là khởi đầu của một nền giáo dục mới, nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập, đồng thời nó cũng bắt đầu hình thành một ngành học của người lớn và là một hệ thống giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. BDHV luôn luôn được đặt thành chính sách lớn , nằm trong hệ thống và được thực hiện theo đường lối giáo dục chung của Đảng và Nhà nước. Nhiệm vụ của BDHV luôn luôn gắn liền với các nhiệm vụ khác trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, không tách rời sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Như vậy, BDHV đã hình thành một bộ phận quan trọng của hệ thống của GDQD, là điểm khởi đầu của hệ thống GDTX sau này.

  1. Hệ thống GDTX – Thời kỳ Bổ túc văn hóa ( từ tháng 9 / 1959 đến tháng 9/ 1989) 2.1 Nhiệm vụ của Bổ túc văn hóa.

Năng cao trình độ văn hóa cho cán bộ và nhân dân lao động, đặt cơ sở cho việc giáo dục tư tưởng chính trị, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ kinh tế, văn hóa, khoa học , kỹ thuật trên quy mô lớn, mở rộng công tác phổ biến khoa học kỹ thuật, góp phần đẩy mạnh sản xuất, tăng cường quốc phóng. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, bên cạnh những nhiệm vụ trọng tâm trên, BTVH vẫn có nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ cho nhân dân.

2.2 Đối tượng phục vụ của Bổ túc văn hóa.

Đối tượng BTVH giai đoạn này được chia thành 3 nhóm:

  • Nhóm đối tượng 1: Diện nông thôn (xã, khu phố thuộc thị xã, thị trấn) bao gồm tất cả cán bộ, đảng viên, đoàn viên; Diện cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông lâm trường bao gồm cán bộ lãnh đạo và cán bộ nghiên cứu từ cán sự 3 trở lên.
  • Nhóm đối tượng 2: Diện nông thôn gồm thanh niên ngoài đoàn từ 15 đến 30 tuổi; Diện cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường bao gồm công nhân kỹ thuật, đảng viên, đoàn viên, thanh niên, cán sự 1 và 2, tổ trưởng sản xuất, các nhân viên kỹ thuật.
  • Nhóm đối tượng 3: Diện nông thôn xã viên và nhân dân lao động từ 31 đến 40 tuổi; Diện cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường bao gồm công nhân và các loại lao động đơn giản. 2.3 Hệ thống tổ chức, quản lý GDTX thời kỳ BTVH.

Chuyển đổi hệ thống bộ máy quản lý, chỉ đạo BDHV thành bộ máy quản lý, chỉ đạo BTVH từ Trung ương đến cơ sở bao gồm: Vụ bổ túc văn hóa (thuộc Bộ giáo dục); Phòng bổ túc văn hóa (thuộc Ty giáo dục); Ban bổ túc văn hóa

( thuộc Phòng giáo dục); Cán bộ chuyên trách văn hóa xã ( thuộc Ban văn hóa xã). Ở địa bàn cơ quan, xí nghiệp Phủ thủ tướng đã chính thức quy định trong thông tư 195- TTg ngày 17/5/1961 như sau: “Thủ trưởng cơ quan chịu trách nhiệm trong việc tổ chưc, lãnh đạo việc học tập văn hóa cho đơn vị mình, xếp đặt nơi học, thi hành chế độ đối với cán bộ, giáo viên chuyên trách, giáo viên kiêm chức phụ trách công tác bổ túc văn hóa”.

2. 4. Hình thức học, mạng lưới cơ sở dạy hoc/giáo dục của BTVH

  • Hình thức học BTVH

+ Học tại chức là hình thức chủ yếu của BTVH, tạo điều kiện cho số đông người lao động, công tác có thể tham gia được ( vừa học vừa làm).

