1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử phát triển của khoa học, bản thân khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học đã trở thành đối tượng nghiên cứu của một số bộ môn khoa học khác như: Triết học, Lịch sử phát triển các khoa học, Khoa học luận, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là một bộ môn khoa học đi sâu nghiên cứu, xây dựng lý thuyết về con đường nhận thức, khám phá thế giới khách quan. Đối tượng của phương pháp luận nghiên cứu khoa học là những quy luật của hoạt động nhận thức, sáng tạo khoa học. Trên cơ sở nhận thức những quy luật đó, phương pháp luận nghiên cứu khoa học hình thành các quan điểm, nguyên tắc và các phương pháp, kỹ thuật tiếp cận đối tượng nhận thức, xác định các bước đi hợp lý trong tiến trình hoạt động nghiên cứu khoa học.
Xây dựng, hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu khoa học là đòi hỏi thường xuyên của sự phát triển các khoa học hiện đại. Nghiên cứu nắm vững, hoàn thiện phương pháp tiếp cận khoa học chính là sự tự ý thức của các khoa học về con đường phát triển của mình. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giúp cho hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học trở nên tự giác, đúng hướng. Đồng thời, giúp cho việc hệ thống hoá các tri thức đã thu nhận được, tạo ra khả năng nắm và vận dụng chúng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn.
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học được xem là kết quả của sự khái quát lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu khoa học, do vậy nó trở thành cẩm nang chỉ dẫn cho các nhà khoa học thực hành sáng tạo hoạt động nghiên cứu, trở thành công cụ để tổ chức, quản lý hoạt động khoa học có hiệu quả. Thực tiễn nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, không có lý luận đầy đủ về phương pháp nhận thức, không được trang bị các kỹ năng nghiên cứu khoa học thì không thể có công trình khoa học giá trị, không thể có sự phát triển lý luận khoa học.
Nắm vững phương pháp luận nhận thức khoa học là nắm vững phương hướng, con đường đi tới chân lý khoa học một cách tối ưu, tránh khỏi những thất bại, những quanh co không đáng có. Đúng như V.I.Lênin đã chỉ ra: người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết các vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi vấp phải những vấn đề chung đó một cách không tự giác.

2. Khoa học và sự phát triển của khoa học
2.1. Khái niệm khoa học
Ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu là một hình thái ý thức xã hội. Ý thức xã hội được phản ánh bằng nhiều hình thái khác nhau, như: tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật, chính trị, khoa học ... Mỗi hình thái ý thức xã hội phản ánh một mặt, một khía cạnh của tồn tại xã hội. Khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, tạo ra hệ thống chân lý về thế giới.
Khoa học tồn tại bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, những nguyên lý, khái quát, những giả thuyết, học thuyết. Một đặc điểm quan trọng của khoa học là mọi chân lý khách quan, mọi luận điểm khoa học đều có thể chứng minh được. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học lấy thực tiễn làm nguồn gốc, tiêu chuẩn và động lực của sự phát triển. Những tư tưởng khoa học tiên tiến thường đi trước thời đại, vượt lên khỏi trình độ phát triển hiện tại của thực tiễn. Khoa học không có giới hạn trong sự phát triển, bởi vì, tư duy của con người không có giới hạn trong nhận thức.
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội có vị trí độc lập tương đối trước các hình thái ý thức xã hội khác, nhưng lại có mối liên hệ biện chứng với các hình thái ý thức xã hội khác. Tất cả các hình thái ý thức xã hội đều là đối tượng nghiên cứu của khoa học. Khoa học có thể vạch ra nguồn gốc, bản chất của tất cả các hình thái ý thức xã hội khác.
Xét theo quan điểm nhận thức, khoa học là hệ thống tri thức về thế giới khách quan. Đó là những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Quá trình nhận thức của con người được thực hiện với nhiều trình độ, bằng các phương thức khác nhau và tạo ra hai hệ thống tri thức về thế giới là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
Tri thức kinh nghiệm, còn được gọi là tri thức thông thường, là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế, được trao đổi cho nhau, trở thành tri thức dân gian.
Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm được tạo ra từ phép quy nạp đơn giản, không có mô hình lý thuyết, chưa chỉ ra được bản chất và các quy luật vận động của sự vật, hiện tượng, chưa thành một hệ thống vững chắc. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.
