1.Đặt vấn đề
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh GD&ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững.
Để thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ VIII, ngày 24/12/1996 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã ra Nghị quyết số 02 về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT, KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000. Những tư tưởng chỉ đạo Đảng về phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là:
- Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội..
- Thực sự coi GD&ĐT, là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc GD&ĐT cùng với KH&CN là nhân tố quyết định tǎng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho GD&ĐT là đầu tư phát triển.
- GD&ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân...
- Phát triển GD&ĐT gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
- Thực hiện công bằng xã hội trong GD&ĐT. Tạo điều kiện để ai cũng được học hành.
- Giữ vai trò nòng cốt của nhà trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình GD&ĐT,
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, ban hành năm 1996, thực hiện được 17 năm. Tuy vậy, chất lượng, hiệu quả GD&ĐT còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Để khắc phục những bất cập, phát huy những thành công của GD&ĐT, nhằm tạo ra những thay đổi căn bản, ngày 4-11-2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT với mục tiêu, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân.

PGS.TS. Tô Bá Trượng phát biểu tại Hội thảo
2. Quan điểm , mục tiêu của Nghị quyết 29
Nghị quyết số 29 đã đề ra một số quan điểm chỉ đạo cần được quán triệt đến các tầng lớp nhân dân đề thực hiện tốt những yêu cầu và nhiệm vụ của Nghị quyết đã đề ra.
- GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển.
- Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện
- Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.
- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, tạo điều kiện để mọi người dân đều được thụ hưởng giáo dục tiến tới xây dựng xã hội học tập.
- Ưu tiên đầu tư phát triển GD&ĐT đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách.
Từ những quan điểm chỉ đạo đó, Nghị quyết cũng đã đề ra các mục tiêu:
- Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại và hội nhập quốc tế hệ thống GD&ĐT. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Đến nay đã gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 29, mặc dù trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn và nguồn lực còn hạn hẹp, song với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự phối hợp có hiệu quả của các bộ, ngành và địa phương, đặc biệt là sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp, sự nghiệp GD&ĐT nước ta đã tạo được chuyển biến mạnh cả về chất lượng và hiệu quả, được xã hội thừa nhận và các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế, yếu kém chưa được giải quyết triệt để, cần tiếp tục triển khai thực hiện trong giai đoạn tới.
3. Một số kết quả nổi bật của Nghi quyết 29
3.1. Về cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân
Trước hết nói về cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Năm 2016, theo đề xuất của Bộ GD&ĐT, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân (1) nhằm khắc phục tình trạng chia mảnh, thiếu liên thông giữa các bộ phận giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và giáo dục đại học. Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mới được thiết kế theo hướng mở, có cơ chế liên thông giữa các cấp học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; bảo đảm cho sự phân luồng sau trung học cơ sở và định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông tạo điều kiện để quy hoạch đồng bộ lại mạng lưới các cơ sở giáo dục. Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mới bảo đảm tính tương thích với các bảng phân loại giáo dục chung của quốc tế và kết nối được với khung trình độ quốc gia (2).
Trong hai năm 2018 và 2019, Bộ GD&ĐT đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học vào năm 2018 và Luật Giáo dục (sửa đổi, ban hành mới) vào năm 2019, giải quyết những vấn đề còn “bất cập” trong giáo dục và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Bước đầu thực hiện được mục tiêu mà Nghị quyết 29 đề ra là “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa GD&ĐT”. Có thể nói đây là kết quả lớn, tạo tiền đề cho việc xây dựng xã hội học tập ở nước ta.
Đến nay, về cơ bản, các chủ trương của Nghị quyết 29 đã được thể chế hóa và được cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thực hiện (3). Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chính sách được tăng cường, xử lý nhiều bất cập, vi phạm trong lĩnh vực giáo dục, tạo sự chuyển biến tích cực trong giải quyết các vấn đề về giáo dục, đào tạo mà xã hội quan tâm, dư luận bức xúc trước đây.
