QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ GIÁO DỤC,
ĐÀO TẠO CÁN BỘ QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG VÀ QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH NHÀ TRƯỜNG QUÂN SỰ ĐẦU TIÊN
1. Quan điểm đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, đào tạo cán bộ quân đội cách mạng
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay từ khi mới thành lập, trong chánh cương vắn tắt của Đảng đã xác định phải “tổ chức ra quân đội công nông”. Tư tưởng đó được cụ thể hoá trong Hội nghị lần thứ nhất của Trung ương (10.1930) như sau: "Mục đích của Đảng là lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động. Vậy nên ngay từ bây giờ Đảng phải tổ chức bộ quân sự của Đảng để:
1. Làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện;
2. Giúp cho Công Nông hội tổ chức đội tự vệ;
3. Vận động trong quân đội của bọn địch nhân" [4, tr.45].

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao lá cờ thêu 6 chữ vàng
“Trung với nước - Hiếu với dân”cho Khóa 1, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn.
Những quan điểm quân sự đầu tiên của Đảng được phản ánh trong các văn kiện hội nghị trên các vấn đề cơ bản như sau:
1. Bạo lực là phương thức cơ bản để giành chính quyền và đạt được mục đích của cách mạng. Đường lối quân sự của Đảng dựa trên nền tảng lý luận là tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác - Lênin.
2. Nhiệm vụ chính trị quyết định nhiệm vụ quân sự
3. Đấu tranh cách mạng nói chung và đấu tranh vũ trang nói riêng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân.
4. Lực lượng vũ trang khi được thành lập phải là "quân đội công nông cách mạng" dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng [5, tr.22-23].
Như vậy, ngay từ trong các văn kiện đầu tiên của Đảng, vấn đề tổ chức quân đội và huấn luyện quân sự đã được đặt ra, những quan điểm quân sự cơ bản của Đảng được hình thành. Đó là cơ sở lý luận ban đầu có ý nghĩa định hướng toàn bộ quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự hình thành các nhóm vũ trang cách mạng và sự hình thành những tư tưởng giáo dục quân sự ở các giai đoạn sau.
Tháng 3 năm 1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc). Ngoài những nghị quyết chung, Đại hội còn có riêng một nghị quyết về đội tự vệ. Trong đó có mục chuyên đề bàn về "Quân sự huấn luyện quần chúng và cách mạng vận động" [4, tr. 115, 116]
Về vai trò của giáo dục quân sự, nghị quyết chỉ ra rằng: "Đội tự vệ chẳng những cần phải hộ vệ quần chúng hàng ngày mà còn phải tập luyện, chớ để tới cuộc tranh đấu mới tổ chức thì chậm trễ, có hại, tự vệ hành động không thống nhất, không thạo, không lanh, kế hoạch không tinh tường, nhiệm vụ không thấu rõ và kỷ luật không nghiêm chỉnh... Tổ chức tự vệ, một mặt phải có các đội thường trực, cương quyết có thao luyện, biết mình, biết cảnh, biết quân thù có hệ thống, chỉ huy cứng cáp, hàng ngày bảo hộ quần chúng" [4, tr.117]. Nghị quyết chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân thất bại của Xô viết Trung Quốc và Xô viết Nghệ Tĩnh là không huấn luyện quần chúng về đường quân sự.
Về nội dung huấn luyện, nghị quyết chỉ rõ "Cách mạng quân sự huấn luyện hiện nay là: a) Huấn luyện cho đồng chí, cho các Đội tự vệ công nông biết dùng các môn binh khí thông thường như súng lục, súng trận, liên thanh, tạc đạn; biết chiến thuật đánh nhau trong thành phố, chiến thuật du kích chiến tranh, v.v... b) Huấn luyện cho các Đội tự vệ biết chức trách chính trị của mình" ngoài ra, nghị quyết còn nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục phương pháp vận động cách mạng, tập hợp quần chúng và giáo dục quan điểm kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh phi vũ trang
Về tổ chức và phương pháp huấn luyện quân sự, nghị quyết chỉ ra rằng: "Căn cứ vào khu vực, mà hiệp công nông tự vệ đội thành bộ đội để tiện việc chỉ huy thao diễn". "Trong, sau những cuộc mít tinh, cuộc thị oai, nếu có hoàn cảnh thuận tiện thì kéo dài quần chúng tập đi đứng cho có hàng ngũ, tập cách thức tránh tàu bay, trách tạc đạn, liên thanh", v.v...
