1.Lời nói đầu
“Quân - sư - phụ” là quan niệm được Khổng Tử nêu ra từ 2.500 năm trước. Theo Khổng Tử, địa vị của người thầy được nâng lên trên cả địa vị của người cha trong gia đình - sau ông vua là đến ông thầy rồi sau hết mới đến người cha. Người cha cũng có bổn phận dạy dỗ con cái của mình, nhưng trong xã hội xưa, người dạy dỗ con mình nhiều nhất, sát nhất, cả mặt kiến thức và đạo đức chính là người thầy. Hiện nay, khi không còn “quân” thì quan niệm “quân - sư - phụ” nên hiểu là người thầy đáng được đề cao, tôn trọng hơn cả. Nói cách khác, các bậc cha mẹ nên có sự kính trọng người thầy của con, không nên xem ngang hàng hoặc là người dưới, nhất là khi cha mẹ là người có chức vụ, địa vị cao trong xã hội. Tôn trọng người thầy không chỉ là giữ truyền thống tốt đẹp “tôn sư trọng đạo” của dân tộc mà còn là cách để người thầy làm tốt hơn thiên chức của mình. Cha ông ta cũng từng nói: “Muốn sang thì bắc cầu kiều, Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”, hay “không thày, đố mày làm nên” có lẽ cũng theo logic đó. Sự tôn trọng người thầy của cha mẹ là một tấm gương để con cái noi theo, theo cả hai lối: Cha mẹ kính trọng thầy cô của mình để con học tập (về nguyên tắc); và cha mẹ kính trọng thầy cô của con để con thực hành theo.
2. “Tôn sư, trọng đạo” trong dòng chảy văn hóa Việt
Truyền thống “tôn sư, trọng đạo luôn luôn được mọi thế hệ tiếp tục phát triển. Ở thời học chữ Hán, trước khi cho con đi học, cha mẹ sắm một mâm lễ bái lạy tổ tiên, mong con học hành sáng dạ, thông minh. Sau đó, gia đình lại có một “lễ mọn”, dâng lên người thầy mà con mình sẽ theo học. Tỏ lòng “tôn sư trọng đạo”. Đạo trò xưa không chỉ tôn kính mà còn có trách nhiệm, nghĩa vụ lớn lao đối với thầy. Khi ra đường, gặp thầy, học trò phải ngả mũ nón và vòng tay chào; lúc thầy già yếu, các đồng môn phải lo sắm cỗ thọ đường.
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt đã xuất hiện không biết bao nhiêu câu chuyện cảm động về tình thầy trò:
- Thời Trần, thày giáo Chu Văn An là nhà giáo nổi tiếng của triều Trần cũng như lịch sử nước ta. Sinh thời, ông quan niệm “muốn dạy trò tốt thầy phải nghiêm”. Phạm Sư Mạnh là học trò nổi tiếng của ông, làm quan to nức tiếng triều đình, nhưng khi phạm lỗi vẫn phải quỳ gối tạ tội cùng thầy. Có lần, Phạm Sư Mạnh về thăm thầy, quân lính theo hầu gây náo loạn xóm chợ. Chuyện đến tai, thầy Chu Văn An mắng “về thăm thầy mà làm náo động cả bàn dân thiên hạ, thì ta còn mặt mũi nào mà ngẩng đầu lên nhìn mọi người”. Nói rồi, thầy phủi áo đi vào nhà trong. Tể tướng Phạm Sư Mạnh vừa sợ, vừa ân hận, cứ quỳ gối bên giường chờ thầy tha lỗi, khi được thầy tha lỗi rồi mới dám đứng dậy. Cả Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, mỗi khi về thăm thầy dạy của mình là thày giáo Chu Văn An luôn lấy làm vinh dự được quỳ bên giường của thầy và thấy vinh hạnh khi được thầy hỏi chuyện về công việc đã và đang làm.