+ Học tập trung là hình thức được coi trọng để giúp một số đối tượng nhất định nâng cao trình độ văn hóa bao gồm: Những cán bộ chủ chốt, những thanh niên công nông ưu tú cần được nâng cao trinh độ văn hóa tạo nguồn cho các Trường đại học và trung học chuyên nghiệp; Những thanh niện dân tộc thiểu số cần được nâng cao trình độ văn hóa để tạo nguồn bổ sung cho đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số.

+ Học nửa tập trung là hình thức học tập được quan tâm nhằm giúp cho cán bộ không có điều kiện học tại chức đều đặn, và không thể đi học tập trung được. Đó là cán bộ phải làm công tác lưu động thường xuyên, hoặc những cán bộ chủ chốt xã và hợp tác xã gặp nhiều khó khăn trong học tập.

+ Học từ xa.

+ Tự học có hướng dẫn.

  • Mạng lưới cơ sở giáo dục của BTVH

+ Đối với các loại chương trình học không theo cấp lớp hoặc XMC thì BTVH lấy lớp học làm cơ sở giáo dục.

+ Đối với các loại chương trình học theo cấp lớp thì BTVH lấy trường BTVH làm cơ sở giáo dục, có nhiều loại hình trường BTVH. Xét theo hình thức học thì có: trường BTVH tại chức, trường BTVH tập trung, trường BTVH nửa tập trung, trường BTVH vừa làm vừa học;

Mỗi loại trường BTVH trên lại chia thành nhiều loại với các tên gọi thích hợp. Chẳng hạn, trường BTVH cấp 3 tại chức ở các tỉnh huyện có các loại sau đây: Trường liên hợp cơ quan, xí nghiệp xung quanh tỉnh; Trường liên hợp cơ quan, xí nghiệp xung quanh huyện, trường BTVH cấp 3 tại chức nông thôn; Xét theo đối tượng học thì có: Trường phổ thông lao động, trường bổ túc công nông, trường thanh niên dân tộc v.v. Xét theo cơ quan chủ quản thì có: Các trường bổ túc văn hóa do ngành giáo dục làm chủ quản, các trường bổ túc văn hóa do các ngành khác làm chủ quản.

2,5 Nội dung, chương trình và cơ cấu trình độ đào tạo:

  • Về nội dung dạy – học của BTVH tinh giản và thiết thực, kết hợp chặt chẽ việc học văn hóa với kỹ thuật và chính trị, vừa bảo đảm kiến thức khoa học cơ bản cần thiết, vừa gắn liền với thực tiễn sản xuất, chiến đấu và đời sống. Nội dung BTVH phù hợp với từng loại đối tượng, người đứng tuổi chỉ cần học những kiến thức cần thiết trực tiếp cho công tác sản xuất, thanh niên học tương đối toàn diện hơn.
  • Về xây dựng chương trình BTVH

+ Chương trình cấp I BTVH theo hai mức, với tổng số tiết là 600 tiết. Mức I là mức phổ cập gồm 3 lớp (1,2,3) dùng cho các loại đối tượng, có 2 môn học là Tiếng Việt và học tính với tổng số tiết là 360 tiết. Mức II (tiếp sau mức I) là mức hoàn chỉnh dùng riêng cho cán bộ và thanh niên đã học xong mức I hoặc có trình độ văn hóa tương đương mức I có 3 môn học là Tiếng Việt, Học tính và Thường thức khoa học, với số tiết là 240 tiết.

+ Chương trình cấp I BTVH cải tiến theo hướng kết hợp học văn hóa phổ thông với một số kiến thức cần thiết về chính trị, quản lý cho cán bộ cấp xã, ấp ở Miền Nam (sau giải phóng)

+ Chương trình Tiếng Việt cấp I cho người dân tộc

+ Chương trình cấp II BTVH dùng cho cán bộ và thanh niên

Quảng cáo

+ Chương trình cấp III BTVH dành cho cán bộ trẻ và thanh niên. Chương trình này được dùng trong các Trường tại chức ở cơ quan xí nghiệp, các lớp cấp III BTVH ở nông thôn và các lớp tập trung ngắn hạn.

+ Chương trình cấp III BTVH hệ bồi dưỡng dành cho cán bộ lãnh đạo quản lý nhiều tuổi. Chương trình này có 7 môn (tiếng Việt và văn học, Toán, Lý hóa, Sinh, Sử, Địa) với tổng số tiết là 851. Chương trình không chia thành lớp và được học dứt điểm theo từng bộ môn hoặc nhóm bộ môn. Có 2 nhóm bộ môn:

Nhóm 1: Toán, Lý, Hóa, Sinh với số tiết là 465

Nhóm 2: Tiếng Việt và Văn học, Sử, Địa với số tiết là 386

Học theo nhóm bộ môn nào được thi và cấp chứng chỉ theo nhóm bộ môn đó.

+ Chương trình chuyên đề cho những người học dở dang cấp I hoặc dừng lại sau cấp I. Nội dung lớp “chuyên đề” bao gồm những vấn đề thiết thực.

Như vậy, xét mặt hệ thống, thời kỳ BTVH đã tương đối hoàn chỉnh. Các thành tố của hệ thống đã thực hiện tốt các chức năng của mình, tạo nên một ngành học phát triển tốt đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hội vừa đấu tranh thống nhất đất nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội.

  1. Hệ thống GDTX thời kỳ Giáo dục bổ túc (9/1989-11/1995) 3.1Đối tượng phục vụ của Giáo dục bổ túc:

Đối tượng phục vụ của giáo dục bổ túc gồm ba nhóm chủ yếu sau: Những người mù chữ không được học cấp I ở nhà trường phổ thông từ 15 đến 35 tuổi (ước tính khoảng 2 triệu); Những người lao động đã biết chữ muốn mở rộng sự hiểu biết, muốn có kiến thức và kỹ năng liên quan đến nghề nghiệp, cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội; Những thanh niên đã thực hiện nghĩa vụ phổ cập, giáo dục cấp I, không có điều kiện tiếp tục học tập trong nhà trường phổ thông dù có việc làm hoặc chưa có việc làm.

3. 2 Nhiệm vụ của Giáo dục bổ túc

Giáo dục bổ túc có 3 nhiệm vụ là:

  • Một là chống nạn mù chữ nhằm giúp cho mọi người từ 15 đến 35 tuổi đạt được trình độ học vấn tối thiểu, biết sử dụng kỹ năng đọc, viết trong cuộc sống bình thường hàng ngày, đẩy nhanh quá trình giảm tỷ lệ dân số mù chữ, giải quyết một trở ngại cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, nơi mà nạn mù chữ còn trầm trọng.
  • Hai là, tổ chức các hình thức học tập không theo quy trình cấp lớp nhằm giúp những người lao động đã trưởng thành, có cơ hội trau dồi thêm những hiểu biết và kỹ năng liên quan đến việc phát triển cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội.
  • Ba là, tổ chức các hình thức giảng dạy - học tập tri thức phổ thông cơ bản gắn với nghề nghiệp theo quy trình cấp lớp nhằm tăng thêm khả năng đáp ứng của hệ thống giáo dục đối với nhu cầu học tập của thanh thiếu niên đã thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục cấp I không có điều kiện học tập tiếp tục trong nhà trường phổ thông. 3. 3.3 Công tác tổ chức, quản lý của .Giáo dục bổ túc:

Năm 1991, Vụ bổ túc văn hóa (Bộ giáo dục cũ) nhập với Vụ giáo dục tại chức (Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp cũ) thành Vụ tại chức và Giáo dục bổ túc trong Bộ Giáo dục - Đào tạo. Trong cơ cấu tổ chức của Vụ tại chức và Giáo dục bổ túc, bộ phận làm công tác BTVH trước đây được chuyển sang làm công tác giáo dục bổ túc và vẫn được giữ nguyên, không xáo trộn, tránh làm ảnh hưởng đến việc quản lý, chỉ đạo chuyên môn trong lúc giao thời.

Tại các sở GD&ĐT, trong chỉ thị 17/CT (15/9/1989), Bộ đã khẳng định: “ Những nơi nào Phòng BTVH chưa sáp nhập với Phòng khác hoặc giải thể, cần giữ nguyên. Có thể giảm biên chế, thuyên chuyển cán bộ xong phải kiên quyết duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của Phòng chuyên môn này. Những nơi Phòng bổ túc văn hóa đã sáp nhập với Phòng phổ thông (hoặc một phòng nào khác) thì phải tập hợp số cán bộ làm công tác BTVH ở Sở thành một đơn vị tổ chức tương đương như đối với Giáo dục phổ thông. Những nơi nào Phòng bổ túc văn hóa đã giải thể cần phải lập lại”.

Đến năm học 1991-1992, theo chỉ thị 40/CT (ngày 24/4/1991) của Bộ GD&ĐT bước đầu hòa nhập Giáo dục bổ túc với đào tạo bồi dưỡng tại chức thành hệ thống giáo dục và đào tạo thường xuyên, củng cố tổ chức chuyên môn của Sở, Phòng GD&ĐT huyện để quản lý tốt hệ thống giáo dục này.

Để củng cố, tăng cường hoạt động của cơ quan phối hợp liên ngành về chống nạn mù chữ. Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính Phủ) đã ban hành quyết định số 173/HĐBT thành lập Ủy ban quốc gia chống nạn mù chữ. Sau đó, hệ thống tổ chức các Ban chỉ đạo chống lại mù chữ vốn có trong thời kỳ trước được củng cố và tổ chức lại. Ủy ban quốc gia chống nạn mù chữ là cơ quan phối hợp liên ngành bao gồm: Bộ GD&ĐT, Bộ tài chính, Bộ lao động - Thương binh và xã hội; Bộ văn hóa và thông tin, Bộ ngoại giao, Bộ kế hoạch và đầu tư, Ủy ban quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội nông dân Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Ủy ban quốc gia chống lại một chữ có nhiệm vụ giúp Hội đồng Bộ trưởng theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình chống mù chữ trong cả nước. Ủy ban quốc gia chống nạn mù chữ có hệ thống tổ chức theo chiều dọc đến cấp xã, phường

3.3 Mạng lưới cơ sở dạy - học/ giáo dục của Giáo dục bổ túc:

Thực hiện chỉ thị 17/CT của Bộ Giáo dục, mạng lưới cơ sở dạy - học/ giáo dục theo mô hình “Mỗi trường có một chức năng riêng biệt” của Bổ túc văn hóa được điều chỉnh thành mạng lưới cơ sở dạy- học/ giáo dục theo mô hình “mỗi trường có nhiều chức năng” của Giáo dục bổ túc.

Các Trường BTVH vừa học vừa làm, các Trường BTVH có dạy nghề được duy trì củng cố, phát triển ở những nơi dân cư tập trung, có nhu cầu học tập lớn như thành phố, thị xã; các Trường BTVH tập trung được chuyển dần thành loại trường nhiều chức năng phục vụ nhiều loại đối tượng trên một địa bàn. Chỉ duy trì trường Bổ túc văn hóa tập trung ở những nơi còn điều kiện và có nhu cầu

Đến năm 1990 đã xuất hiện một số Trường BTVH nhiều chức năng trên cơ sở mở rộng chức năng của Trường BTVH hoặc sáp nhập các Trường bổ túc văn hóa với Trường bồi dưỡng đào tạo tại chức hoặc Trung tâm dạy nghề v.v.

Chương trình bổ túc trung học theo hướng dùng chung sách giáo khoa với giáo dục chính quy (được áp dụng từ năm học 1991-1992). Chương trình này gồm cả cấp II và cấp III. Số môn học bắt buộc của chương trình này là: Văn, Toán, Lý, Hóa, Sinh.

Chương trình bổ túc cấp III VLVH. Chương trình này được xây dựng trên cơ sở chương trình bổ túc cấp III đã nói ở trên, được bổ sung thêm một số môn học. Chương trình này có 8 môn học, trong đó: 7 môn học bắt buộc là: Văn, Toán, Lý, Hóa, Sinh, Giáo dục công dân và nghề (phổ thông) và 1 môn học khuyến khích là ngoại ngữ: tiếng Anh hoặc ngoại ngữ khác.

  1. Hệ thống GDTX từ năm 1993 đến 2010.

Ngày 4/11/1993 Chính phủ có Nghị định số 90/CP về cơ cấu khung của hệ thống GDQD Việt Nam. Theo đeiều 1 của Nghị định này, cơ cấu khung của hệ thống GDQD bao gồm 5 phân hệ: Giáo dục mầm non, Giáo dục phổ thông, Giáo dục đại học , Giáo dục thường xuyên.

4.1 Đối tượng phục vụ của Giáo dục thường xuyên

Ngày 20/4/1994, Bộ GD&ĐT đã có thông tư số 03/TT hướng dẫn thi hành Nghị định 90/CP (4/11/1993). Theo thông tư này, đối tượng phục vụ của GDTX là mọi người ở mọi trình độ, bao gồm: Những người không có điều kiện học tập trong các nhà trường chính quy của các phân hệ Giáo dục phổ thông, Giáo dục chuyên nghiệp, Giáo dục đại học; Những người đã hoàn thành chương trình “đào tạo ban đầu” trong các nhà trường chính quy của các phân hệ giáo dục trên, nay muốn được “đào tạo tiếp tục” theo các hình thức của Giáo dục thường xuyên

4.2 Nhiệm vụ của giáo dục thường xuyên.

Nhiệm vụ chung của GDTX là cung ứng cơ hội học tập cho mọi người ở mọi trình độ, phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu rất đa dạng về nâng cao trình độ, mở rộng hiểu biết, hiện đại hóa, cập nhật hóa kiến thức, chuyển đổi nghề nghiệp v.v. của người học, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, khoa học và công nghệ, văn học và nghệ thuật.

4.3 Hệ thống tổ chức quản lý GDTX

  • Năm 1994, Vụ tại chức và Giáo dục, bổ túc được chuyển thành Vụ GDTX để quản lý, chỉ đạo GDTX. Phạm vi của GDTX rất rộng lớn, bao gồm cả đào tạo tại chức và Giáo dục bổ túc.
  • Phòng tại chức và Giáo dục bổ túc của các Sở chuyền thành phòng GDTX
  • Phòng GD&ĐT của quận/huyện, cán bộ phụ trách Giáo dục bổ túc và tại chức chuyển thành cán bộ phụ trách GDTX.
  • Trong chỉ thị năm học 1995-1996, Bộ khẳng định: Tiếp tục xây dựng ngành GDTX theo cơ cấu mới của hệ thống giáo dục quốc dân, kiện toàn bộ máy tổ chức chỉ đạo ở các cấp nhằm đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất. Theo chỉ thị này, ở một số địa phương trong cơ cấu bộ máy của Sở GD&ĐT đã có Phòng giáo dục thường xuyên.
  • Tăng cường và nâng cao hiệu lực các hoạt động của Ủy ban quốc gia chống nạn mù chữ.

4.4. Mạng lưới, cơ sở giáo dục của GDTX.

- Trung tâm thường xuyên thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt là trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh).

- Trung tâm giáo dục thường xuyên thuộc quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Gọi tắt là trung tâm giáo dục thường xuyên huyện).

- Trung tâm giáo dục thường xuyên thuộc tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế lực lượng vũ trang nhân dân (gọi tắt là trung tâm giáo dục thường xuyên thuộc các tổ chức)

- Trung tâm ngoại ngữ, tin học

- Trung tâm học tập cộng đồng.