Như vậy, lần đầu tiên có một nghị quyết của Đảng, có mục chuyên đề bàn về tổ chức và huấn luyện quân sự. Những nguyên tắc xây dựng về chính trị và quân sự của lực lượng nửa vũ trang cách mạng đã được đề ra. Những nguyên tắc đó thể hiện thấm nhuần quan điểm giai cấp, quan điểm thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giáo dục, xây dựng lực lượng nửa vũ trang trong hoàn cảnh đấu tranh chính trị lúc bấy giờ. Đó là những vấn đề có ý nghĩa định hướng cho các hoạt động tổ chức giáo dục, huấn luyện của các lực lượng vũ trang lúc bấy giờ.
2. Quá trình hình thành tổ chức giáo dục quân sự của các đội vũ trang cách mạng đầu tiên
Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên có công trong việc tổ chức đào tạo cán bộ quân sự cho cách mạng Việt Nam. Từ năm 1925 đến tháng 4 năm 1927, tại Quảng Châu Trung Quốc, người đã mở được 10 khoá học, mỗi khoá một tháng rưỡi đến ba tháng. Đây là trường học đầu tiên của dòng giáo dục cách mạng Việt Nam. Trong tổng số trên 200 cán bộ được đào tạo ở các lớp học này, có cán bộ quân sự. Một số cán bộ đã được Người lựa chọn cử đi học ở học viện quân sự Hoàng Phố. Đó là các đồng chí : Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Lê Quốc Vọng (tức là Thiết Hùng), Vũ Nguyên Bát (tức Nguyễn Sơn), Phùng Chí Kiên, Hoàng Điền, Lương Văn Chi (tức Huy Còm)... Đồng chí Lê Hồng Phong sau được cử sang học tiếp ở Liên Xô và trở thành sĩ quan không quân Việt Nam đầu tiên.
Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Các hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (11/1939), lần thứ 7 (11/1940) và lần thứ 8 (5/1941) đã từng bước hoàn chỉnh sự chuyển hướng hình thức đấu tranh, từ đấu tranh chính trị tiến lên đấu tranh vũ trang và cách tiến hành chuẩn bị lực lượng cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Sau Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, mặt trận Việt Minh được thành lập. Các tổ chức trong mặt trận đều tổ chức thành hội cứu quốc, trong đó có đội tự vệ cứu quốc Việt Nam. Cũng trong thời kỳ này, các căn cứ du kích và các đội quân đầu tiên đã ra đời.
Sự phát triển của các căn cứ du kích, sự ra đời của các đội quân cách mạng đã đặt ra vấn đề phải đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng cho nhu cầu thực tiễn cách mạng. Mặt khác, để chuyển từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang và chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa vũ trang thì phải mở rộng các lớp huấn luyện quân sự cho các đơn vị cứu quốc quân, các đội du kích và quần chúng cách mạng. Trong bối cảnh đó, nhiều lớp huấn luyện quân sự và học tập chính trị đã được tổ chức.
Cuối năm 1940, lớp quân chính đầu tiên của Đảng được tổ chức ở Đức Thắng (Bắc Giang). Lớp học do đồng chí Lương Văn Chi, uỷ viên thường vụ xứ ủy Bắc Kỳ phụ trách.
Đầu tháng 12 năm 1940, tại Trịnh Tây (Trung Quốc) giáp vùng biên giới Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Phùng Chí Kiên, ủy viên Trung ương Đảng cùng với các đồng chí khác đã mở lớp học ngắn ngày cho 40 đảng viên và quần chúng trung kiên của Đảng. Đây là số các đồng chí ở Cao Bằng bị đế quốc Pháp khủng bố phải vượt biên giới chạy ra nước ngoài. Sau lớp học, các đồng chí này đã trở về nước hoạt động ở vùng Cao Bằng.