Tri thức khoa học, là hệ thống tri thức khái quát về bản chất và quy luật vận động của thế giới khách quan. Tri thức khoa học được xác lập có căn cứ xác đáng, có thể kiểm tra được và có thể ứng dụng rộng rãi. Tri thức khoa học là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học, trong đó, đối tượng của khoa học không chỉ là thế giới khách quan mà còn có cả phương pháp nhận thức thế giới đó. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học.
Tri thức khoa học và tri thức kinh nghiệm có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tri thức khoa học có thể xuất phát từ tri thức thông thường, nhưng không phải là sự hệ thống hoá lại những tri thức thông thường, hay là sự hoàn thiện tri thức thông thường. Tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp, phương tiện đặc biệt, do các chuyên gia có trình độ cao thực hiện.
Xét theo quan điểm hoạt động, khoa học là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt. Đó là một hoạt động không chỉ nhằm nhận thức, giải thích thế giới mà còn nhằm cải tạo thế giới. Nhiều ý tưởng khoa học vĩ đại đi trước thời đại, có tác dụng chỉ đạo, dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn. Theo ý nghĩa đó, có thể hiểu, khoa học có tính cách mạng. Với tư cách là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt, khoa học thường gắn liền với công nghệ. Theo nguyên lý chung, công nghệ là quá trình áp dụng những thành tựu của khoa học vào thực tiễn. Công nghệ là một hệ thống thiết bị kỹ thuật và phương pháp được sử dụng để chế biến tài nguyên thành sản phẩm theo một quy trình nhất định. Công nghệ là sản phẩm trí tuệ sáng tạo của loài người.
2.2. Sự phát triển của khoa học
Sự phát triển của khoa học gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người. Khoa học ra đời khi xã hội đã đạt tới một trình độ phát triển nhất định và gắn liền với sự xuất hiện của những con người có tầm trí tuệ đặc biệt. Ở thời kỳ cổ đại, mọi tri thức khoa học đều tập trung trong triết học. Đến nay, khoa học đã phân ra thành trên hai nghìn bộ môn khác nhau, với các lĩnh vực khoa học chủ yếu như: khoa học tự nhiên và khoa học chính xác, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học kỹ thuật, khoa học nông nghiệp, khoa học về sức khoẻ... Thế kỷ XX vừa qua là thời kỳ phát triển rực rỡ của khoa học trong lịch sử nhân loại. Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Khoa học đã thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển, làm cho nền sản xuất hiện đại, sản phẩm hàng hoá phong phú có hàm lượng trí tuệ cao, chất lượng tốt, ngày càng thoả mãn nhu cầu cuộc sống của con người.
Ngày nay, khoa học hiện đại đang phát triển trên tất cả các lĩnh vực, tuy nhiên đó là sự phát triển kế thừa biện chứng trong nhận thức khoa học về một thế giới thống nhất. Mặt khác, khoa học hiện đại phát triển theo xu hướng vừa phân hoá thành các ngành, các lĩnh vực khác nhau đi sâu vào nghiên cứu từng bộ phận, từng mặt khác nhau của thế giới khách quan, vừa hội nhập, tích hợp giữa các ngành, các bộ môn với nhau để cùng khám phá, giải quyết những vấn đề chung, phức tạp của thực tiễn đặt ra. Đó cũng chính là nguồn gốc tạo ra những bộ môn khoa học mới, những lĩnh vực nghiên cứu mới, làm cho các tri thức khoa học ngày càng trở nên toàn diện và sâu sắc.
Lịch sử phát triển khoa học cho thấy, nhịp độ ứng dụng các thành tựu khoa học vào thực tiễn ngày càng nhanh hơn, điều đó làm cho chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người được nâng cao nhanh chóng, đồng thời cũng tạo ra động lực thúc đẩy khoa học phát triển không ngừng. Sự phát triển như vũ bão của các khoa học đã dẫn đến một hệ quả là: đến lượt mình, bản thân khoa học cũng cần phải được nghiên cứu một cách khoa học.
3. Nghiên cứu khoa học
3.1. Khái niệm nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt phức tạp của con người, là hoạt động trí tuệ sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị và ứng dụng chúng vào việc cải tạo thế giới khách quan.