Năm Canh Tuất, ngày 28 tháng 11 (tức năm 1370), Chu Văn An mất tại xã Kiệt Đắc, nay là xã Văn An, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Trân trọng tài năng, đức độ và sự cống hiến của bậc danh sư, vua Trần Nghệ Tông đã ban cho ông tên thụy là Văn Trinh, cho người mang lễ vật đến viếng và cho thờ ông ở Văn Miếu-Quốc tử giám.
- Vua Lê Hiến Tông thường xuyên về thăm thầy dạy của mình ở vùng quê Thái Bình và được thầy cho nhà vua ăn cơm quê đạm bạc, thức ăn là những quả cà muối với canh cua đồng, nhà vua vô cùng hạnh phúc và đã nói thày “Thầy cho con ăn bát canh này là cho con cả một niềm hạnh phúc”.
- Vua Hàm Nghi chạy lên Sơn Phòng Quảng Trị, sau cuộc chính biến kinh thành thất bại và bị thực dân Pháp bắt. Kể từ ngày bị bắt, nhà vua luôn từ chối tiếp xúc với mọi người. Thái độ của nhà vua làm cho thực dân Pháp rất lúng túng vì không biết có thật là vua Hàm Nghi hay không? Thế nhưng, khi thầy dạy của nhà vua là Nguyễn Thận vào thăm, vua liền đứng bật dậy vái lạy thầy. Qua cử chỉ ấy, bọn Pháp mới chắc chắn rằng đó chính là vua Hàm Nghi thật.
-Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) được xem là một trong 3 thầy giáo tài giỏi nhất sử Việt, bên cạnh Chu Văn An thời Trần và Nguyễn Thiếp thời Tây Sơn. Ông nổi tiếng là vị quan trạng xuất sắc, có tầm nhìn xa trông rộng, từng dâng sớ lên đòi vua Mạc hạch tội 18 tên lộng thần nhưng vua không nghe. Năm 1542, ông từ quan về quê mở trường dạy học, trở thành thầy giáo nổi tiếng đương thời. Ông cũng là thầy dạy của nhiều người nổi tiếng như: Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ,... Người thì theo nhà Mạc, người giúp nhà Lê Trung Hưng, nhưng họ đều kính trọng và vẫn thường xuyên lui tới Am Bạch Vân thăm viếng người thầy mà họ vô cùng tôn kính.
Về thời học trò của trạng trình chuyện kể lại rằng: Một ngày thu lạnh lẽo năm 1522, một nho sinh tên Nguyễn Bỉnh Khiêm vai mang tay nải đựng lễ vật vượt quãng đường xa từ Hải Dương đến tận xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa để thọ tang thầy dạy học của mình là danh sư Lương Đắc Bằng vừa qua đời. Danh sư Lương Đắc Bằng đỗ bảng nhãn năm 1499, làm tới chức quan Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ triều Lê-Trịnh. Đến quê thầy Lương Đắc Bàng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đầu chít khăn tang, sắm mâm lễ vật rồi quỳ lạy trước quan tài thầy. Ông hứa với thầy sẽ tiếp tục cố gắng thực hiện ước mơ của người thầy quá cố là quyết tâm học thành tài, sống có trách nhiệm với xã tắc giang sơn. Sử sách chép rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chịu tang thầy trong suốt ba năm trời. Thật là sâu nặng nghĩa tình thầy trò hiếm thấy!
- Danh sư Lê Quý Đôn, nổi tiếng là một thần đồng, lừng lẫy khoa danh. Ông là một ông quan đại thần nặng lòng lo nước, thương dân, một sứ thần lỗi lạc. Một lần, danh sư Lê Quý Đôn đang giảng bài trong ngôi trường ở phường Bích Câu, thành Thăng Long thì người nhà báo có quan tân khoa Bùi Huy Bích đến. Không ngạc nhiên, vị danh sư biết người học trò của mình vừa đỗ Đình nguyên Hoàng giáp. Thầy giáo Lê Quý Đôn định ra cửa đón quan tân khoa thì đã thấy Bùi Huy Bích đến bên chắp tay xin được vào lễ tạ ơn thầy. Lê Quý Đôn mỉm cười chúc mừng và dẫn quan tân khoa vào lớp giới thiệu với các nho sinh: “Đây là quan tân khoa Bùi Huy Bích vừa đỗ Đình nguyên Hoàng giáp, nguyên cũng là học sinh trường ta, nhờ có chí lớp nên nay thành đạt. Đây là tấm gương sáng để các ngươi noi theo mà học tập”. Nói thêm về Bùi Huy Bích người làng Ðịnh Công, huyện Thanh Trì, sau chuyển sang làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Thưở nhỏ ông nổi tiếng thông minh, học giỏi nhưng thể chất ốm yếu, thường đau yếu luôn. Mẹ mất khi ông lên tám, ông theo cha xuống Hải Dương, là nơi cha ông dạy học. Năm 17 tuổi, ông được cha gửi về làng quê để theo học với ông nghè Nguyễn Bá Trữ. Hai năm sau, ông đi thi và đỗ hương cống khoa Giáp Ngọ đời Cảnh Hưng thứ 23 (1762). Năm sau, thi hội không đỗ, ông được thầy khuyên đến học ở trường ông bảng nhãn Lê Quý Đôn mở tại kinh thành. Bùi Huy Bích đến xin thọ giáo, thầy Lê Quý Đôn đồng ý nhận liền. Chẳng là kỳ thi hội vừa rồi, thày Lê quý Đôn làm giám khảo nên cũng đã biết người học trò này có thực tài, có thể thành người có ích cho đất nước. Thấy gia cảnh Bùi Huy Bích nghèo, thày Lê Quý Đôn giúp luôn việc ăn ở. Bây giờ Bùi Huy Bích đến tạ ơn thày, ông bước sang gian thờ tổ tiên, quan tân khoa tự tay dâng lễ vật lên bàn thờ, đốt nhang trầm. Xong xuôi ông đến quỳ trước danh sư Lê Quý Đôn đang ngồi trên sập sụ. “Nhớ ngày ngày nơi giảng đường thầy ra sức dạy dỗ; nhớ những hôm không ngại đường xa thầy đưa lũ học trò chúng con đi xem phong cảnh, chỉ cho những nơi có sách vở để nâng cao sự học. Công lao của thầy như trời bể, hôm nay về đây xin được tạ ơn thầy”, nói xong quan tân khoa sụp lạy. Thày Lê Quý Đôn vội đỡ trò đứng lên mời ngồi sập gụ nhưng trò không dám chỉ xin ngồi ghế đặt sát cạnh thày.
- Vua Duy Tân đến tuổi “nạp phi”, vua đã chọn Mai Thị Vàng, con gái thầy dạy của mình là Mai Khắc Đôn. Giải thích về lựa chọn này, nhà vua nói: “Thầy Mai Khắc Đôn dạy cho vua biết yêu nước, thương dân, biết gần người trung, xa kẻ nịnh thần nên tin rằng con gái thầy cũng được thầy dạy cho những điều tốt đẹp như vậy”. Đó chẳng phải là người con gái tài, đức hay sao?
“Tôn sư trọng đạo” không chỉ giữ lễ với thầy khi thầy còn sống mà cả khi thầy đã mất. Khi thầy và vợ thầy mất, học trò đã để tang trong 3 năm. Ngày giỗ thầy, các học trò làm lễ giỗ cho đến hết đời. Có nơi học trò góp tiền mua ruộng để lấy hoa lợi dùng cho việc giỗ.
- Thày Nguyễn Ngọc Liên, mất năm 1937, khi ấy quá nửa học trò mà thầy dạy dỗ cũng đã mất, chỉ còn lại hơn 200 người, họ đã tề tựu đông đủ khăn trắng, áo dài tế thầy, sau đó góp tiền mua ruộng để lấy hoa lợi dùng cho việc hàng năm cúng giỗ thầy.
- Thày Phan Thanh Giản - Vị tiến sĩ đầu tiên của miền Nam là học trò của tiến sĩ Hoàng Thì Bình người Từ Liêm (Hà Nội) vào làm đốc học Vĩnh Long khi đang là thượng thư của triều đình đã cùng học trò cũ xin phép được tế sống thầy để ghi nhớ công ơn dạy dỗ.
Khi Pháp nổ sung xâm lược Đà Nẵng vào năm 1858, 365 học trò của Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị đã theo thầy lập đội nghĩa tử chống Pháp. Khi thầy mất, học trò là Phạm Thận Duật khi ấy đang là thượng thư Bộ Hình đã thay mặt các học trò viết điếu thầy “Than ôi! Học trò cũng như con, vậy mà thầy ốm chúng con chẳng được hầu thuốc, Thầy mất chúng con chẳng được tiếng khóc đưa. Thầy coi học trò như con mà học trò chẳng thờ thầy được như cha. Đau xót thay, khóc mà viết”.
Tống Duy Tân cũng là học trò của thầy, khi đang là thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp đã viếng thầy “Tiên sinh lo việc trước người đời, thân thể chìm nổi mấy độ, đệ tử coi thầy như thân phụ, mất còn chung thủy mãi trăm năm”.
Nhân ngày 20 tháng 11 năm 1982 là Lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên được tiến hành trọng thể trong cả nước ta, Giáo sư Vũ Khiêu đã viết: “Ðối với thế hệ chúng tôi, gia đình cụ Nguyễn Hữu Cầu là một gia đình có truyền thống dạy học nổi tiếng trong vùng. Thầy giáo tôi, thầy Nguyễn Hữu Tảo, con trai của cụ Nguyễn Hữu Cầu, là một người thầy được nhiều học trò ở cả hai trường Thành Chung Nam Ðịnh và Hải Phòng yêu quý nhất. Thầy chính là người có ảnh hưởng rất lớn về đạo đức đối với đồng chí Trường Chinh, một học trò của cụ ở Nam Ðịnh. Dù bận với rất nhiều công việc được Ðảng và Nhà nước giao phó nhưng đồng chí Trường Chinh vẫn dành thời gian đến thăm thầy”.
Ngày nay, truyền thống “tôn sư, trọng đạo” vẫn luôn chảy theo dòng chảy văn hóa Việt: Các học trò cũ của thầy Nguyễn Vĩ như nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, cố Phó Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Trần Hoàn đã thường xuyên về thăm thầy, đưa thầy đi thăm thú các nơi… Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, mặc dù trăm công ngàn việc những vẫn về thăm thầy giáo cũ ở Củ Chi. Tổng Bí thư, Nguyễn Phú Trọng khi đã giữ những trọng trách rất cao vào thời gian trước đã đi xe máy về tận trường thăm thầy cô giáo cũ của mình…
Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc được cả cộng đồng, cả dân tộc vun đắp, vì thế nó trở thành thói quen, thành nếp ứng xử chung của cộng đồng. Dù cho vật đổi sao dời, tình thầy trò vẫn là tình cảm thiêng liêng cao quý. Truyền thống tôn sư trọng đạo vẫn không bao giờ là chuyện cũ, vẫn sẽ mãi là nét đẹp trong dòng chảy văn hóa Việt Nam.
3.Thay lời kết
Trong dòng chảy Văn hóa Việt nam, dân tộc Việt Nam tự hào đã xây dựng nên một nền văn hóa đặc sắc mà một trong những nét tiêu biểu nhất là truyền thống tôn sư trọng đạo. Việc hiếu học và kính trọng người thầy luôn là đạo lý cơ bản của người Việt Nam. Sở dĩ có được sự kính trọng của xã hội bởi người thầy là biểu trưng của sự mô phạm trong cuộc sống; là những tấm gương đạo đức. Thầy là người truyền dạy không chỉ kiến thức mà cả đạo làm người. Trong đạo lý dân tộc Việt, người thầy được tôn trọng và xếp ở vị trí cao, bởi “Không thầy đố mày làm nên”.