Tháng giêng năm 1941, Trung ương Đảng quyết định tổ chức những lớp quân sự, chính trị ngắn ngày ở khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai để kịp thời nâng cao kiến thức quân sự, trình độ chính trị và ý thức kỷ luật cho quân du kích. Đồng thời nhằm bồi dưỡng, phát triển lực lượng vũ trang Bắc Sơn làm vốn quân sự đầu tiên của cuộc khởi nghĩa sau này và để chuẩn bị lực lượng cho các cơ sở khắp Bắc Kỳ.
Ngày 14 tháng 2 năm 1941, đội du kích Bắc Sơn được chính thức thành lập. Trong một thời gian ngắn, các tổ chức phản đế, các đội tự vệ được phục hồi và phát triển mở rộng từ khu vực Bắc Sơn xuống phía Đình Cả (Vũ Nhai). Lúc này, phong trào học tập quân sự lên khá mạnh. Khe Khuổi Nọi, rừng Phú Thượng, Lân Thượng, Bản Ít, Rừng Xá..., những cơ sở của quân du kích đều biến thành nơi huấn luyện quân sự cho du kích và tự vệ. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đã trực tiếp phổ biến tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ đội du kích Bắc Sơn. Đây là cuộc học tập đầu tiên về đường lối, chính sách của Đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng. Lúc này, đội du kích Bắc Sơn được đổi tên thành Cứu quốc quân.
Ngày 15 tháng 9 năm 1941, trung đội cứu quốc quân thứ hai được thành lập. Ngay sau ngày thành lập, cứu quốc quân 2 đã luân phiên nhau vừa hoạt động vừa vào trong rừng già để chấn chỉnh, học tập. Đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Trung ương Đảng trực tiếp giáo dục đường lối, chính sách mới của Đảng cho cứu quốc quân.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của cứu quốc quân và phong trào tự vệ, vấn đề huấn luyện quân sự càng trở nên cấp thiết. Trong thời kỳ này, Trung ương Đảng đã kịp thời ra các nghị quyết để lãnh đạo việc tổ chức và huấn luyện quân sự cho các lực lượng vũ trang. Nguyễn Ái Quốc đã tự tay biên soạn một số tài liệu về chiến thuật du kích để làm tài liệu huấn luyện cho các đội tự vệ. Những tác phẩm đó là: cách đánh du kích, kinh nghiệm du kích Trung hoa, kinh nghiệm du kích Pháp. Người còn biên soạn, "phép dùng binh của Tôn Tử" và "Sách dạy làm tướng của Khổng Minh" mà người đặt dưới một đầu đề mới là cách huấn luyện cán bộ quân sự.
Cũng vào thời gian này, liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng đã mở lớp đào tạo cán bộ quân sự ngắn ngày do các đồng chí Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp tổ chức và huấn luyện. Ngoài những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, tài liệu huấn luyện còn có cuốn "Người chính trị viên" của Phạm Văn Đồng và cuốn "Công tác chính trị trong quân đội cách mạng" của Võ Nguyên Giáp.
Cuối năm 1941, Nguyến Ái Quốc chỉ thị tổ chức Đội vũ trang Cao Bằng, do đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, đội còn có nhiệm vụ làm công tác tuyên truyền và giúp đỡ việc huấn luyện tự vệ và tự vệ chiến đấu.
Đồng thời với việc đào tạo cán bộ trong nước, một số cán bộ, đảng viên đã được lựa chọn cử đi học quân sự ở nước ngoài. Biết chính quyền Tưởng Giới Thạch đang muốn mở lớp đào tạo một số người Việt để chuẩn bị thực hiện ý đồ "Hoa quân nhập Việt", Trung ương Đảng và Nguyễn Ái Quốc đã có phương pháp ngoại giao khôn khéo, cử người sang học ở trường quân sự tỉnh Quảng Tây. Trong đó có các đồng chí Hoàng Văn Thái, Thanh Phong, Hoàng Minh Thảo, Đàm Quang Trung, Trương Văn Quyền (tức Vũ Lập)... Sau khi về nước, các đồng chí này đã được phân công đi tổ chức huấn luyện các đội tự vệ cứu quốc ở các địa phương.
Ngày 25 tháng 2 năm 1944, trung đội cứu quốc quân thứ 3 được thành lập. Lực lượng vũ trang phát triển mạnh mẽ, phong trào cách mạng quần chúng mở rộng, vấn đề cán bộ và huấn luyện quân sự cho các lực lượng vũ trang địa phương càng trở nên cấp thiết.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Trong chỉ thị thành lập đội, đã xác định rằng "Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên" [4, tr.262] . Chỉ thị cũng chỉ ra cách thức tổ chức huấn luyện của các đội vũ trang địa phương.