3.2.Về thực hiện các mục tiêu của phát triển giáo dục mầm non và phổ thông.
- Giáo dục mầm non: Đến hết năm học 2013-2014 cả nước mới có 18 tỉnh được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Nhưng, đến năm 2017, 63 tỉnh thành hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Việc thực hiện thành công các mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi đã tác động mạnh mẽ đến việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, đặc biệt là giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Chất lượng phổ cập ngày càng được nâng cao. Tháng 8/2018, Chính phủ đã thống nhất chủ trương thực hiện chính sách miễn học phí đối với trẻ em mầm non 5 tuổi và hỗ trợ đóng học phí cơ sở ngoài công lập đối với trẻ em diện phổ cập, nhất là đối với các thôn, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết 29 của Trung ương.
Chỉ tiêu về đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trên toàn quốc cho trẻ 5 tuổi đã hoàn thành ngay từ đầu năm 2017 với tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 5 tuổi đạt 99,98%. Trẻ em mẫu giáo ở các vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, trẻ không có nguồn nuôi dưỡng, trẻ thuộc hộ nghèo, cận nghèo được Nhà nước hỗ trợ tiền ăn trưa; trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ khuyết tật được quan tâm phát hiện sớm, can thiệp sớm, học hòa nhập, nâng cao tỷ lệ huy động trẻ em đến trường. Thành công này phần lớn nhờ vào sự nỗ lực của ngành giáo dục, quan tâm của các địa phương và chính sách đầu tư mục tiêu cho giáo dục mầm non của Chính phủ Việt Nam.
- Giáo dục tiểu học: chúng ta cũng duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở. Cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, trong đó có 18/63 tỉnh, thành phố đạt mức độ 3 (năm 2016 mới có 12/63 tỉnh); cả nước đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 1, trong đó có 19/63 tỉnh, thành phố đạt mức độ 2, mức độ 3. Chỉ số về tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99%, được đánh giá cao trong khu vực (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN, sau Singapore). Đây cũng là điểm sáng trong đổi mới giáo dục của nước ta và được các nước và tổ chức quốc tế như UNICEF, UNESCO, WB, UNDP đánh giá cao.
- Giáo dục phổ thông: Nghị quyết 29 xác định “phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương”. Tính đến 2017, số học sinh trung học phổ thông của Việt Nam là trên 2,5 triệu và số học sinh trung học nghề và trung học chuyên nghiệp trong các năm 2016, 2017 khoảng gần 600 ngàn. Như vậy, tổng số đã đạt khoảng trên 67% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương. Nhưng đến năm 2020 tỷ lệ này đã sấp xỉ đạt được mục tiêu.
3.3.Về chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều được nâng lên, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Có thể thấy, sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết 29, chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều được nâng lên rõ rệt. Theo báo cáo năm 2020 của Ngân hàng Thế giới về Vốn nhân lực, chỉ số Vốn nhân lực của Việt Nam đạt 0.69, đứng thứ 38 trên 174 nền kinh tế. Trong đó, thành phần kết quả giáo dục của Việt Nam đứng thứ 15, tương đương với các nước như Hà Lan, New Zealand, Thụy Điển.
Nhiều chỉ số về Giáo dục của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành Chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tóp đầu của khối ASEAN; kết quả Chương trình đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học các nước Đông-Nam Á (SEA PLM) năm 2019 cho thấy chất lượng giáo dục tiểu học của Việt Nam đứng vào tóp đầu của các nước ASEAN.
Trong sáu nước tham gia đánh giá năm 2019 gồm: Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaysia, Myanmar, Philippines, học sinh tiểu học Việt Nam đứng đầu ở cả ba năng lực được khảo sát là: Đọc hiểu, Viết, Toán học. Trong các đợt đánh giá PISA, Việt Nam cũng đã đạt thành tích vượt trội, gây bất ngờ lớn cho cả thế giới, với kết quả khảo sát cho thấy kết quả của Việt Nam xếp thứ hạng cao so với trung bình của các nước trong khối OECD trong khi mức đầu tư cho giáo dục của chúng ta thấp hơn hẳn.