Chủ thể của hoạt động nghiên cứu khoa học là cá nhân và tập thể các nhà khoa học. Đó là một đội ngũ những người được đào tạo cơ bản, có phẩm chất và khả năng nghiên cứu sáng tạo. Sự thành công hay thất bại trong nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất lớn vào phẩm chất, tài năng sáng tạo và sự phối hợp của cá nhân và tập thể nhà khoa học. Trong đó, các cá nhân thường là khởi điểm đột phá, đề xuất ý tưởng sáng tạo khoa học và lôi cuốn những người khác tham gia nghiên cứu, phát minh. Tập thể các nhà khoa học có vai trò quan trọng trong việc góp ý, phản biện, thẩm định và hợp tác nghiên cứu theo ý tưởng đề xuất của cá nhân.
Khách thể, đối tượng của hoạt động nghiên cứu khoa học là thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy đầy phức tạp và bí ẩn, trong đó mỗi bộ môn khoa học có một lĩnh vực, một góc độ, một đối tượng nghiên cứu riêng của mình.
Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá ra bản chất và quy luật của thế giới khách quan, trên cơ sở đó khái quát thành hệ thống tri thức khoa học và vạch ra con đường ứng dụng chúng vào thực tiễn phục vụ cho cuộc sống của con người.
Phương pháp nghiên cứu khoa học thực chất là phương pháp nhận thức thế giới, bao gồm các quan điểm tiếp cận và các thao tác cụ thể tác động tới đối tượng nghiên cứu làm bộc lộ bản chất của đối tượng. Trong nghiên cứu khoa học, con người phải sử dụng cả những công cụ, phương tiện kỹ thuật đặc biệt để thí nghiệm, thực nghiệm nhằm đo lường, kiểm định độ tin cậy của những kết quả nghiên cứu
Sản phẩm và giá trị nghiên cứu khoa học được đánh giá bởi cái mới của những tri thức được khái quát và những giải pháp thực tiễn được đề xuất. Những thông tin đó phải có tính khách quan, độ tin cậy, tính ứng dụng, đáp ứng với nhu cầu của thực tiễn.
Quá trình nghiên cứu khoa học là một quá trình lao động trí tuệ khó khăn, phức tạp, đầy mâu thuẫn. Trong quá trình này luôn xuất hiện các giả thuyết, xu hướng, trường phái lý thuyết, dự báo khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải đưa ra chủ thuyết của mình trên cơ sở những luận cứ, luận chứng khoa học. Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá ra cái mới, do vậy nhà nghiên cứu không thể đi theo con đường mòn, đơn giản để tới đích, mà phải chấp nhận một con đường đầy khó khăn, gian khổ và mạo hiểm, không phải lúc nào cũng thành công, thậm chí sẽ gặp phải những thất bại. Tuy nhiên, thất bại trong nghiên cứu khoa học cũng được xem là một kết quả, vì nó cũng cho ta một thông tin hữu ích để tránh những sai lầm, vấp váp tương tự.
Nghiên cứu khoa học là một quá trình phát triển theo các trình độ nhận thức ngày một cao hơn. Trong lịch sử phát triển khoa học, nhận thức khoa học đi theo các thang bậc trình độ sau:
- Mô tả khoa học, là sự trình bày, thể hiện lại những kết quả nghiên cứu về một đối tượng nào đó ở mức độ nguyên bản tối đa bằng một hệ thống ký hiệu có tính trực quan và những khái niệm có liên quan. Mô tả có thể cho ta hình ảnh đầy đủ về đối tượng nghiên cứu, nhưng chưa thể thiết lập được các mối liên hệ có tính quy luật phản ánh bản chất bên trong của đối tượng, vì đây thường là các thông tin thu thập được qua quan sát, điều tra, dừng lại ở mức độ nhận thức kinh nghiệm. Tuy nhiên, mô tả là nấc thang quan trọng tiến tới việc giải thích khoa học.
- Giải thích khoa học, là sự trình bày một cách tường minh nguồn gốc phát sinh, phát triển, những mối quan hệ cơ bản, những điều kiện, nguyên nhân, hệ quả của đối tượng, vấn đề nghiên cứu. Giải thích khoa học tham gia vào tìm tòi, phát hiện bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình được nghiên cứu.