Đầu năm 1945, phong trào cách mạng trong cả nước ta đã chuyển dần sang một thời kỳ mới - thời kỳ cao trào chống Nhật, cứu nước và gấp rút sửa soạn, chuẩn bị trực tiếp cho khởi nghĩa và tranh giành chính quyền.
Đến cuối tháng 4 năm 1945, một khu vực rộng lớn gần hết các xã, châu, huyện ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang, đã được giải phóng, chính quyền cách mạng được thành lập. Lực lượng cứu quốc quân và Việt Nam truyên truyền giải phóng quân đã phát triển thành nhiều đại đội. Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp nhất lúc bấy giờ. Thời cơ tổng khởi nghĩa đang đến gần.
Trước tình hình trên, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, tại huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang), do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng chủ trì. Đây là hội nghị quân sự lớn nhất đầu tiên của Đảng ta. Hội nghị đã chỉ rõ: "Chúng ta đang ở vào giai đoạn chiến lược phát động du kích để chuẩn bị phát động tổng khởi nghĩa". Hội nghị quyết định thống nhất Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cùng các tổ chức vũ trang khác, thành lập Việt Nam giải phóng quân. Hội nghị vạch ra những quan điểm cơ bản để xây dựng Việt Nam giải phóng quân như sau:
- Thống nhất biên chế.
- Thống nhất việc huấn luyện chính trị, quân sự.
- Tổ chức công tác chính trị trong bộ đội, trau dồi kỷ luật.
- Lựa chọn những đội viên khá huấn luyện thành đội trưởng và chính trị viên.
- Mở trường quân chính kháng Nhật.
Đồng thời hội nghị đã quyết định nhiều vấn đề chiến lược quân sự quan trọng khác.
Ngày 15 tháng 5 năm 1945, lễ thành lập Việt Nam giải phóng quân được tổ chức tại Định Biên Thượng (chợ Chu, Thái Nguyên). Các đơn vị Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thống nhất thành bộ đội chủ lực của Việt Nam giải phóng quân. Nhiều trung đội, đại đội giải phóng quân mới được thành lập. Lực lượng càng phát triển mở rộng, vấn đề huấn luyện quân sự và giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện tinh thần cách mạng cho bộ đội càng trở nên cấp thiết. Vì vậy, song song với việc phát triển lực lượng của giải phóng quân, công tác giáo dục - huấn luyện quân sự cũng trở thành phong trào rất mạnh mẽ.
Nhìn chung tình hình giáo dục - huấn luyện quân sự trong thời kỳ này có những đặc điểm cơ bản như sau:
- Các hoạt động giáo dục - huấn luyện quân sự từng bước được mở rộng, gắn liền với sự hình thành, phát triển của các đội vũ trang cách mạng và phong trào cách mạng của quần chúng. Giáo dục đã đóng góp vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành các nhóm vũ trang cách mạng đầu tiên. Mục đích của giáo dục quân sự lúc bấy giờ là rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật du kích và phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ chính trị, quân sự cho các lực lượng vũ trang, đáp ứng nhu cầu chiến đấu trước mắt và chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
- Nội dung giáo dục bao gồm: Về chính trị, các đơn vị thường học tập chương trình Việt Minh, Mười lời thề, mười hai điều kỷ luật, học cách tiến hành công tác động viên chính trị trong chiến đấu và trong công tác khác. Các đảng viên được học thêm nghị quyết của Trung ương Đảng và tài liệu Cộng sản sơ giải.
Về quân sự, nội dung chủ yếu là huấn luyện các động tác kỹ thuật và chiến thuật du kích. Điều lệ tiểu tổ du kích cứu quốc đã quy định nội dung huấn luyện như sau: "Phải tập luyện cho thạo cách tập trung, giải tán, đánh tháo, giải vây, phục binh, dùng hiệu lệnh, lại còn phải tập cách lội sông, trèo núi, tập võ, tập vẽ bản đồ và tập xem bản đồ, tập phá phách các đường sá, cầu cống, các cơ quan giao thông, quân sự, chính trị, v.v... [4, tr.214].
Tài liệu huấn luyện chủ yếu là các tác phẩm do Nguyễn Ái Quốc biên soạn. Ngoài ra còn có cuốn "Người chính trị viên" của Phạm Văn Đồng và cuốn "Công tác chính trị quân đội cách mạng" của đồng chí Võ Nguyễn Giáp.
- Hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục, huấn luyện rất đa dạng. Ngoài những lớp huấn tập trung ngắn ngày do Nguyễn Ái Quốc và Trung ương tổ chức còn có các hình thức huấn luyện mang tính dã chiến nhưng rất linh hoạt và sáng tạo của các đơn vị Cứu quốc quân, các đội tự vệ du kích. Các đơn vị đã luân phiên nhau vừa hoạt động vừa tổ chức học tập. Xen kẽ giữa các trận chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Cứu quốc quân lại tổ chức học tập, kiểm điểm, rút kinh nghiệm, nêu ra những hành động tàn bạo của quân thù để giáo dục lòng căm thù giặc, nâng cao ý chí chiến đấu và bồi dưỡng cho nhau kiến thức chính trị, quân sự. Ngoài ra, các đơn vị chủ lực còn ra được những tờ báo để giáo dục nội bộ.
Việc tổ chức huấn luyện được quy định riêng cho từng loại quân. Đối với quân chủ lực - Việt Nam giải phóng quân "Trong ba tháng các đội viên phải được huấn luyện chương trình quân sự và chính trị sơ cấp cho xong" [4, tr.294]. Đối với các tiểu tổ du kích "Những tiểu tổ mới tổ chức hoặc những đội viên mới gia nhập phải tập luyện ít nhất là 15 ngày và sau đó cứ cách 13 ngày lại tập một ngày" [4, tr.214]. Đối với tự vệ "Mỗi xã phải tổ chức ít nhất một tiểu đội tự vệ 12 người, trong ba tháng huấn luyện cho xong" [4, tr.294]. Các địa phương chưa có người phụ trách quân sự thì cấp trên sẽ cử huấn luyện về để huấn luyện. Trong chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã chỉ ra cách tổ chức huấn luyện như sau: "Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến" [4, tr.262].
Tóm lại, mặc dù các lực lượng vũ trang cách mạng đang trong thời kỳ hình thành, nhiệm vụ chiến đấu hết sức khó khăn gian khổ, nhưng ngay từ những ngày đầu mới thành lập, từ các đội tự vệ bán vũ trang đến các đội du kích, các đội Cứu quốc quân và Việt Nam tuyền truyền giải phóng quân đều rất coi trọng việc giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự. Tuy nhiên, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, huấn luyện còn là những vấn đề mới mẻ, chưa có lý luận theo hệ thống, chưa có cơ quan chuyên trách, tài liệu và các điều kiện đảm bảo cho huấn luyện còn hết sức giản đơn. Nhưng nhờ có sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, có ý chí quyết tâm cao của cán bộ, chiến sĩ các đơn vị nên phong trào giáo dục - huấn luyện đã đáp ứng được những yêu cầu thiết thực của nhiệm vụ cách mạng lúc bấy giờ.
Có thể khẳng định rằng, nhờ có giáo dục mà trình độ chính trị, quân sự của các lực lượng vũ trang ngày một tiến bộ. Tinh thần đoàn kết, nhất trí, tình thương yêu giai cấp, lòng yêu nước, căm thù giặc trong các đơn vị không ngừng được nâng cao. Đến đầu năm 1945, nhiều chiến sĩ Cứu quốc quân đã có thể trở thành cán bộ có khả năng hoạt động độc lập trong phong trào quần chúng. Đó là điều kiện rất quan trọng cho sự phát triển và hợp nhất các lực lượng vũ trang lúc bấy giờ.
Phong trào học tập chính trị, quân sự của lực lượng tự vệ được lan rộng khắp nơi. Đến cuối năm 1941, hầu hết thanh niên gái, trai các xã "hoàn toàn" đều tham gia tổ chức tự vệ và đều trải qua tập luyện một hai kỳ. Mỗi xã đều có một hay hai trung đội tự vệ chiến đấu được tổ chức và huấn luyện khá chu đáo.
Những kết quả đó là cơ sở ban đầu làm vốn cho sự hình thành các nhà trường quân sự và công tác giáo dục, huấn luyện của các đơn vị ở giai đoạn sau.
3. Sự hình thành Trường Quân chính kháng Nhật và công tác đào tạo cán bộ cho quân đội chủ lực
Thực hiện nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, việc chuẩn bị thành lập Trường Quân chính kháng Nhật được tiến hành gấp rút và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo. Sau một thời gian chuẩn bị, đến đầu tháng 6 năm 1945, trường quân chính kháng Nhật được thành lập tại khu vực xóm Khuổi Kịch, thuộc xã Tân Trào, châu Tự Do (nay là huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang). Đây là trường quân sự cách mạng đầu tiên của quân đội ta. (Hiện nay trường sĩ quan Lục quân 1 lấy ngày 15 tháng 4 năm 1945, ngày họp của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ quyết định mở Trường Quân chính kháng Nhật làm ngày truyền thống của trường).
Về tổ chức, Ban giám hiệu nhà trường gồm 4 đồng chí. Đồng chí Hoàng Văn Thái được chỉ định làm giám đốc, đồng chí Thanh Phong (tức Nguyễn Tri Phương) làm phó giám đốc đầu tiên của trường. Các đồng chí Trương Văn Linh và Nguyễn Văn Lý (tức Hoàng Hữu Kháng) được phân công phụ trách công tác đảm bảo vật chất của trường.
Cán bộ khung của trường là các đồng chí đã được đào tạo qua trường quân sự Quảng Tây và có kinh nghiệm thực tiễn huấn luyện, chiến đấu.
Trường có nhiệm vụ đào tạo trung đội trưởng và chính trị viên trung đội. Đối tượng học viên gồm các đội viên hoặc cán bộ đã được thử thách trong giải phóng quân và một số thanh niên do các đoàn thể Cứu quốc giới thiệu đến.
Ngày 25 tháng 6 năm 1945, nhà trường khai giảng khoá 1. Số lượng học viên gồm 82 đồng chí. Buổi lễ khai giảng đơn giản nhưng rất trang nghiêm. Sau lễ khai giảng, việc giảng dạy được bắt đầu ngay. Cuối tháng 7 năm 1945, khoá 1 bế giảng. Từ giữa tháng 7 năm 1945 khoá 2 đã khai giảng. Số lượng học viên của khoá 2 là 85 đồng chí. Khoá 3 gồm 67 học viên, được khai giảng sau khoá 2 khoảng 2 tuần.
Nội dung chương trình đào tạo được nhà trường xác định rằng việc giáo dục chính trị, xây dựng tư tưởng, rèn luyện đạo đức, tác phong cách mạng cho học viên là phần cơ bản của nội dung học tập. Các học viên được học tập về chương trình mặt trận Việt Minh, về đường lối chính sách của Đảng và những bài về công tác chính trị trong quân đội, về kinh nghiệm công tác vận động quần chúng, công tác vũ trang tuyên truyền, tổ chức gây dựng cơ sở quần chúng, công tác bí mật,...
Về quân sự, nhà trường đặc biệt coi trọng việc huấn luyện chiến thuật du kích, cách đánh phục kích, tập kích, quấy rối. Các học viên được học tập đội ngũ và các kỹ thuật bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn, sử dụng vũ khí thô sơ. Đồng thời các học viên cũng được học tập về tiểu đội và trung đội chiến đấu.
Nhìn chung, nội dung chương trình các môn học đều ngắn gọn, dễ hiểu và thiết thực, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị của quân đội lúc bấy giờ.
Tài liệu học tập là các tác phẩm quân sự của Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và cuốn "Người chính trị viên" của đồng chí Phạm Văn Đồng, cuốn "Công tác chính trị trong quân đội cách mạng" của đồng chí Võ Nguyễn Giáp. Ngoài ra, kinh nghiệm thực tế chiến đấu, công tác của các đơn vị và cá nhân cũng được xem là nguồn tài liệu thiết thực cho việc giáo dục, huấn luyện học viên.