Chất lượng giáo dục mũi nhọn được thế giới đánh giá cao trên đấu trường quốc tế. Kết quả thi Olympic của học sinh Việt Nam những năm vừa qua có bước tiến bộ vượt bậc với 49 huy chương vàng trong giai đoạn 2016-2020 so với 27 huy chương vàng trong giai đoạn 2011-2015; nhiều học sinh Việt Nam đạt điểm số cao nhất ở các nội dung thi, trong đó phần thi thực hành có sự cải thiện đáng kể qua đó khẳng định chất lượng giáo dục phổ thông của Việt Nam sánh ngang với các nước có nền giáo dục tiên tiến.
3.4. Xây dựng và ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới
Để thực hiện Nghị quyết 29, Bộ GD&ĐT đã tổ chức xây dựng, ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới và tích cực chuẩn bị các điều kiện để triển khai theo lộ trình Quốc hội quy định. Có thể nói chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng một cách cẩn thận, chu đáo, tiếp cận được với thời đại và quốc tế, theo một quy trình chặt chẽ, từ chương trình tổng thể đến các chương trình môn học ở các cấp học, lớp học.
Chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành cuối năm 2018 được kỳ vọng giải quyết căn bản những hạn chế của chương trình hiện hành, trong đó đặc biệt là cách tiếp cận chuyển từ phương thức truyền đạt kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực của người học (4).
Để chuẩn bị tốt cho việc thực hiện chương trình mới, Bộ GD-ĐT đã chủ động, tích cực phối hợp các địa phương chuẩn bị các điều kiện bảo đảm như tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng phương án dạy học 2 buổi/ngày ở cấp tiểu học.
Chủ trương một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa nhằm khuyến khích sự sáng tạo trong dạy và học của giáo viên đã có những thành công bước đầu. Bộ GD&ĐT đã ban hành hệ thống văn bản để tổ chức biên soạn sách giáo khoa phục vụ triển khai chương trình mới. Các văn bản này đã quy định rõ về tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa; tiêu chuẩn tổ chức, cá nhân biên soạn sách giáo khoa; tổ chức và hoạt động của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa, thúc đẩy xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa.
Cuối năm 2019, Bộ trưởng GD&ĐT đã phê duyệt năm bộ sách giáo khoa lớp 1, với tổng số 46 quyển của chín môn học và hoạt động giáo dục cho phép sử dụng trong năm học 2020 - 2021. Đến nay năm học 2022-2023 đã có sách giáo khoa từ lố 1 đến lớp 3 (đối với cấp tiểu học); lớp 6 và lớp 7 (đối với cấp trung học cơ sở) và lớp 10 (đối với cấp trung học phổ thông). Việc lựa chọn sách giáo khoa được các địa phương thực hiện cơ bản nghiêm túc, công khai, minh bạch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử ngành giáo dục nước ta thực hiện chủ trương này và đã có kết quả bước đầu đáng khích lệ. Có thể nói, chủ trương này đã phá bỏ việc độc quyền biên soạn và phát hành, tạo sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng sách giáo khoa. Đây là tiền đề, đồng thời là một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết 29.
3.5.Về công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục đã có đổi mới, ngày càng thực chất, giảm được áp lực cho học sinh và toàn xã hội.
Đổi mới thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng đối với giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông được triển khai theo hướng đánh giá năng lực, kết hợp kết quả quá trình với kết quả cuối năm học. Việc tổ chức đánh giá chất lượng ở cấp cơ sở giáo dục, cấp địa phương và ở cấp quốc gia được thực hiện thường xuyên.