- Phát hiện, phát minh khoa học, là trình độ nhận thức cao nhất của quá trình nghiên cứu nhằm vạch ra bản chất, quy luật của các sự kiện, hiện tượng khách quan, sáng tạo ra chân lý mới, làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại. Cái được phát hiện, phát minh phải là cái mà trước đó chưa ai biết đến, chưa được tìm ra, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức và phương thức hành động của con người. Phát hiện, phát minh được thực hiện bằng những phương pháp sáng tạo với sự hỗ trợ của những phương tiện, thiết bị kỹ thuật tinh xảo tác động tới đối tượng làm bộc lộ bản chất, quy luật vận động của nó.
3.2. Các loại hình nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu cơ bản, là loại hình nghiên cứu có mục tiêu tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới, những giá trị mới. Đây là những tri thức cơ bản, tri thức nền tảng cho quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo. Những tri thức này thường được thể hiện dưới dạng các khái niệm, phạm trù, các định luật, định lý, công thức phản ánh bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ bản được chia làm hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý là loại hình nghiên cứu cơ bản chưa nhằm mục đích ứng dụng nào; nghiên cứu cơ bản định hướng là những nghiên cứu cơ bản theo một số địa chỉ ứng dụng nào đó.
- Nghiên cứu ứng dụng, là loại hình nghiên cứu vận dụng những tri thức cơ bản để sáng tạo ra các nguyên lý, quy trình công nghệ mới trong quản lý kinh tế - xã hội, trong sản xuất chế tạo sản phẩm mới. Các tri thức được khái quát trong nghiên cứu ứng dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu của thực tiễn sản xuất và đời sống. Vì vậy, các tri thức đó có thể và cần phải được thay đổi theo sự biến đổi, phát triển của cuộc sống thực tiễn.
- Nghiên cứu triển khai, là loại hình nghiên cứu tìm ra các giải pháp, các mô hình áp dụng đại trà kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội. Các tri thức thu nhận được trong nghiên cứu triển khai là các tri thức về cách thức thao tác, về quy trình công nghệ hay giải pháp kỹ thuật được áp dụng trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Các tri thức này phải luôn được đổi mới để đáp ứng với sự phát triển mới của môi trường, của tình hình và những yêu cầu mới của cuộc sống đặt ra.
- Nghiên cứu dự báo, là loại hình nghiên cứu nhằm phát hiện ra những triển vọng, khả năng, xu hướng phát triển mới của khoa học và thực tiễn. Kết quả của nghiên cứu dự báo sẽ là cơ sở khoa học quan trọng để xác định các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển khoa học, công nghệ. Vì vậy, trong nghiên cứu dự báo, các nhà khoa học thường hướng sự chú ý vào giải quyết các đề tài, công trình trọng điểm gắn với các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh của đất nước trong thời gian kế tiếp.
3.3. Cơ chế sáng tạo trong nghiên cứu khoa học
Những kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại đã chỉ ra lôgíc tư duy của nhà khoa học được diễn ra theo các loại cơ chế sáng tạo như sau:
- Cơ chế trực giác. Trực giác là sự xuất hiện các ý tưởng khoa học và nhìn thấy kết quả nghiên cứu một cách đột ngột, không theo lôgíc tư duy thông thường. Trong lịch sử phát minh khoa học đã từng có nhiều trường hợp nhờ trực giác mà khám phá ra những điều kỳ diệu. Niutơn phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn khi quan sát quả táo rơi. Acsimet phát hiện ra quy luật tính lực đẩy của nước khi đang nằm trong bồn tắm.
Cơ sở khoa học của trực giác là sự “bừng sáng” trong tư duy, là sự xuất hiện bất ngờ một ý tưởng khoa học, một cách giải quyết cho vấn đề mà nhà khoa học đang ấp ủ, trăn trở. Trực giác là kết quả của sự dồn nén trí tuệ và kiến thức, là sự “bùng nổ” dựa trên nhiều thao tác tư duy đã phát triển ở nhiều trình độ khác nhau.
Trực giác là sản phẩm của tài năng, là kết quả của sự trải nghiệm thực tiễn nghiên cứu khoa học, sự say mê, kiên trì, lao động sáng tạo. Nếu không có sự tích luỹ về kiến thức và sự trăn trở, trải nghiệm trong thực tiễn khoa học thì không thể có một sự phát minh nào được hình thành bằng trực giác.
- Cơ chế algôrit. Trong nghiên cứu khoa học, tư duy của nhà khoa học thường tuân thủ các bước đi theo một trật tự, tạo thành chuỗi thao tác tư duy lôgíc. Sự ý thức được trật tự này gọi là một algôrit sáng tạo. Algôrit là bản ghi chính xác trật tự của các bước đi để giải một bài toán sáng tạo, vì vậy, còn gọi là thuật toán trong nghiên cứu khoa học.
Các phát minh khoa học, về thực chất là phát hiện ra các algôrit sáng tạo. Khi tìm ra được các bước đi lôgic của một loại công việc, cũng có nghĩa là đã thực hiện thành công loại công việc đó. Tư tưởng cơ bản của algôrit sáng tạo là phát hiện và sử dụng những quy tắc trong nghiên cứu sáng tạo khoa học.
Mọi sự vật, hiện tượng đều được hình thành và phát triển theo một quy tắc nhất định. Sự nhận thức được những quy tắc và sử dụng chúng một cách có ý thức trong nghiên cứu khoa học chính là đã phát hiện ra một algôrit sáng tạo. Việc giải các bài toán sáng tạo theo cơ chế algôrit sẽ tránh được những nhược điểm của các bước đi theo phương pháp thử và sai.
Cơ chế sáng tạo algôrit không chỉ giúp các nhà khoa học nhận thức được các bước đi trong nghiên cứu đối tượng ở thời điểm hiện tại mà còn dự đoán được các bước đi để nghiên cứu đối tượng trong tương lai. Như vậy các algôrit có ý nghĩa như những quy trình công nghệ các bước đi trong nghiên cứu khoa học hiện đại.
- Cơ chế ơristic. Sáng tạo theo cơ chế ơristic là quá trình nghiên cứu khoa học được thực hiện bằng con đường đề xuất và chứng minh một giả thuyết khoa học về một sự kiện, hiện tượng mới. Vấn đề trung tâm của cơ chế sáng tạo ơristic là xây dựng và chứng minh giả thuyết khoa học. Các mâu thuẫn, các thiếu hụt của lý thuyết và các khó khăn trong thực tiễn luôn là những vấn đề thôi thúc nhà khoa học tìm cách giải quyết. Một trong những con đường giải quyết các mâu thuẫn đó là xây dựng các giả thuyết khoa học. Giả thuyết khoa học có ý nghĩa như một sự phỏng đoán định hướng về các biện pháp để giải quyết các mâu thuẫn đang đặt ra. Người nghiên cứu cần phải tìm cách chứng minh, khẳng định cho các biện pháp phỏng đoán đó. Nếu sự phỏng đoán đó là đúng thì nó sẽ trở thành một lý thuyết mới. Đó là lý thuyết được hình thành thông qua cơ chế sáng tạo ơristic.
Cơ chế ơristic là cơ chế sáng tạo khoa học phổ biến trong tất cả các loại hình nghiên cứu khoa học hiện đại. Để có thể sáng tạo theo cơ chế ơristic, đòi hỏi người nghiên cứu không những phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng mà còn phải có năng lực phán đoán khoa học, phải biết dựa trên những phán đoán đó để đề xuất giả thuyết và chứng minh giả thuyết.
Tóm lại, nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm mục đích nhận thức và cải tạo thế giới, phục vụ cho cuộc sống con người. Quá trình nghiên cứu khoa học luôn diễn ra một cách khó khăn, phức tạp và công phu, tuân theo những quy luật của hoạt động tìm tòi sáng tạo. Những quy luật này cần phải được phát hiện và khái quát thành lý thuyết về con đường nhận thức khám phá thế giới - lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học.
4. Đối tượng, nhiệm vụ của phương pháp luận nghiên cứu khoa học
4.1. Đối tượng của phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Đối tượng của phương pháp luận nghiên cứu khoa học là những quy luật của hoạt động nhận thức, sáng tạo khoa học. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là bộ môn khoa học đi vào nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học, làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa học và các kỹ năng thực hành nghiên cứu của họ, từ đó khái quát hệ thống tri thức về con đường, cách thức nhận thức, khám phá thế giới. Hệ thống tri thức này thể hiện ở hai cấp độ:
Thứ nhất, lý thuyết về các quan điểm tiếp cận khoa học, các nguyên tắc, các luận điểm xuất phát của sự nhận thức khoa học. Các quan điểm, nguyên tắc đó gắn liền với một học thuyết triết học nhất định.