Phương pháp giảng dạy và học tập chủ yếu là các phương pháp thực hành, thực tập, ứng dụng trong thực tế. Đối với các môn chính trị, sau khi nghe giảng, học viên được tự học, thảo luận và thực hành ngay trong sinh hoạt tập thể của trường. Đối với các môn quân sự, giáo viên vừa giảng vừa làm động tác mẫu, chủ yếu dành thời gian cho học viên luyện tập. Vì không có giáo viên chuyên trách nên các đồng chí trong ban Giám hiệu, cán bộ khung đều tham gia giảng dạy. Đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp giảng dạy một số bài về chính trị. Nhà trường đã chú ý kết hợp việc giảng dạy, học tập với rèn luyện, lao động và chiến đấu. Mặc dù các điều kiện đảm bảo vật chất còn nhiều thiếu thốn nhưng nhà trường vẫn thực hiện nghiêm chỉnh nền nếp sinh hoạt chính quy, duy trì chặt chẽ giờ giấc học tập, nghỉ ngơi, trật tự, vệ sinh, tập thể dục sáng, điểm danh tối, chào cờ hàng tuần, v.v...
Ngoài nhiệm vụ học tập, rèn luyện, các học viên còn tăng gia sản xuất, lấy củi và tự làm lấy mọi việc phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Đặc biệt, tháng 6 năm 1945, nhà trường còn tham gia phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu tiêu diệt gần 100 tên phỉ, thu toàn bộ vũ khí.
Thời gian học tập của khoá 2 và khoá 3 dự định tăng lên thành 2 tháng cho mỗi khoá, nhưng chưa kịp thực hiện thì tình hình đã thay đổi. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, theo lệnh của uỷ ban khởi nghĩa, tất cả cán bộ và học viên nhà trường đều lên đường nhận nhiệm vụ mới. Học viên được phân phối và gấp rút về các chi đội giải phóng quân, các địa phương để làm nòng cốt cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Như vậy, trong thời gian gần hai tháng, trường quân chính kháng Nhật đã đào tạo được ba khoá học với tổng số là 234 cán bộ chỉ huy và chính trị viên. Tuy số lượng chưa nhiều, thời gian huấn luyện ngắn nhưng đó là vốn quý để làm nòng cốt phát triển lực lượng vũ trang trong thời kỳ trứng nước, góp phần đắc lực vào cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân trong cuộc cách mạng tháng Tám lịch sử. Đặc biệt, nhà trường đã để lại những bài học kinh nghiệm lịch sử quý giá cho việc tổ chức giáo dục đào tạo của các nhà trường quân đội cách mạng ở những giai đoạn sau.
Sau cách mạng tháng Tám, trường chuyển về Thông (Sơn Tây), lấy tên là Trường Huấn luyện cán bộ và tiếp tục đào tạo từ khóa 4 đến khóa 7 theo phương thức đào tạo cấp tốc. Ngày 15 tháng 4 năm 1946, trường được đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, và bắt đầu khai giảng khóa 1 theo phương thức đào tạo dài hạn 6 tháng, tại thị xã Sơn Tây với mục tiêu đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội có kiến thức cơ bản về quân sự để chuẩn bị cho ngày toàn quốc kháng chiến. Tính từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946, nhà trường đã đào tạo được 5 khóa (từ khoá 4 đến khoá 8), với tổng số 1610 học viên. Trong đó có 4 khoá (từ khoá 4 đến khoá 7) được tiến hành theo phương thức đào tạo cấp tốc, khoá 8 (còn gọi là khóa 1) được đào tạo cơ bản, dài hạn 6 tháng.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Tổng tham mưu, Cục Nhà trường, Tư liệu lịch sử quá trình hình thành, phát triển hệ thống nhà trường lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 1995
2. Bộ Tổng tham mưu, Cục Nhà trường, Những văn bản chủ yếu về công tác giáo dục đào tạo trong các nhà trường, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 1997
3. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Lịch sử quân sự Việt Nam, Tập 9: Hoạt động quân sự từ năm 1897 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nxb CTQGST, Hà Nội 2019.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện quân sự của Đảng, T1, Nxb QĐND, Hà Nội 1969
5. Tổng cục Chính trị, Ban Nguyên cứu Lịch sử quân đội, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 1974
6. Tổng cục Chính trị, Học viện Chính trị, Lịch sử giáo dục quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2001
PGS. TS. NGƯT Trần Đình Tuấn
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục