Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp trong thực tập nghề của học viên trường trung cấp

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp trong thực tập nghề của học viên nhằm tìm ra phương thức hoạt động hạn chế sự khác biệt, tìm ra sự tương đồng, khai thác tối ưu các nguồn lực trong nhà trường với các nguồn lực ở các cơ sở thực tập, tạo ra cơ chế hoạt động có lợi cho cả các bên tham gia.
15:16 | 07/12/2022

1. Đặt vấn đề

Thực hành, thực tập là một nội dung quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các trường trung cấp. Thực hành, thực tập nhằm rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao tay nghề cho học viên là nhiệm vụ của nhà trường, nhưng lại được thực hiện ở các doanh nghiệp. Cơ sở thực tập nghề của học viên là các doanh nghiệp, các công ty, mọi hoạt động được thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ kinh doanh, theo quy luật kinh tế thị trường. Để huy động các nguồn lực tham gia vào hoạt động thực tập nghề của học viên, cần phải có hợp đồng, phối hợp sao cho đạt được mục đích, mục tiêu thực tập của học viên mà không ảnh hưởng xấu đến quy trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp trong thực tập nghề của học viên nhằm tìm ra phương thức hoạt động hạn chế sự khác biệt, tìm ra sự tương đồng, khai thác tối ưu các nguồn lực trong nhà trường với các nguồn lực ở các cơ sở thực tập, tạo ra cơ chế hoạt động có lợi cho cả các bên tham gia. Đồng thời, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động thực tập của học viên.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp trong thực tập nghề của học viên trường trung cấp

Thiếu Tá, TS. Ngô Thị Hằng đang hướng dẫn học viên

2. Xác định nội dung phối hợp

Luật giáo dục nghề nghiệp đã dành một chương quy định về quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Trong đó, tại Điều 51 quy định quyền của doanh nghiệp được phối hợp với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp khác để tổ chức đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo thường xuyên. Được tham gia xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo; tổ chức giảng dạy, hướng dẫn thực tập và đánh giá kết quả học tập của người học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Điều 52 quy định doanh nghiệp có trách nhiệm “Tham gia xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo; tổ chức giảng dạy, hướng dẫn thực tập, đánh giá kết quả học tập của người học tại cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp; tiếp nhận người học, nhà giáo đến tham quan, thực hành, thực tập nâng cao kỹ năng nghề thông qua hợp đồng với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp”.

Trong Điều lệ trường trung cấp, tại Điều 45 quy định Trường trung cấp chủ động phối hợp với doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo, để tổ chức cho người học tham quan, thực tập tại doanh nghiệp, gắn học tập với thực tiễn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Dựa trên các điều khoản quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 và Điều lệ trường trung cấp năm 2016, các nhà trường trung cấp cần phải chủ động xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề. Trong cơ chế phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp phải xác định rõ ràng các nội dung phối hợp về nhân lực, vật lực, tin lực và tài lực.

-Phối hợp về nhân lực. Trước hết, nhà trường phải tổ chức đội ngũ học viên như một nguồn nhân lực của công ty, doanh nghiệp ở các cơ sở thực hành, thực tập. Các cơ sở thực hành, thực tập căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của mình mà đặt ra những yêu cầu với nhà trường về sử dụng đội ngũ nhân lực cho phù hợp. Cần phải đảm bảo các yêu cầu chung theo quy định của luật lao động về sử dụng người lao động. Đồng thời, phải chấp hành các yêu cầu chung của doanh nghiệp đã được xác định. Các yêu cầu cụ thể, cần xác định rõ về số lượng nguồn nhân lực, về trình độ tay nghề, về những phẩm chất nghề nghiệp và thời gian tiếp nhận. Như vậy, doanh nghiệp có được nguồn nhân lực mới mà không phải chi phí về tiền công. Nhà trường có được cơ sở cho học viên thực hành, thực tập mà không cần mua sắm máy móc. Mặt khác, thông qua quá trình thực hành, thực tập mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn được những công nhân có năng lực để tuyển chọn về cho đơn vị mình.