4.5. Chương trình và cơ cấu, trình độ đào tạo

Về các loại chương trình của giáo dục thường xuyên: Chương trình XMC quốc gia ban hành từ năm 1990; Chương trình giáo dục tiểu học hệ bổ túc. Chương trình này gồm hai phần: Phần XMC (tương đương với chương trình XMC trước đây). Phần giáo dục sau XMC (tương đương với chương trình sau XMC trước đây) chương trình bổ túc Trung học cơ sở và chương trình bổ túc trung học phổ thông (năm 1997) để thay cho chương trình bổ túc Trung học cơ sở và chương trình Bổ túc trung học phổ thông ban hành năm 1991.

  1. Hệ thống GDTX, học tập suốt đời (HTSĐ) (từ năm 2011 đến nay).

5.1 Đối tượng phục vụ của Giáo dục thường xuyên/HTSĐ.

Hệ thống GDTX đã mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người.

GDTX cung cấp chương trình tương đương với hệ thống GDPT chính quy, dành cho thanh thiếu niên và người lớn, không tính đến độ tuổi.

GDTX thích ứng với sự thay đổi của thị trường lao động vì đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân: Người bỏ học dở chừng hệ chính quy có thể học chương trình GDTX lấy bằng tốt nghiệp THCS và THPT, hoặc học các chương trình giáo dục nghề nghiệp (GDNN); hoàn thành chương trình GDTX cấp THCS có thể chuyển sang học cấp THPT chính quy; hoàn thành chương trình GDTX cấp THPT có thể tiếp cận giáo dục sau trung học (cao đẳng, đại học); từ năm 2020, chứng chỉ hoàn thành chương trình THPT cho phép học sinh tiếp tục đào tạo nghề; … Con đường này giúp tăng cơ hội để người dân đạt được các kỹ năng cao hơn, phức tạp hơn.

5.2. Chương trình GDTX/ HTSĐ

Chương trình GDTX/ HTSĐ được chia thành các nhóm sau:

  • Chương trình xóa mù chữ (XMC) và giáo dục sau xóa mù chữ; cung cấp kỹ năng đọc, viết, tính toán cơ bản tương đương với giáo dục tiểu học và được chia thành hai cấp độ: Cấp độ 1 tương ứng với lớp 1, 2, 3; và cấp độ 2 tương ứng với các lớp 4, 5
  • Chương trình giáo dục thường xuyên, cấp trung học cơ sở tương đương với các lớp từ lớp 6 đến lớp 9 nhưng rút gọn hơn về số lượng và nội dung môn học, phục vụ thanh thiếu niên và người lớn đã hoàn thành giáo dục tiểu học hoặc những người đã từng bỏ học THCS muốn quay lại học tập. Học sinh hoàn thành chương trình GDTX cấp THCS được vào học hệ THPT chính quy hoặc lựa chọn học tiếp chương trình GDTX cấp THPT hoặc nghề. Chương trình GDTX cấp THPT tương đương với các lớp 10 đến lớp 12 nhưng rút gọn về số môn học (7 môn), dành cho người học tốt nghiệp THCS nhưng không có điều kiện theo học THPT hệ chính quy. Người học chương trình này được công nhận bằng cấp tương đương với THPT chính quy, có quyền đăng ký vào giáo dục sau trung học, bao gồm cả đại học và cao đẳng.
  • Chương trình GDTX cho người lớn: Phát triển nghề nghiệp và đào tạo kỹ năng; khóa học ngắn hạn và hội thảo, tập huấn; giáo dục kỹ năng sống; ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam; đào tạo kỹ năng ngoại ngữ và công nghệ thông tin, chuyển đổi số; …

5.3. Quản lý nhà nước GDTX/ HTSĐ

- Ở cấp Trung ương

+ Bộ giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) quản lý các cơ sở GDTX/ HTSĐ công lập bao gồm: TTHTCĐ; Trung tâm GDTX và Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) – GDTX; Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học, trung tâm giáo dục kỹ năng sống; Trường đại học mở và các cơ sở đào tạo đại học khác.