Các bậc học sau phổ thông đã chuyển việc tổ chức đào tạo theo niên chế sang tích lũy mô đun hoặc tín chỉ. Việc kiểm tra, đánh giá trình độ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ được thực hiện chặt chẽ hơn theo phương thức kết hợp đánh giá quá trình và đánh giá kết quả cuối cùng; chất lượng các luận văn, luận án từng bước theo tiêu chuẩn quốc tế (5).
Công tác đổi mới thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đại học, cao đẳng được triển khai theo hướng đánh giá năng lực, kết hợp kết quả quá trình với kết quả cuối năm học, giảm áp lực và tốn kém cho xã hội; khắc phục tình trạng học lệch, học tủ ở phổ thông và đã đi vào nề nếp, hiệu quả hơn. Thí sinh không phải lên các thành phố lớn để dự thi trong nhiều đợt, thay vào đó chỉ phải dự thi một lần, ngay tại địa phương, giúp giảm áp lực, giảm tốn kém cho gia đình, học sinh và xã hội; thí sinh được xét nhiều nguyện vọng, tăng cơ hội trúng tuyển vào trường và ngành học yêu thích. Điều này khẳng định mạnh mẽ quá trình đổi mới, thực hiện khâu đột phá thi trung học phổ thông, tuyển sinh đại học, cao đẳng đến nay đã đạt được mục tiêu của Nghị quyết 29 đề ra.
Ngoài ra, còn một số chỉ tiêu khác cũng được triển khai thực hiện như: Tự chủ đại học được đẩy mạnh, chất lượng đào tạo đại học có nhiều chuyển biến tích cực; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số trong ngành giáo dục; Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo.
4.Một số hạn chế trong quá trình thực hiện Nghị quyết 29
4.1.Trước hết nói về quan điểm chỉ đạo và mục mục tiêu đào tạo.
- Quan điểm đầu tiên và là trụ cột của các quan điểm: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Quan điểm nay nêu ra ngay từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII). Sau 17 năm triển khai thực hiện, Trung ương đã nhận định: “Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển GD&ĐT, nhất là quan điểm ‘giáo dục là quốc sách hàng đầu’ còn chậm và lúng túng. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển GD&ĐT chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội. Với việc thực hiện Nghị quyết 29, đến nay, sau gần 10 năm thực hiện, thì quan điểm này vẫn chưa có gì đột phá hơn. Giáo dục vẫn chưa được coi là ‘quốc sách hàng đầu’. Hình như các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách cũng chưa hiểu thế nào là quốc sách? Quốc sách phải chăng phải để cho giáo dục giữ vị trí số một trong các chủ trương, chính sách, các chương trình phát triển của đất nước phải được đặt lên hàng đầu, mọi nguồn lực xã hội phải được tập trung cho giáo dục? Nhưng không có, thậm chí còn bị coi nhẹ. Ngành giáo dục chỉ sử dụng nhiều và rất nhiều người, nhưng quản lý con người và quản lý tài chính đều không! Ngành giáo dục cũng không có một chương trình dự án có nguồn kinh phí lớn, đủ để giải quyết những điểm ‘nghẽn’, những ‘nút thắt’ của ngành. Phải chăng đến bây giờ phải xem xét nội hàm của khái niệm ‘Giáo dục là quốc sách hàng đầu’, và phải chỉ ra được những việc làm cụ thể, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tương ứng với ‘Quốc sách hàng đầu’
- Mục tiêu giáo dục “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân”. Xin được nhấn mạnh phát huy tốt nhất tiền năng và khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, chương trình phổ thông năm 2018 đã cố gắng thực hiện điều này, nhưng chưa đủ, chương trình chú trọng đến chuẩn đầu ra của học sinh. Điều có thể ai cũng biết mỗi học sinh là một thực thể tồn tại và phát triển theo đặc tính riêng lẻ, không có ai giống ai, không có bất cứ một cặp người nào đó lại phát triển tiềm năng và khả năng sáng tạo giống nhau – theo một đầu định chuẩn. Vì vậy kết quả học tập của học sinh chỉ căn cứ vào chuẩn đầu ra là không đủ mà làm sao phải có nhiều loại chuẩn đầu ra mới đánh giá được tiềm năng và khả năng sáng tạo của học sinh.
4.2. Về chương trình và sách giáo khoa.
Có thể nói đây là một sự cố gắng lớn của Ngành giáo dục thời gian vừa qua. Chủ trương một chương trình và nhiều bộ sách giáo khoa là đúng và hợp với xu hướng phát triển của thời đại. Tuy nhiên, vì quá vội và phải chạy đua với cơ chế thầu khoán nên sách giáo khoa còn quá nhiều “sạn”. Năm bộ sách với năm tư tưởng chỉ đạo biện soạn khác nhau, tất nhiên không thể tránh khỏi những sai sót về mặt tư tưởng, định hướng biên soạn mà còn có nhiều sai sót về mặt kỹ thuật cúng như về mặt thể hiện ngôn ngữ và hình ảnh. Đấy là chưa kể các doanh nghiệp còn phải chạy đua với thị trường tiêu thụ nên không tránh khỏi những lợi ích của nhóm này với lợi ích của nhóm khác, vì vậy không quản lý được giá cả mà xã hội đã phải lên tiếng.
4.3. Về giáo viên.
Có thể nhận thấy đây là khâu yếu nhất. Tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết triệt để ở một số địa phương; chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, còn một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, cá biệt có những giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo, gây bức xúc xã hội.
Công tác đào tạo giáo viên còn nhiều bất cập, các cơ sở đào tạo giáo viên mọc lên như nấm. Các nhà trường từ trung cấp đến đại học ở đâu cũng có khoa, hoặc trung tâm đào tạo giáo viên. Công tác bồi dưỡng cũng chưa làm được tốt, mặc dù Bộ đã có quy định về chuẩn giáo viên các cấp bậc học, song việc bồi dưỡng mang nhiều tính hình thức.
Chế độ, lương bổng của giáo viên không được quan tâm đúng mức, đồng lương của giáo viên không đủ nuôi sống bản thân, chưa nói đến nuôi sống con cái, gia đình. Ngoài đồng lương, giáo viên không thu nhập nào khác, không có được sự ưu đãi nào khác, vì vậy tình trạng bỏ nghề, chạy nghề diễn ra phổ biến. Thâm chí hiện nay đã có tới 16 ngàn giáo viên xin thôi việc?
5. Đề xuất một số giải pháp.
5.1. Đổi mới tư duy hành động, họach định chủ trương đường lối phát triển giáo dục trong thời kỳ mới.
Vẫn nhắc quan điểm của Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết 29 ‘GD&ĐT là quốc sách hàng đầu’. Giải pháp này dành cho các nhà quản lý nhà nước và các nhà họach định chính sách. Cụ thế:
+ Phải có cơ chế đặc thù cho GD&ĐT như được quản lý và sử dụng con người, được làm chủ tài chính trong các hoạt động phát triển giáo dục.
+ Cho phép GD&ĐT xây dựng những chương trình trọng điểm của quốc gia như đào tạo nguồn nhân lực cho giáo dục; chương trình kiên cố hóa trường học, nhà công vụ cho giáo viên; chương trình sữa học đường...
Giải pháp này không cần nhiều nguồn lực nhưng tháo gỡ được những nút thắt, rào cản đổi mới giáo dục hiện nay.
5.2. Đối mới đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.
Trong giai đoạn đầu triển khai thực hiện Nghị quyết 29, ngành giáo dục chọn đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng là giải pháp đột phá, để thông qua đó điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp hơn. Giải pháp này đã cơ bản hoàn thành trong giai đoạn vừa qua. Giai đoạn 2021-2025, ngành giáo dục nên chọn đổi mới về đào tạo, bồi dưỡng, cơ chế, chính sách đối với giáo viên là giải pháp trọng điểm để thực hiện tốt Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng.
Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhân tố quyết định thành công sự nghiệp đổi mới giáo dục. Thời gian qua, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp đã được kiện toàn, nâng cao chất lượng một bước. Tuy nhiên, số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ còn bấp cập, một bộ phận không nhỏ chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, cần tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng trong thời gian tới; Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy và cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức trong ngành giáo dục bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; rà soát, sắp xếp và bố trí đủ số lượng giáo viên, giảng viên bảo đảm quy định về khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục, quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên đối với các cấp học.
Cần thiết phải rà soát, sắp xếp lại mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng xây dựng một số trường đại học sư phạm trọng điểm tại các vùng, miền và củng cố các trường cao đẳng sư phạm, cơ sở đào tạo bồi dưỡng giáo viên ở các địa phương theo ‘mô hình vệ tinh’ với các trường đại học sư phạm trọng điểm. Xây dựng cơ chế đặt hàng với các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cho địa phương, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, bảo đảm việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và phù hợp với quy định của Luật Giáo dục năm 2019.
Có cơ chế, chính sách tiền lương, những phụ cấp ưu đãi tối thiểu đảm bảo cho giáo viên có được những điều kiện tối thiểu để sống và dạy học. Động viên, khuyến khích nhà giáo và cán bộ quản lý không chỉ bằng tinh thần mà bằng cả vật chất...
5.3. Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý trong giáo dục.
Phải đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý và quản trị nhà trường, coi trọng quản lý chất lượng, hiệu quả quản trị nhà trường, gắn trách nhiệm quản lý chuyên môn với quản trị nhân sự và tài chính; hoàn thiện cơ chế để cơ quan quản lý giáo dục được tham gia quyết định trong quản lý nhân sự và phân bổ, sử dụng nguồn tài chính dành cho giáo dục của địa phương; Trao quyền tự chủ một cách đồng bộ, toàn diện cho các nhà trường và các cơ sở giáo dục; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, quản trị nhà trường; Triển khai hiệu quả hệ thống quản lý - quản trị giáo dục trực tuyến trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới.
5.4. Đẩy nhanh áp dụng công nghệ thông tin trong giáo dục
Những năm qua, ngành giáo dục đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đặc biệt trong đại dịch covid-19. Trước yêu cầu chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, ngành giáo dục cần xác định sứ mệnh tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ này, góp phần rút ngắn quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa và đóng góp tích cực vào quá trình chuyển đổi số quốc gia.
Phát triển tài nguyên số và môi trường học tập số, bổ sung vào kho học liệu số toàn ngành, ngân hàng câu hỏi trực tuyến dùng chung trong toàn ngành, kho bài giảng e-learning kết nối với Hệ tri thức Việt số hóa. Đẩy mạnh kỹ năng dạy học trực tuyến, kỹ năng chuyển đổi số và kỹ năng tham gia các hoạt động dạy, học trực tuyến đối với giáo viên và học sinh.
Tài liệu tham khảo
[1].Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 thay thế Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân được quy định tại Nghị định 90/CP năm 1993, Luật Giáo dục sửa đổi 2009, Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp.
[2].Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18-10-2016 phê duyệt khung trình độ quốc gia Việt Nam.
[3].Bộ GD&ĐT, Bộ GDĐT đã ban hành và trình cấp thẩm quyền ban hành 211 văn bản, gồm hai Luật, 18 nghị định và nghị quyết của Chính phủ; 40 quyết định và chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; 151 thông tư của Bộ trưởng làm cơ sở pháp lý quan trọng để các địa phương, các cơ sở giáo dục triển khai thực hiện trong công cuộc đổi mới giáo dục.
[4].Bộ GD&ĐT, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và các chương trình môn học, hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 29,
[5].Bộ GD&ĐT, Thông tư số 08/2017/TT-BGDĐT ngày 4-4-2017 ban hành quy chế tuyển sinh và đào tạo tiến sỹ.