HÀNH TRÌNH 80 NĂM GIÁO DỤC VIỆT NAM: TỪ “DIỆT GIẶC DỐT” ĐẾN CHUYỂN ĐỔI SỐ TOÀN DIỆN

TCGCVN - Trong lịch sử dân tộc, giáo dục Việt Nam luôn gắn liền với vận mệnh đất nước, vừa là công cụ khai dân trí, vừa là động lực phát triển. Trải qua 80 năm từ sau Cách mạng Tháng 8/1945, nền giáo dục nước ta đã đi qua nhiều chặng đường đầy thử thách nhưng cũng rực rỡ thành tựu: từ phong trào “diệt giặc dốt” đến phổ cập toàn dân, từ giáo dục kháng chiến đến cải cách, từ thống nhất hệ thống đến đổi mới căn bản và toàn diện, từ xã hội hóa đến hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.
08:03 | 24/08/2025

TCGCVN - Trong lịch sử dân tộc, giáo dục Việt Nam luôn gắn liền với vận mệnh đất nước, vừa là công cụ khai dân trí, vừa là động lực phát triển. Trải qua 80 năm từ sau Cách mạng Tháng 8/1945, nền giáo dục nước ta đã đi qua nhiều chặng đường đầy thử thách nhưng cũng rực rỡ thành tựu: từ phong trào “diệt giặc dốt” đến phổ cập toàn dân, từ giáo dục kháng chiến đến cải cách, từ thống nhất hệ thống đến đổi mới căn bản và toàn diện, từ xã hội hóa đến hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

HÀNH TRÌNH 80 NĂM GIÁO DỤC VIỆT NAM: TỪ “DIỆT GIẶC DỐT” ĐẾN CHUYỂN ĐỔI SỐ TOÀN DIỆN

Bình dân học vụ. Ảnh: Tư liệu

1945 – 1954: Đặt nền móng dân trí mới

Ngay sau ngày độc lập, đất nước phải đối mặt với tình trạng hơn 90% dân số mù chữ. Chính phủ đã coi “diệt giặc dốt” là nhiệm vụ cấp bách, phát động phong trào Bình dân học vụ, xóa mù cho hàng triệu người dân. Cuộc Cải cách giáo dục 1950 đã đặt ra ba nguyên tắc nền tảng: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa, qua đó đào tạo thế hệ “công dân kháng chiến”. Đây là bước ngoặt mở đường để giáo dục trở thành một mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ 1954.

1954 – 1975: Giáo dục trong chia cắt và kháng chiến

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời chia đôi. Miền Bắc tiến hành cải cách giáo dục 1956, xây dựng hệ thống phổ thông 10 năm, phát triển đại học từ 5 trường năm 1959 lên 17 trường vào năm 1965. Đến năm 1958, 93,4% nhân dân độ tuổi 12–50 ở đồng bằng và trung du đã biết chữ. Hàng vạn cán bộ, trí thức được đào tạo, góp phần chi viện cho miền Nam. Ở miền Nam, trong vùng giải phóng, hệ thống giáo dục cách mạng phát triển linh hoạt. Số học sinh tăng từ khoảng 10.000 năm 1960 lên 84.000 năm 1964, với hàng triệu bản sách giáo khoa được in ấn. Trong khói lửa chiến tranh, giáo dục miền Nam vẫn giữ vai trò nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh, chuẩn bị nguồn nhân lực cho ngày thống nhất.

1975 – 1986: Thống nhất và cải cách giáo dục

Sau ngày đất nước toàn thắng, ngành Giáo dục nhanh chóng tiếp quản, thống nhất hệ thống trường lớp, triển khai chiến dịch xóa mù chữ cho gần 1,4 triệu người tại miền Nam chỉ trong vòng 3 năm. Nghị quyết 14-NQ/TW (1979) khởi động cuộc Cải cách giáo dục lần thứ ba, xây dựng hệ thống phổ thông 12 năm thống nhất trên cả nước, biên soạn bộ sách giáo khoa chung.

Dù chịu tác động nặng nề của khủng hoảng kinh tế, ngân sách dành cho giáo dục chỉ đạt 3,5–3,7% tổng chi ngân sách, nhiều nơi 40% phòng học là tạm bợ, nhưng ngành vẫn duy trì quy mô, hoàn thành sứ mệnh lịch sử thống nhất giáo dục quốc dân, góp phần củng cố đại đoàn kết dân tộc.

1986 – 2000: Đổi mới, phục hồi và hội nhập ban đầu

Quảng cáo

Đường lối Đổi mới (1986) đã mở ra giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ. Giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, chuyển sang xã hội hóa, đa dạng hóa loại hình. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (1991) và Luật Giáo dục (1998) tạo hành lang pháp lý nền tảng. Đến năm 2000, Việt Nam đã hoàn thành phổ cập tiểu học, xóa mù chữ trên toàn quốc, đồng thời triển khai phổ cập THCS. Hệ thống giáo dục đại học được tái cấu trúc với sự ra đời của Đại học Quốc gia và các đại học vùng. Hàng vạn phòng học tạm được thay thế trong chương trình “kiên cố hóa trường lớp”. Đội ngũ nhà giáo phát triển cả về số lượng và chất lượng, đời sống từng bước cải thiện.

2000 – 2025: Đổi mới toàn diện, hội nhập và chuyển đổi số

HÀNH TRÌNH 80 NĂM GIÁO DỤC VIỆT NAM: TỪ “DIỆT GIẶC DỐT” ĐẾN CHUYỂN ĐỔI SỐ TOÀN DIỆN

Chuyển đổi số toàn diện

Bước sang thế kỷ XXI, giáo dục Việt Nam đạt nhiều thành tựu đột phá. Năm 2010, cả nước hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Năm 2017, đạt chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi với gần 99% trẻ đi học.

Nghị quyết 29-NQ/TW (2013) mở ra cuộc đổi mới căn bản, toàn diện, ban hành Chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất, triển khai sách giáo khoa mới. Ở bậc đại học, số sinh viên trên 1 vạn dân tăng từ 117 năm 2000 lên hơn 200 năm 2010, nhiều chương trình đạt chuẩn khu vực và quốc tế.

Trong giáo dục nghề nghiệp, đến năm 2020 có 70% lao động qua đào tạo nghề được cấp chứng chỉ. Đặc biệt, đại dịch COVID-19 (2020–2021) thúc đẩy dạy học trực tuyến quy mô lớn, với phương châm “tạm dừng đến trường, không dừng học”.

Quyết định 131/QĐ-TTg (2022) đã khẳng định mục tiêu xây dựng hệ sinh thái giáo dục số toàn diện, với cơ sở dữ liệu ngành, kho học liệu mở và kỹ năng số cho đội ngũ giáo viên, học sinh.

Người thầy, trung tâm của đổi mới giáo dục.

Nhìn lại chặng đường 80 năm, giáo dục Việt Nam đã khẳng định sức mạnh trí tuệ, bản lĩnh kiên cường và tầm nhìn chiến lược. Song trước mắt còn nhiều thách thức: hội nhập sâu rộng, chuyển đổi số toàn diện, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong bối cảnh đó, đội ngũ nhà giáo giữ vai trò then chốt. Họ không chỉ là “kỹ sư tâm hồn”, mà còn là lực lượng tiên phong trong truyền thụ tri thức, nuôi dưỡng nhân cách, khơi dậy khát vọng sáng tạo ở thế hệ trẻ.

Mỗi thầy, cô giáo chính là cầu nối đưa các chủ trương, nghị quyết đi vào đời sống, tạo nên sức sống mới cho nền giáo dục. Để đáp ứng yêu cầu phát triển, toàn ngành cần tiếp tục kiên định đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ, gắn kết chặt chẽ nhà trường, gia đình, xã hội. Đó không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là trách nhiệm đối với lịch sử và tương lai dân tộc.

Giáo dục Việt Nam đã đi qua một hành trình 80 năm đầy tự hào. Và chính từ khát vọng, bản lĩnh cùng lương tri nghề nghiệp của người thầy, chúng ta có cơ sở vững chắc để tin tưởng rằng: giáo dục sẽ tiếp tục là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.