Bộ GD&ĐTchịu trách nhiệm chính đối với việc tạo nền tảng vững chắc, chất lượng cao cho việc học tập ở các trình độ cao hơn và HTSĐ.

+ Bộ LĐTB&XH quản lý các tổ chức GDTX/HTSĐ liên quan đến giáo dục nghề nghiệp, điều phối trong việc quản lý các chương trình GDTX/HTSĐ giữa các bộ, ngành. Tuy nhiên, Bộ GD&ĐT vẫn chịu trách nhiệm chính về chương trình HTSĐ, xây dựng xã hội học tập.

  • Ở địa phương Tinh/thành phố và cấp xã/phường quản lý hệ thông GDTX/HTSĐ vẫn được giữ nguyên dưới sự chỉ đạo của Trung ương và trực tiếp là Bộ GD&ĐT.

Tóm lại: Từ BDHV đến GDTX/HTSĐ gần 80 năm qua, đến nay hệ thống GDTX đã cơ bản được hoàn chỉnh. GDTX có hệ thống bộ máy quản lý và chỉ đạo ngày càng được tổ chức hợp lý từ Trung ương đến cơ sở. Chất lượng hoạt động GDTX/HTSĐ từng bước được củng cố và có hiệu quả. Cơ sở giáo dục của GDTX đã được đưa vào Luật giáo dục, ngày càng hoàn thiện và phát triển mở rộng đến xã, phường.

Tuy nhiên, hệ thống GDTX/HTSĐ đang và sẽ gặp những khó khăn, thách thức sau:

  • Kết quả chương trình XMC chưa bền vững, một số địa bàn có tỉ lệ tái mù cao;
  • Sự liên thông giữa giáo dục chính quy và GDTX hiệu quả còn thấp;
  • Chưa có các điều kiện đảm bảo cung ứng dịch vụ GDTX/HTSĐ được thuận tiện, chất lượng để cho phép những người có nhu cầu được nâng cao trình độ, chuyển đổi nghề nghiệp và cải thiện cuộc sống hiệu quả;
  • Đội ngũ giáo viên GDTX thiếu về số lượng và hầu như ít được đào tạo phương pháp giáo dục người lớn;
  • Mặc dù chứng chỉ/bằng cấp hai hệ thống chính quy và GDTX được công nhận tương đương, nhưng bằng cấp được công nhận từ hệ thống GDTX ít được coi trọng hơn trong nhận thức của công chúng./.

-------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật giáo dục - NXB Chính trị Quốc gia , Hà Nội 1998.
  2. Luật giáo dục sửa đổi năm 2005.
  3. Luật giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14/6/2019.
  4. Ủy ban quốc gia chống nạn mù chữ: Về giáo dục cho mọi người ở Việt Nam, NXB chính trị quốc gia. Hà Nội 1994.
  5. Ủy ban quốc gia chống nạn mù chữ: Hơn 50 năm diệt dốt. Chủ biên GSTS Phạm Minh Hạc. Hà Nội 1996.
  6. Báo cáo phân tích ngảnh giáo dục Việt Nam 2011 – 2020 – Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.
  7. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ “Hệ thống giáo dục thường xuyên Việt nam trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Mã số B2007 – 37-33 TĐ”. Chủ nghiệm PGS. TS. Tô Bá Trượng.
VAI TRÒ TIỀM LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

VAI TRÒ TIỀM LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

TS. Nguyễn Bá Vận - TS. Bùi Tiến Phúc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng E mail: [email protected] Tóm tắt: Bài viết làm rõ vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung khẳng định khoa học quân sự không chỉ góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc mà còn thúc đẩy khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết làm rõ thực trạng tiềm lực khoa học quân sự ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả và những hạn chế còn