-Phối hợp về vật lực. Quan trọng nhất trong thực hành, thực tập nghề của học viên là phải có máy móc và các vật dụng cần thiết cho người học thực hành. Đối với doanh nghiệp, đây là những vật dụng đều phải tính toán trong giá thành sản phẩm. Đối với học viên, trong thực hành, thực tập rất có thể sẽ làm hư hỏng các vật liệu hoặc tạo ra các sản phẩm không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật. Các doanh nghiệp không thể tung ra cho học viên thực hành một cách tự do được. Trong phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp phải tìm ra một phương thức tối ưu cho cả hai bên. Trong đó, cần xác định rõ những nội dung về cơ sở vật chất và các vật dụng nào do nhà trường tự đảm nhiệm, những vật dụng nào do doanh nghiệp đảm nhiệm.

-Phối hợp về tin lực. Tức là sự trao đổi thông tin giữa nhà trường với cơ sở thực tập. Trong xã hội thông tin, nhiều thông tin khoa học mới, nhiều thông tin về ngành nghề thường xuyên biến đổi. Trong đó, thông tin về mẫu mã thiết kế mới, về thị trường có giá trị rất cao đối với cả doanh nghiệp và phía học viên. Quá trình thực hành, thực tập là quá trình trao đổi thông tin giữa nhà trường với doanh nghiệp. Thông thường, các nhà trường có các thông tin về lý thuyết mới còn các cơ sở sản xuất thường có thông tin mới về thị trường. Quá trình phối hợp giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất trong thực hành, thực tập nghề của học viên cũng chính là quá trình phối hợp trao đổi thông tin cho nhau.

-Phối hợp về tài lực. Tài lực là nguồn tài chính chi cho các hoạt động thực hành, thực tập của học viên. Mỗi ngành nghề khác nhau có những yêu cầu khác nhau về nguồn tài chính. Nguồn tài chính này tuy không lớn nhưng phải có sự phối hợp thống nhất giữa nhà trường với cơ sở sản xuất. Cần phải xác định rõ ràng, những mục nào do nhà trường chi, những mục nào do cơ sở thực tập chi và những khoản nào do học viên phải đóng góp. Tức là phải tìm ra được một phương thức thu chi hợp lý, minh bạch, công khai.

3. Quy định chức năng, nhiệm vụ cho các bên có liên quan

Quảng cáo

Một nội dung quan trọng của xây dựng quy chế phối hợp giữa nhà trường và cơ sở thực hành, thực tập là quy định chức năng, nhiệm vụ cho các bộ phận có liên quan. Tùy theo từng cấp độ quản lý mà xác định chức năng nhiệm vụ của từng lực lượng cụ thể liên quan đến hoạt động thực hành, thực tập của học viên. Trong đó chỉ rõ cấp nào quản lý đến đâu, tổ chức thực hiện đến đâu, những phần việc nào cần phải phối hợp với lực lượng nào. Sao cho phát huy được tính tự chủ cao nhất của các bên, huy động được các nguồn lực ở mức tối ưu cho các hoạt động thực tập nghề của học viên.

Trong phạm vi nhà trường, Hiệu trưởng nhà trường cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị trong nhà trường đối với hoạt động thực hành, thực tập của học viên. Xác định những phần việc cần phải phối hợp giữa các lực lượng, xác định đơn vị chủ trì trong việc phối hợp đó.

Đối với các khoa chuyên ngành, cần phải phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong nhà trường để làm tốt công tác chuẩn bị cho học viên đi thực hành, thực tập. Khi thực tập ở các doanh nghiệp ngoài nhà trường, khoa chuyên ngành phải chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp và các lực lượng có liên quan.

Đối với các doanh nghiệp có học viên đến thực tập phải cắt cử người có đủ thẩm quyền để ký kết các văn bản phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp. Đồng thời phải chỉ đạo các lực lượng trong doanh nghiệp tiến hành các phần việc trong quá trình có học viên đến thực tập.

4. Phương thức phối hợp

Một là, xây dựng cơ chế phối hợp theo phương thức quản lý bằng quyền lực. Trong quản lý nhà nước về đào tạo nghề thường được tiến hành theo phương thức quản lý bằng quyền lực. Theo phương thức này, ở cấp vĩ mô, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo về dạy nghề với cơ quan quản lý nhà nước của bộ, ngành chủ quản có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng cơ chế phối hợp giữa các nhà trường với các đơn vị cơ sở. Đó là văn bản pháp lý bắt buộc các nhà trường và các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải nghiêm túc thực hiện. Theo phương thức này, nhà nước phải đầu tư, quản lý các hoạt động thực hành, thực tập nghề của học viên các trường trung cấp đào tạo nghề.

Hai là, xây dựng cơ chế phối hợp theo phương thức liên kết. Đây là cơ chế quản lý tự chủ, là xu hướng chủ đạo hiện nay. Tùy theo tổ chức của nhà trường và doanh nghiệp mà có phương thức liên kết sao cho phù hợp. Đối với các nhà trường độc lập với doanh nghiệp thì phải xây dựng cơ chế phối hợp liên kết giữa hai đơn vị độc lập với nhau. Theo cơ chế này, nhà trường phải chủ động liên hệ với cơ sở thực hành, thực tập, xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động giữa hai bên. Sau khi bàn bạc đi đến thống nhất, cả hai bên cùng ký vào văn bản, cơ chế phối hợp trở thành văn bản pháp lý. Theo tránh nhiệm đã được phân công, mỗi bên tự chịu trách nhiệm phần công việc của mình. Cơ chế phối hợp này linh hoạt hơn và sát với thực tiễn hơn. Đối với các nhà trường trung cấp nằm trong doanh nghiệp, trực thuộc doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất nằm trong nhà trường thì xây dựng cơ chế phối hợp liên kết giữa hai đơn vị thành viên.

Ba là, cơ chế phối hợp thông qua một tổ chức trung gian. Trong trường hợp thành lập được hiệp hội các trường dạy nghề thì việc xây dựng cơ chế phối hợp sẽ thuận lợi hơn. Hiệp hội các trường nghề sẽ tập trung đại diện các nhà trường và các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong cùng một nhóm ngành và xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động. Bản cơ chế này được tất cả các bên liên quan cùng tham gia xây dựng, cùng có trách nhiệm và quyền lợi trong quá trình tổ chức thực hiện. Theo phương thức phối hợp này sẽ tạo được sự thống nhất trong toàn ngành và trong toàn quốc. Đối với những nghề đặc biệt, khi cần phải phối hợp với các doanh nghiệp nước ngoài, các nhà trường có thể thông qua hiệp hội các trường đào tạo nghề để tìm hiểu thêm về luật lao động và các quy định của doanh nghiệp đó, tìm hiểu năng lực của doanh nghiệp trước khi tiến hành ký kết các hợp đồng phối hợp với các doanh nghiệp nước ngoài.

5. Kết luận

Phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực lao động chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa đất nước là một xu hướng phát triển mới trong đào tạo nghề hiện nay. Để thu hút các doanh nghiệp tham gia đào tạo cùng với nhà trương, đòi hỏi phải xây dựng được cơ chế phối hợp mang tính pháp lý. Cơ chế phối hợp phải xác định được nội dung phối hợp, phương thức phối hợp và quy định trách nhiệm, quyền lới, đảm bảo cho cả nhà trường và doanh nghiệp cùng có lợi ích, cùng phát triển.

Tài liệu tham khảo

1.Nguyễn Minh Đường (2006), Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội

2.Nguyễn Thị Hằng (2013), Quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, ĐH Giáo dục.

3.Đoàn Như Hùng (2018), Quản lý liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, Luận án Tiến sĩ Quản lý giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

4.Trần Đình Tuấn, Sư phạm quân sự thực hành, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018

BỒI DƯỠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT CHO SĨ QUAN TRẺ Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

BỒI DƯỠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT CHO SĨ QUAN TRẺ Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

Văn hóa pháp luật là một trong những phẩm chất cơ bản của nhân cách, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi, tự giác thực hiện những quy tắc, quy định theo chuẩn mực xã hội và kỷ cương, phép nước. Đối với sĩ quan trẻ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, văn hóa pháp luật là yếu tố quan trọng giúp cho mỗi cá nhân tự hoàn thiện bản thân, bảo đảm cho việc hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.