Thứ hai, lý thuyết về các phương pháp, cách thức, quy trình tiến hành nghiên cứu khoa học.
Hai cấp độ, đồng thời cũng là hai bộ phận lý thuyết cơ bản của phương pháp luận nghiên cứu khoa học liên quan mật thiết với nhau, trong đó các quan điểm, nguyên tắc đóng vai trò chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng các phương pháp, cách thức, quy trình nghiên cứu cụ thể.
4.2. Nhiệm vụ của phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Với tư cách là khoa học về con đường nhận thức, khám phá thế giới, phương pháp luận nghiên cứu khoa học phải giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những đặc trưng bản chất và quy luật phát triển của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học. Nhiệm vụ này đòi hỏi, từ sự nhận thức đúng về bản chất của khoa học với tư cách là một hoạt động xã hội đặc biệt, làm rõ sự phát triển của khoa học gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người và khái quát các quy luật của sự phát triển đó. Mặt khác, cần làm sáng tỏ những đặc trưng về chủ thể, khách thể và đối tượng, mục đích, phương pháp, sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ quy luật vận động phát triển, những nét đặc thù của hoạt động khoa học và công nghệ trong lĩnh vực quân sự.
- Nghiên cứu xác định những quan điểm tổng quát, những nguyên tắc cơ bản với tư cách là cơ sở phương pháp luận của hoạt động nghiên cứu khoa học. Từ góc độ của mình, phương pháp luận nghiên cứu khoa học phải giải quyết một nhiệm vụ quan trọng là: nghiên cứu xác định những quan điểm tiếp cận khoa học cơ bản nhằm định hướng đúng đắn tư duy của các nhà khoa học trong quá trình tác động đến khách thể, đối tượng nghiên cứu. Những quan điểm, nguyên tắc này được xác định trên nền tảng của Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trở thành những luận điểm xuất phát quan trọng cho mỗi nhà nghiên cứu trong tìm tòi, sáng tạo khoa học, khái quát các tri thức và ứng dụng chúng vào phục vụ cuộc sống thực tiễn.
- Nghiên cứu xác định những con đường, cách thức, quy trình hoạt động nghiên cứu khoa học. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học phải xác định được cơ chế và kỹ năng sáng tạo khoa học, chỉ ra các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, các cách thức thu thập, sàng lọc, xử lý, đo đạc và lưu giữ thông tin dữ liệu khoa học. Đồng thời phải xác định được các giai đoạn, các bước tiến hành theo một trình tự hợp lý để giải quyết một cách tối ưu các nhiệm vụ nghiên cứu của một công trình, một đề tài khoa học đặt ra.
- Nghiên cứu xác định các hình thức trình bày đánh giá kết quả và công bố công trình nghiên cứu khoa học. Trình bày, công bố và đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học là một công việc quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học. Do vậy, phương pháp luận nghiên cứu khoa học có nhiệm vụ phải xác định rõ những yêu cầu về quy cách, hình thức trình bày một công trình nghiên cứu, phương pháp, tiêu chuẩn đánh giá một sản phẩm khoa học nhằm giúp các nhà nghiên cứu công khai các kết quả nghiên cứu, giới thiệu những thành tựu khoa học để công luận kiểm định và nghiên cứu ứng dụng chúng vào thực tế.
- Nghiên cứu xác định các phương pháp, hình thức tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học là hoạt động trí tuệ phức tạp, công phu, đòi hỏi phải có sự tổ chức, quản lý chặt chẽ. Nhiệm vụ của phương pháp luận nghiên cứu khoa học là phải xác định rõ các phương pháp, hình thức tổ chức, quy chế quản lý hoạt động nghiên cứu và sản phẩm khoa học nhằm nâng cao tiềm lực, chất lượng nghiên cứu, phổ biến trao đổi thông tin khoa học và chuyển giao công nghệ.
Tài liệu tham khảo
- Vũ Cao Đàm (1999), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
- Dobrov.G.M (1996), Khoa học về khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
- Lê Tử Thành (1995), Logic học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Trẻ, Hà Nội
- Trần Đình Tuấn (2008), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.
- Phạm Viết Vượng (2001), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
PGS.TS Trần Đình Tuấn
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục