80 NĂM NỀN GIÁO DỤC CÁCH MẠNG VIỆT NAM – NHỮNG GIÁ TRỊ CỐT LÕI

PGS.TS Tô Bá Trọng Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam 1.Lời nói đầu Mùa thu năm 1945, sau khi giành được chính quyền, một trong những công việc đầu tiên mà Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam thực hiện là xóa bỏ nền giáo dục nô lệ, xây dựng nền giáo dục quốc dân. Từ thời khắc lịch sử ấy, nền giáo dục cách mạng Việt Nam chính thức ra đời – gắn liền với sự nghiệp độc lập dân tộc, khát vọng xây dựng một đất nước tự do, dân chủ và phồn vinh. Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, nền giáo dục cách
14:23 | 27/08/2025

PGS.TS Tô Bá Trọng

Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam

1.Lời nói đầu

Mùa thu năm 1945, sau khi giành được chính quyền, một trong những công việc đầu tiên mà Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam thực hiện là xóa bỏ nền giáo dục nô lệ, xây dựng nền giáo dục quốc dân. Từ thời khắc lịch sử ấy, nền giáo dục cách mạng Việt Nam chính thức ra đời – gắn liền với sự nghiệp độc lập dân tộc, khát vọng xây dựng một đất nước tự do, dân chủ và phồn vinh. Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, nền giáo dục cách mạng Việt Nam không chỉ góp phần quan trong vào thắng lợi của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, mà còn đóng vai trò then chốt trong công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước hiện nay.

Từ những lớp học tranh tre nứa lá, với đội ngũ giáo viên “vừa học vừa dạy”, đến hệ thống giáo dục hiện đại với các trường phổ thông, đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trải dài khắp mọi miền đất nước – nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã từng bước trưởng thành và vững mạnh. Những thành tựu nổi bật trong phổ cập giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hội nhập quốc tế về giáo dục, cũng như vai trò của giáo dục trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đã minh chứng cho giá trị bền vững của nền giáo dục mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công gây dựng.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự chuyển dịch mạnh mẽ về tri thức, kỹ năng của thế kỷ XXI, nền giáo dục nước ta đang đứng trước những vận hội và thách thức to lớn. Việc nhìn lại chặng đường 80 năm nền giáo dục cách mạng Việt Nam không chỉ giúp khẳng định những giá trị lịch sử, chính trị và văn hóa đã định hình nên bản sắc giáo dục Việt Nam, mà còn là dịp để đề xuất những định hướng phát triển phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Chuyên đề “80 năm nền giáo dục cách mạng Việt Nam – Những giá trị cốt lõi” được xây dựng nhằm làm rõ quá trình hình thành, phát triển của nền giáo dục cách mạng, những giá trị cốt lõi đã được hun đúc qua nhiều thế hệ và triển vọng của giáo dục Việt Nam trong thời đại mới. Trên cơ sở phân tích các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, cũng như thực tiễn triển khai trong các giai đoạn lịch sử, chuyên đề mong muốn đóng góp tiếng nói khoa học nhằm khơi dậy niềm tự hào dân tộc, cổ vũ cho sự nghiệp phát triển giáo dục trong kỷ nguyên mới của đất nước – nơi tri thức và con người Việt Nam trở thành động lực của sự phát triển.

  1. Khái quát quá trình phát triển và thành tựu nổi bất của nền giáo dục cách mạng Việt nam.

2.1. Giai đoạn 1945–1954: Diệt giặc dốt, đặt nền móng giáo dục mới

Sau khi giành được độc lập năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối mặt với ba loại giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trong đó, giặc dốt được Hồ Chí Minh xác định là một trong những nguy cơ lớn đe dọa đến sự phát triển của đất nước. Với tinh thần đó, ngày 8/9/1945, chỉ 6 ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ công hòa, Chính phủ đã họp phiên đầu tiên và ký ban hành 3 Sắc lệnh 17,19 và 20 về chống nạn thất học “Đặt ra một bình dân học vụ trên toàn cõi Việt nam”; “Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học buổi tối”; “Trong khi chờ đợi lập được một nền tiểu học cưỡng bách, việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người”.

Phong trào Bình dân học vụ đã huy động được đông đảo trí thức, học sinh, sinh viên, cán bộ cách mạng, bộ đội… tham gia giảng dạy. Chỉ trong vòng 2 năm (1945–1947), đã có hơn 2,5 triệu người được thoát nạn mù chữ, một con số ấn tượng trong điều kiện đất nước còn vô vàn khó khăn.

Bên cạnh đó, Bộ Quốc gia Giáo dục được thành lập để đặt nền móng cho một hệ thống giáo dục mới - giáo dục cách mạng. Các trường phổ thông sơ cấp, trung học bắt đầu được tổ chức, vừa giảng dạy kiến thức cơ bản, vừa lồng ghép tinh thần yêu nước, chống thực dân, phong kiến. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nền giáo dục phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân ra đời, thay thế cho nền giáo dục thực dân, phong kiến trước đó vốn chỉ dành cho thiểu số.

Năm 1950, nước Việt nam dân chủ công hòa đã phá được thế bao vây của kẻ địch, thiết lập được mối quan hệ ngoại giáo với các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến thắng biên giới mở ra cục diện mới về chính trị, quân sự. Những tiến bộ về kinh tế- xã hội tăng thêm sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân. Toàn dân tộc bước vào thời kỳ mới của cuộc kháng chiến chống xâm lược. Trong đà chung đó, nền giáo dục cần được phát triển cho phù hợp với bước tiến của dân tộc. Cũng trong năm 1950 cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất được triển khai với tư tưởng chủ đạo: “Giáo dục là công cụ của một giai cấp nhất định, không có giáo dục trung lập, giáo dục đứng ngoài chính trị. Nhân dân Việt Nam sau khi đã giành được quyền làm chủ về chính trị nhất thiết phải xây dựng được nền giáo dục dân chủ nhân dân phù hợp với lợi ích cơ bản của mình. Mục đích của cải cách giáo dục lần này là phải hủy bỏ triệt để nền giáo dục nô lệ cùng với những tàn dư của nó về nội dung và phương pháp, phải xây dựng cơ sở tư tưởng mới về nền giáo dục dân chủ nhân dân theo những thiết chế giáo dục và hệ thống tổ chức tương ứng.

Đặc biệt, trong bối cảnh kháng chiến chống Pháp cực kỳ gay go gian khổ, từ cuối năm 1946, hệ thống “trường kháng chiến” đã được hình thành ở vùng tự do và vùng du kích. Tuy còn sơ sài, thiếu thốn, nhưng đó chính là nơi đào tạo thế hệ cán bộ, trí thức đầu tiên của nước Việt Nam mới, làm nền móng cho sự nghiệp giáo dục lâu dài.

2.2 Giai đoạn 1954–1975: Xây dựng hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa

Năm 1954, sau khi hiệp nghị Giơnevơ được ký kết, đất nước ta bước vào thời kỳ tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai nhiệm vụ chiến lược là đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời thúc đẩy cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam tiến tới thống nhất đất nước

Năm 1956 Giáo dục Việt nam tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai.Mục tiêu và nội dung cơ bản của cuộc cải cách giáo dục lần này là mang tính chất xã hội chủ nghĩa lấy Chủ nghĩa mac- Lênin làm nền tảng tư tưởng nhằm phục vụ nhân dân lao động. Mục đích của giáo dục Việt Nam là nhằm: “Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu niên trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà có Tài, có Đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ”.

Mặc dù cuộc đấu tranh của nhân dân ta vô cùng gian khổ, nhưng giáo dục vẫn luôn phát triển, Miền Bắc, áp dụng mô hình giáo dục Xô viết, mở rộng mạng lưới trường phổ thông 10 năm, phát triển giáo dục đại học, đào tạo giáo viên và cán bộ khoa học- kỹ thuật. Việc biên soạn chương trình, sách giáo khoa, mở trường chuyên, lớp chọn được thực hiện bài bản. Miền Nam phát triển mạnh ở các vùng giải phóng. Giáo dục trở thành một mặt trận quan trọng, nuôi dưỡng lực lượng kháng chiến có tri thức. Vì vậy giáo dục đã đạt được những kết quả nhất định, đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng miền Bắc xã hôi chủ nghĩa vững chắc, đáp ứng cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

2.3. Giai đoạn 1975–1986: Khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất.

Thời kỳ 1975-1986 là một thời kỳ có tầm quan trọng đặc biệt trong cách mạng đường thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt nam, và cũng là một thời kỳ mà giá trị đặc biệt của nó còn ở ‘những kinh nghiệm rất bổ ích mà Đảng ta đã tích lũy đươc” (Báo cáo chính tri). Lúc này hơn lúc nào hết Đảng xác định nền giáo dục nước nhà có một tầm quan trọng lớn lao: “Giáo dục quốc dân phải gắn chặt hơn nữa với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa”, “ Giáo dục là một bộ phận quan trọng của cách mạng tư tưởng và văn hóa, một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa và khoa học - kỹ thuật của đất nước”.

Năm 1979, cải cách giáo dục lần thứ ba, đây là cuộc cải cách lớn về xây dựng và phát triển nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Cuộc cải cách nhằm ba mục tiêu: (i).Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành nhằm tạo ra cơ hội ban đầu rất quan trọng của con người Việt Naqm mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện; (ii). Thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân, góp phần xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tạo điều kiên thuận lợi cho việc tiến hành ba cuộc cách mạng; (iii).Đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn dội ngũ lao động mới có phẩm chất chính trị cách mạng, có trình độ khoa học – kỹ thuật và quản lý phù hợp với yêu cầu phân công lao động trong nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Cải cách giáo dục dựa trên những nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuát, nhà trường gắn liền với xã hội.

Cải cách giáo dục là sự thay đổi sâu sắc cả về cơ cấu hệ thống giáo dục, về phương pháp giáo dục và nội dung giáo dục. Hệ thống giáo dục mới là một thể thống nhất và hoàn chỉnh bao gồm Giáo dục mầm non, Giáo dục phổ thông, Giáo dục chuyên nghiệp, Giáo dục đại học với hệ thống các trường lớp tập trung cùng mạng lưới trương lớp không thoát ly sản xuất và công tác.

2.4. Giai đoạn từ 1986 đến nay: Đổi mới, hội nhập và hiện đại hóa

Từ năm 1986, với đường lối đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng, Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong đó giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu. Quá trình đổi mới giáo dục đã góp phần quan trọng vào phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có thể khái quát những thành tựu, vấn đề tồn tại và định hướng tiếp theo trong phát triển giáo dục thời kỳ đổi mới như sau:

Thứ nhất, đổi mới tư duy về mục tiêu giáo dục: Mục tiêu đào tạo phục vụ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, giáo dục đã chuyển hướng sang phát triển toàn diện con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Chuyển đổi nhận thức về giáo dục: giáo dục là quyền cơ bản của công dân, là động lực then chốt để phát triển xã hội, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Thứ hai, phát triển hệ thống giáo dục quốc dân đầy đủ và toàn diện. Mạng lưới trường học được mở rộng: theo số liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến năm 2023, cả nước có hơn 23 triệu học sinh các cấp và hơn 1 triệu giáo viên. Đa dạng hóa loại hình đào tạo: các trường nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học công lập – ngoài công lập – quốc tế phát triển mạnh. Hệ thống giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời được thiết lập, với hàng ngàn trung tâm giáo dục cộng đồng, trung tâm học tập suốt đời tại các địa phương.

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, nhiều trường tư thục và quốc tế ra đời, tạo sự lựa chọn phong phú cho người học. Tỷ lệ huy động các nguồn lực ngoài ngân sách cho giáo dục ngày càng tăng. Đến năm 2023, khoảng 20–30% tổng chi cho giáo dục đến từ xã hội hóa.

Thứ tư, đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học, triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Thực hiện phương pháp giáo dục tích cực như dạy học dự án, trải nghiệm sáng tạo, STEM, sử dụng công nghệ số; Khuyến khích đổi mới kiểm tra, đánh giá không chỉ kiểm tra kiến thức mà còn đánh giá năng lực, kỹ năng, phẩm chất. Đặc biệt từ năm 2020, giáo dục Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi số, dạy học trực tuyến, học liệu số, cơ sở dữ liệu ngành giáo dục, xây dựng nền tảng học tập mở và phát triển hệ sinh thái số cho học tập suốt đời.

Thứ năm, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế ký kết Hàng trăm thỏa thuận hợp tác giáo dục được ký kết với các nước, đặc biệt là Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, Pháp, Hoa Kỳ…Nhiều trường đại học Việt Nam đạt chuẩn kiểm định khu vực và quốc tế (ví dụ: ĐHQG Hà Nội, ĐH Bách Khoa TP.HCM…); Triển khai các chương trình liên kết đào tạo quốc tế, giáo dục song bằng, du học tại chỗ.

Thứ sáu, hoàn thiện thể chế và chính sách giáo dục như Luật Giáo dục (1998, 2005, 2019), Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), Luật Giáo dục đại học (2012, sửa đổi 2018)… tạo nền tảng pháp lý cho phát triển giáo dục; Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là định hướng chiến lược lâu dài.

Dù đạt nhiều kết quả, giáo dục Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức như: Chênh lệch chất lượng giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn còn lớn; Áp lực học tập và “bệnh thành tích” vẫn phổ biến; Chất lượng giáo dục nghề nghiệp còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường lao động; Đào tạo đại học thiếu tính ứng dụng, nghiên cứu chưa gắn với thực tiễn sản xuất – kinh doanh; Thiếu hụt đội ngũ giáo viên chất lượng cao, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

Để tiếp tục đổi mới giáo dục, cần phải hoàn thiện thể chế quản lý giáo dục theo hướng tự chủ, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Tiếp tục triển khai hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông mới, đồng thời đào tạo lại đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu mới. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ thông tin, hệ thống học liệu số, nhất là cho các vùng khó khăn.Thúc đẩy giáo dục suốt đời, học tập mở, học tập linh hoạt thông qua các nền tảng số. Kết nối giáo dục với thị trường lao động, doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh kiểm định chất lượng và xếp hạng giáo dục theo chuẩn quốc tế.

Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đóng vai trò nền tảng trong phát triển đất nước. Tuy nhiên, những thách thức về chất lượng, công bằng và hiệu quả giáo dục vẫn đòi hỏi những nỗ lực tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ và thực chất, để giáo dục thực sự là động lực then chốt cho phát triển bền vững trong kỷ nguyên số và hội nhập toàn cầu.

  1. Những giá trị cốt lõi của nền giáo dục cách mạng Việt nam

Giáo dục cách mạng luôn gắn bó với vận mệnh dân tộc. Từ nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giáo dục đến các hoạt động giáo dục ngoài giờ đều đề cao lòng yêu nước, lịch sử dân tộc, văn hóa truyền thống và bản sắc Việt Nam. Đặc biệt là có những giá trị cốt lõi Thêm giáo dục cách mạng Việt Namnhư Tính chất khoa học tiên tiến, Tính chất dân tộc sâu sắc; Tính chất quần chúng nhân dân rộng khắp; Tính nhân văn, phát triển con người toàn diện và Tính khai phóng và đổi mới không ngừng. Tính dân tộc sâu sắc trong nền giáo dục cách mạng Việt Nam là một đặc trưng nổi bật, phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa giáo dục và bản sắc, lợi ích, truyền thống lịch sử – văn hóa của dân tộc Việt Nam.

3.1.Tính chất khoa học tiên tiến

Tùy theo tình hình và điều kiện cụ thể ở các địa điểm và những thời điểm khác nhau nền giáo dục cách mạng Việt Nam luân hướng tới cung cấp cho cười học nhũng cơ sở của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ. Trong các cấp học và nhà trường không có chỗ cho các yếu tố thần quyền, tín tín, dị đoan. Từ tuổi ấu thơ đến tuổi trưởng thành, người học được làm quen với đời sống mới ở mức độ phù hợp. Nhà trường đề cao các phẩm chất cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư.

Việc lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục đều dựa trên cơ sở tâm lý học, giáo dục học và lý luận dạy học hiện đại. Từng bước, các phương tiện hiện tại được đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả trong các nhà trường. Sự tồn tại và tiếp tục phát triển của nền giáo dục trong đại dịch covid - 19 là một minh chứng thuyết phục.

Từ những tập đầu kháng chiến các học sinh, sinh viên đi vào quân ngũ đã phát huy cao kết quả học tập trước đó trong nhà, làm chủ kỹ, chiến thuật và vũ khí mới, lập nhiều chiến công lừng lẫy.

- Theo kết quả của cuộc hội đàm giữa NamStalin, Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Điện Kremlin Moscova đầu năm 1950, Trung Quốc đã chuyển cho Việt Nam số vũ khí đủ để trang bị cho 6 đại đoàn quân chủ lực, trong đó có những khẩu đại bác và pháp cao xạ. Khi học sử dụng khi mới, bộ đội ta từ cán bộ đến chiến sĩ đều khi chép rất nhanh. Nhiều cán bộ quân đội Trung Quốc rất ngạc nhiên, Tỏ vẻ nghi ngờ là trong quân đội Việt Nam Có quá nhiều phần tử tri thức(!),.Ta phải cố gắng mới làm cho bạn hiểu được rằng số đông cán bộ quân đội là học sinh ra nhập quân đội còn hầu hết chiến sĩ là thanh niên nông thôn, nhiều người chỉ bước đầu biết chữ sau khi vào bộ đội.

Sinh viên du học Việt Nam được đánh giá ngang tầm những sinh viên giỏi các nước chủ nhà. Năm nào các đoàn học sinh nước ta cũng đạt các giải cao trong các kỳ thi quốc tế.

Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng vụ đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Gần nửa thế kỷ sau, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) của Liên hiệp quốc đề xuất triết lý bốn trụ cột cho giáo dục thế giới trong thế kỷ XXI dưới nhan đề Học tập: Một kho báo tiềm ẩn”, trong đó khẳng định: “Learning to know, Learning to work, Learning to live to gether and Learning to be”. Có thể hiểu là: “Học để hiểu biết, Học để làm việc, Học để chung sống và Học để làm người”.

3.2.Tính chất quần chúng rộng khắp.

Một trong những ham muốn tột bực của chủ tịch Hồ Chí Minh là “đồng bào ai cũng được học hành”. Ngay sau Lễ quốc khánh mùng 2 tháng chín năm 1945, Chính phủ Nhân dân lâm thời Việt Nam đã là nhiệm vụ cấp bách là chống nạn mù chữ và xây dựng nền giáo dục quốc gia dành cho mọi người, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, vùng miền, giới tính, độ tuổi. Sử mệnh của nền giáo dục đó là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dữơng nhân tài, phục vụ sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng chính đáng của người dân, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng cơ hội học tập của người dân và không để ai bị bỏ lại phía sau. Bên cạnh nền giáo dục thống nhất trong cả nước, việc dạy học bằng chữ viết của các dân tộc ít người cũng được khuyến khích ở nhiều địa phương.

Tám chục năm qua không chỉ chứng kiến sự phát triển của một nền giáo dục cho toàn dân mà còn là một nền giáo dục vi dân do dân. Từ khách thể thông minh người dân đã trở thành chủ thể tích cực của nền giáo dục cách mạng Việt Nam.

Hướng lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh “những người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ” “ vợ chưa biết chữ thì chồng bảo, em biết chữ thì anh bảo, cha mẹ chưa biết chữ thì con bảo”. Mọi người đã biết chữ đều trở thành thầy giáo cô giáo, mọi người chưa biết chữ đều trở thành học trò.

Việc dạy và học diễn ra ở khắp mọi nơi từ đỉnh, chùa, đến nhà dân. Công cuộc xây dựng trường sở dựa vào sức dân là chính, bố mẹ trẻ vác cây tre đến trường để góp phần xây dựng nên phòng học cho con là hình ảnh thường gặp ở nhiều địa phương. Hệ thống hầm hào để phòng tránh bom đạn giặc là kết quả công sức của các cha mẹ học sinh.

Đồ dùng dạy học cũng thật là đa dạng, phong phú. Bảng đen được thay bằng lưng trâu hay mặt sau của cái nong, cái nia hoặc nắp cái ba lô của anh bộ độ. Thay cho viên phấn trắng là cục gạch non, hay cục than củi.

Chị gái chiến khu ru con ngủ ngoan để mình đi phá đường quan tạo nên những “hố ngang, hố dọc” “chữ I chữ T” ngăn bước quân thù. Khi điều kiện kinh tế cho phép những ngôi trường khang trang mới được xây dựng ở nhiều nơi trong cả nước, nhiều thiết bị giáo dục mới được mua sắm và trang cấp cho các thầy, cô giáo và học trò.

Đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước, Chính phủ Việt Nam bắt đầu cử nhiều sinh kháng chiến đi du học, chủ yếu tại các nước xã hội chủ nghĩa. Việt Nam cũng đã đón tiếp học sinh, sinh viên của Lào, Campuchia và nhiều nước khác đến học tập tại các trường học trường phổ thông và đại học ở Việt Nam. Nhiều chuyên gia giáo dục ở nước ta đã được cử đi công tác giảng dạy tại các nước anh em, bạn bè.

Trong quá trình đổi mới và mở cửa, quan hệ giữa các cơ sở giáo dục của Việt Nam với các tổ chức giáo dục quốc tế như Unesco Unicef Seamed… không ngừng được phát triển. Hoạt động hợp tác quốc tế phong phú và đa dạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam giới thiệu rộng rãi nếu thành tựu nổi bật và những kinh nghiệm quý báu cũng như tiếp thu những tinh hoa của nhân loại và đón nhận sự viện trợ vật chất kỹ thuật của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế.

Đầu năm 1990 lần đầu tiên Ngân hàng thế giới, Chương trình phát triển của liên hiệp quốc. Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của liên hợp quốc và quỹ nhi đồng của Liên hiệp quốc, phối hợp tổ chức Hội nghị Thế giới về Giáo dục cho mọi người tại Jontiên (Thái Lan), với sự tham dự của hàng nghìn đại biểu đến từ hầu hết các nước trên toàn thế giới. Báo cáo tham luận của đoàn đại biểu Việt Nam giới thiệu những thành tựu nổi bật và kinh nghiệm quý báu của nước ta đạt được trong những điều kiện vô cùng khó khăn của một đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu, lại vừa trải qua hàng chục năm chiến tranh, đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của bạn bè quốc tế.

3.3. Tính chất dân tộc sâu sắc

Tính dân tộc trong giáo dục là sự thể hiện bản sắc văn hóa, tinh thần yêu nước, truyền thống lịch sử và các giá trị cốt lõi của dân tộc trong quá trình tổ chức và thực hiện giáo dục. Đó là việc giáo dục phải phục vụ lợi ích của dân tộc, nuôi dưỡng tinh thần dân tộc, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trong thời đại mới. Biểu hiện của tính dân tộc trong nền giáo dục cách mạng Việt Nam là: Mục tiêu giáo dục nhằm thực hiện đấu tranh giành độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Nội dung giáo dục gắn với lịch sử, văn hóa dân tộc, chương trình học luôn đề cao việc giảng dạy lịch sử dân tộc, văn học dân tộc, địa lý Việt Nam; Giáo dục bằng tiếng Việt và gìn giữ sự trong sáng của tiếng nói dân tộc và Phát triển con người Việt Nam theo lý tưởng dân tộc có phẩm chất cách mạng, yêu nước, biết sống vì cộng đồng, giàu lòng nhân ái – những phẩm chất được kế thừa từ truyền thống dân tộc. Nhiều gương sáng trong lịch sử dân tộc (Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung…), khai thác để phục vụ cho giáo dục lý tưởng sống và tinh thần bất khuất.

Mặt khác, có những nội dung giáo dục lại được chuyển tải tới người học bằng các vần thơ, câu hỏi bài vè hoặc làn điệu dân ca mượt mà dễ thuộc nhớ đâu. Nhiều tác phẩm văn thơ, âm nhạc, hội họa điện ảnh nổi tiếng đã phản ánh kịp thời, ca ngợi sinh động và cổ vũ mạnh mẽ các sự kiện và thành tựu giáo dục. Mối quan hệ khăng khít, sự tác động qua lại giữa văn hóa dân tộc và giáo dục cách mạng, trong giáo dục có văn hóa trong văn hóa có giáo dục, trở thành nét đặc trưng của dân tộc ta trong thời đại mới.

3.4. Tính chất nhân văn, phát triển con người toàn diện

Mục tiêu cao nhất của giáo dục là phát triển con người Việt Nam toàn diện – cả trí tuệ, thể chất, tinh thần, đạo đức, kỹ năng sống. Giáo dục nhân cách, tư duy phản biện, sáng tạo, tự học, lòng nhân ái… là những giá trị xuyên suốt trong nền giáo dục cách mạng. Tính nhân văn và mục tiêu phát triển con người toàn diện là một đặc điểm xuyên suốt và trọng tâm trong nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Đây không chỉ là mục tiêu lý tưởng mà còn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục trong suốt chiều dài lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám đến hiện tại.

Quảng cáo

- Giáo dục con người là mục tiêu cao nhất. Ngay trong Thư gửi học sinh ngày 5/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò trung tâm của người học: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em. ”Giáo dục không phải để đào tạo công cụ hay chỉ phục vụ cho sản xuất, mà là để giải phóng con người, nâng cao phẩm giá và khơi dậy tiềm năng nhân loại trong mỗi cá nhân.

Mục tiêu phát triển con người toàn diện là “Đức – trí – thể – mỹ – lao” là định hướng xuyên suốt. Đây là định hướng được xác lập từ sớm và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Không chỉ chú trọng dạy chữ, mà còn dạy làm người, dạy sống có ích, có trách nhiệm với bản thân – gia đình – xã hội. Chú trọng giáo dục thể chất và thẩm mỹ. Các môn thể dục, âm nhạc, mỹ thuật, hoạt động trải nghiệm sáng tạo… không bị xem nhẹ, mà được xác định là nền tảng để hình thành con người hài hòa, năng động và sáng tạo. Giáo dục lao động, kỹ năng sống gắn với thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tính nhân văn và phát triển con người. Người nhấn mạnh: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người.” “Muốn cứu nước, phải có học vấn, phải có nhân tài. Muốn có nhân tài, phải có giáo dục.” Hồ Chí Minh cho rằng giáo dục không chỉ tạo ra người biết chữ, mà phải tạo ra người có đạo đức, có tri thức, biết yêu nước, yêu lao động và có khát vọng xây dựng đất nước.

3.4. Tính chất khai phóng và đổi mới không ngừng

Tính khai phóng trong giáo dục là định hướng phát triển con người một cách tự do, độc lập trong tư duy, có khả năng phản biện, sáng tạo và không bị giới hạn bởi khuôn mẫu cứng nhắc. Đổi mới không ngừng là tinh thần luôn vận động, cải tiến nội dung, phương pháp, chương trình, mô hình tổ chức giáo dục nhằm thích ứng với yêu cầu phát triển của xã hội và khoa học công nghệ. Tính khai phóng và đổi mới không chỉ là phương pháp, mà còn là một triết lý xuyên suốt trong nền giáo dục cách mạng Việt Nam – từ giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ đến thời kỳ hội nhập quốc tế ngày nay. Biểu hiện trong lịch sử và thực tiễn cụ thể:

- Trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, nền giáo dục cách mạng vẫn vận hành và sáng tạo linh hoạt các hình thức học tập như “lớp học dưới hầm”, “trường học trong rừng”...Sau năm 1975, cả nước thống nhất, giáo dục tiếp tục được cải tổ để đáp ứng yêu cầu mới, nổi bật là: Cải cách giáo dục 1979; Cải cách chương trình và sách giáo khoa 2002; Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW (2013); Thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực.

- Tiếp cận xu thế giáo dục hiện đại và hội nhập quốc tế, giáo dục Việt Nam ngày nay coi trọng các giá trị khai phóng như: tư duy phản biện, sáng tạo, năng lực tự học, tự chủ, tôn trọng sự khác biệt, tích cực hội nhập quốc tế trong giáo dục như tham gia PISA, cải cách kiểm tra đánh giá, tăng cường dạy học ngoại ngữ, số hóa và chuyển đổi số trong giáo dục.

Những yếu tố thúc đẩy tính khai phóng và đổi mới như tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Người nhấn mạnh: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc và nhân loại”. Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần học hỏi không ngừng, học suốt đời, học từ nhân dân, từ thế giới. Đây chính là nền tảng của giáo dục khai phóng; Do yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, kinh tế tri thức... đòi hỏi giáo dục phải đổi mới không ngừng để hình thành công dân toàn cầu, người học có khả năng thích ứng và tư duy sáng tạo; Hơn nữa nhu cầu phát triển cá nhân trong xã hội hiện đại. Học sinh, sinh viên hiện nay cần được giáo dục để có năng lực tự học, tự chủ, biết đặt câu hỏi, dám nghĩ khác, làm khác. Đó là nền tảng của con người khai phóng.

Tính khai phóng và đổi mới không ngừng là động lực và nguyên lý phát triển nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh hiện đại, đây là yếu tố quyết định để giáo dục Việt Nam không chỉ kế thừa truyền thống dân tộc, mà còn tiến cùng thời đại, góp phần phát triển đất nước bền vững và hội nhập sâu rộng.

  1. Giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

4.1. Bối cảnh mới – Vị thế mới của dân tộc

Sau gần 80 năm kể từ ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đất nước đã chuyển mình mạnh mẽ. Việt Nam hiện đang bước vào thời kỳ mới – kỷ nguyên phát triển vươn mình với nhiều dấu ấn quan trọng: Vị thế quốc tế được nâng cao: là thành viên tích cực của ASEAN, Liên Hợp Quốc, APEC, CPTPP…Kinh tế chuyển dịch sang nền kinh tế số, kinh tế tri thức. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra thời đại trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn. Chiến lược phát triển con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành trung tâm của mọi chính sách phát triển. Trong bối cảnh ấy, giáo dục không chỉ là động lực mà còn là điều kiện tiên quyết để dân tộc vươn mình mạnh mẽ, bền vững.

4.2. Sứ mệnh của giáo dục trong kỷ nguyên mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – với những giá trị như: yêu nước, độc lập, khai trí, đạo đức, thực học… – vẫn còn nguyên giá trị, nhưng cần được diễn giải và hiện thực hóa phù hợp với thời đại số. Giáo dục trong kỷ nguyên vươn mình mang những sứ mệnh đặc biệt: Đào tạo con người có tư duy độc lập và năng lực hội nhập, không chỉ học để biết, mà học để làm, học để sống cùng và học để làm chủ; Hình thành công dân số, hiểu và sử dụng công nghệ, có tư duy phản biện, đạo đức số và trách nhiệm xã hội; Phát triển năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, đặc biệt trong thế hệ trẻ – những người sẽ làm chủ đất nước vào năm 2045 – mốc 100 năm thành lập nước; Duy trì và bồi dưỡng lý tưởng sống cao đẹp: lòng yêu nước, tinh thần tự lực – tự cường, khát vọng cống hiến.

4.3. Những yêu cầu đặt ra cho hệ thống giáo dục quốc dân

Trong kỷ nguyên phát triển, hệ thống giáo dục Việt Nam cần chuyển từ “giáo dục vì thi cử” sang giáo dục vì sự phát triển toàn diện. Một số yêu cầu đặt ra: Tư duy lại chương trình và phương pháp dạy học: từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học; Tích hợp các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong môi trường giáo dục hiện đại: không chỉ trong sách giáo khoa, mà qua hoạt động trải nghiệm, hoạt động công nghệ, khởi nghiệp, công dân số...Tăng cường giáo dục đạo đức – công dân số – kỹ năng sống trong nhà trường, giúp học sinh phát triển toàn diện; Ứng dụng công nghệ trong giáo dục: chuyển đổi số, học tập suốt đời, cá nhân hóa việc học; Bình đẳng trong tiếp cận giáo dục chất lượng: đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

4.4. Cơ hội lớn đối với giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – với động lực là hội nhập quốc tế sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, và khát vọng phát triển đất nước hùng cường, đang mở ra nhiều cơ hội lớn cho giáo dục Việt Nam. Những cơ hội này nếu được khai thác hiệu quả sẽ trở thành bước đệm quan trọng đưa nền giáo dục nước ta tiến gần với chuẩn mực khu vực và thế giới.

Thứ nhất, Sự quan tâm mạnh mẽ từ Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển con người và đất nước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2021–2030 đều nhấn mạnh đến “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo”. Toàn xã hội ngày càng quan tâm đến giáo dục, coi việc đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai.

Thứ hai, Thành tựu và nền tảng vững chắc của giáo dục cách mạng. Nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã có hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, hình thành hệ thống giáo dục từ mầm non đến sau đại học. Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận về phổ cập giáo dục, bình đẳng giới, chất lượng học sinh phổ thông trong các kỳ thi quốc tế như PISA,... Những thành quả này là nền tảng để giáo dục Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ trong thời kỳ mới.

Thứ ba, Lợi thế từ dân số trẻ và khát vọng học tập của người dân. Việt Nam có cơ cấu “dân số vàng”, với lực lượng thanh thiếu niên dồi dào – nguồn lực chính cho phát triển giáo dục và xã hội. Người dân Việt Nam có truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa, luôn mong muốn con em được học hành đến nơi đến chốn. Sự lan tỏa của tinh thần học tập suốt đời và giáo dục khai phóng đang ngày càng được nhân rộng trong cộng đồng.

Thứ tư, Cơ hội hội nhập và tiếp cận tinh hoa giáo dục thế giới. Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác giáo dục quốc tế, gia nhập các tổ chức như SEAMEO, UNESCO, AUN, v.v. Cơ hội trao đổi học thuật, học bổng, đào tạo liên kết, du học, nghiên cứu khoa học ngày càng phong phú. Khả năng chuyển giao công nghệ, tiếp cận mô hình giáo dục tiên tiến như STEM, STEAM, AI-based learning... ngày càng thuận lợi.

Thứ năm, Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số tạo đột phá. Các công nghệ mới như AI, IoT, Big Data, Blockchain, thực tế ảo (VR/AR) đang mở ra hướng đi mới trong dạy – học và quản lý giáo dục. Chuyển đổi số giúp: Tăng khả năng tiếp cận học tập cho mọi người, đặc biệt ở vùng khó khăn; Tối ưu hóa chương trình và cá nhân hóa việc học; Tạo ra mô hình giáo dục thông minh, linh hoạt, xuyên biên giới.

Thứ sáu, Cơ hội định hình một mô hình giáo dục Việt Nam hiện đại, nhân bản, khai phóng. Trong bối cảnh dân tộc vươn mình, Việt Nam có thể xây dựng một nền giáo dục: Kết hợp truyền thống dân tộc với giá trị toàn cầu; Cân bằng giữa tư duy khoa học – công nghệ và giáo dục đạo đức – nhân văn; Gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội; Định hướng phát triển con người toàn diện, có năng lực sáng tạo, hội nhập và cống hiến.

4.5. Những thách thức cần vượt qua

Bên cạnh những cơ hội lớn, nền giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn, đa chiều. Những thách thức này nếu không được nhận diện và xử lý đúng đắn sẽ cản trở tiến trình đổi mới và hội nhập, thậm chí làm chậm sự phát triển bền vững của đất nước.

Một là, Bất cập trong tư duy quản lý và mô hình tổ chức giáo dục. Tư duy quản lý giáo dục ở nhiều nơi vẫn nặng về hành chính – mệnh lệnh, thiếu tính linh hoạt và sáng tạo. Mô hình tổ chức giáo dục chưa đồng bộ, còn chồng chéo giữa các cấp quản lý, chưa thật sự khuyến khích tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Việc phân cấp, phân quyền trong hệ thống giáo dục chưa rõ ràng, dẫn đến lúng túng trong thực hiện đổi mới.

Hai là, Chất lượng và sự bất bình đẳng trong giáo dục. Khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền, dân tộc, nhóm xã hội vẫn lớn: học sinh miền núi, hải đảo, dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn trong tiếp cận giáo dục chất lượng. Chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các cấp học, bậc học; tình trạng học lệch, học tủ, chạy theo thành tích vẫn tồn tại. Nội dung chương trình nặng lý thuyết, thiếu thực hành và chưa gắn với cuộc sống thực tế, thị trường lao động.

Ba là, Hệ thống đào tạo – bồi dưỡng giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu mới. Một bộ phận giáo viên còn thiếu năng lực số, phương pháp dạy học hiện đại, tư duy giáo dục khai phóng. Việc bồi dưỡng thường xuyên còn hình thức, chưa chú trọng cá nhân hóa và nhu cầu phát triển nghề nghiệp của giáo viên. Tình trạng thiếu giáo viên, đặc biệt ở vùng khó khăn, vẫn là vấn đề nan giải.

Bốn là, Áp lực của đổi mới chương trình, SGK và kiểm tra đánh giá. Việc triển khai Chương trình GDPT 2018 còn gặp khó khăn: Thiếu tài liệu hướng dẫn cụ thể; Quá tải đối với giáo viên; Nhiều địa phương thiếu điều kiện triển khai hiệu quả. Đổi mới kiểm tra đánh giá còn chậm, nặng về đánh giá kiến thức, chưa đánh giá toàn diện năng lực và phẩm chất người học.

Năm là, Sự tác động phức tạp của truyền thông, mạng xã hội và mặt trái của công nghệ. Môi trường xã hội phức tạp, sự xâm nhập của thông tin độc hại trên mạng khiến việc giáo dục đạo đức – lối sống – nhân cách cho học sinh gặp khó. Nhiều học sinh nghiện mạng, sao nhãng học tập, giảm khả năng tương tác trực tiếp. Một bộ phận giáo viên, cán bộ quản lý chưa sẵn sàng với chuyển đổi số, học tập số và mô hình giáo dục mới.

Sáu là, Thách thức trong bảo tồn bản sắc và xây dựng bản lĩnh văn hóa dân tộc. Trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, nguy cơ lai căng, đứt gãy văn hóa, đánh mất bản sắc dân tộc là điều đáng lo ngại. Giáo dục chưa phát huy đầy đủ vai trò trong việc bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc và bản lĩnh hội nhập có chọn lọc.

Bảy là, Thiếu sự gắn kết giữa giáo dục và thị trường lao động. Chương trình đào tạo chậm cập nhật, chưa bắt kịp với biến động nhanh chóng của nền kinh tế tri thức, việc làm mới. Tình trạng "thừa thầy – thiếu thợ", sinh viên ra trường thất nghiệp hoặc làm trái ngành nghề còn phổ biến. Việc liên kết giữa nhà trường – doanh nghiệp – địa phương còn lỏng lẻo, thiếu chiến lược phối hợp dài hạn.

4.6. Định hướng chiến lược phát triển giáo dục

Trong bối cảnh dân tộc đang vươn mình mạnh mẽ hướng tới một Việt Nam hùng cường, hạnh phúc, giáo dục cần đóng vai trò then chốt trong việc bồi dưỡng con người Việt Nam toàn diện, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, và xây dựng nền tảng tri thức vững chắc cho đất nước. Vì vậy, chiến lược phát triển giáo dục phải được định hướng một cách căn cơ, khoa học và bền vững, dựa trên 6 trụ cột chiến lược sau:

1). Xây dựng nền giáo dục mở, linh hoạt, học tập suốt đời. Hình thành hệ thống giáo dục thống nhất, liên thông giữa các trình độ, bậc học, giữa giáo dục chính quy và không chính quy. Phát triển các hình thức học tập linh hoạt (online – offline – hybrid), đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mọi người dân. Thiết lập các trung tâm học tập cộng đồng, các nền tảng học trực tuyến quy mô quốc gia, phát triển bình dân học vụ số cho người lớn tuổi, lao động nông thôn, miền núi.

2). Lấy người học làm trung tâm – phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực. Giáo dục cần chuyển từ “truyền thụ kiến thức” sang “bồi dưỡng năng lực và hình thành phẩm chất”. Đảm bảo phát triển đồng bộ: Năng lực tư duy – hành động; Năng lực số – ngoại ngữ – thích ứng; Phẩm chất đạo đức – công dân – nhân văn – yêu nước. Giáo dục cần gắn chặt với cuộc sống, thực hành, trải nghiệm, hướng nghiệp.

3). Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu mới. Nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực số, phương pháp sư phạm hiện đại cho giáo viên và cán bộ quản lý. Đổi mới cơ chế đào tạo – bồi dưỡng theo hướng thực tiễn, cá nhân hóa và liên tục. Bảo đảm chế độ đãi ngộ, chính sách ưu tiên cho nhà giáo, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa.

4). Thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái giáo dục thông minh. Đầu tư hạ tầng công nghệ cho trường học, đặc biệt là vùng khó khăn. Phát triển hệ thống dữ liệu mở, kho học liệu số quốc gia, nền tảng học tập AI cá nhân hóa. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà trường, kiểm tra đánh giá, giảng dạy sáng tạo.

5). Đảm bảo công bằng và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tăng cường nguồn lực, chính sách đặc thù hỗ trợ học sinh yếu thế, người dân tộc thiểu số, trẻ em khuyết tật. Thực hiện phổ cập mầm non 5 tuổi, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông cơ sở. Khắc phục bất bình đẳng vùng miền thông qua ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, giáo viên cho vùng khó.

6). Gắn kết chặt chẽ giáo dục với phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ và văn hóa dân tộc. Giáo dục phải gắn chặt với định hướng phát triển đất nước, thị trường lao động, cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi xanh. Kết nối nhà trường – gia đình – xã hội – doanh nghiệp trong xây dựng môi trường học tập và phát triển toàn diện. Phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong giáo dục đạo đức, lối sống, bản lĩnh hội nhập.

4.7. Một số khuyến nghị chính sách

Để giáo dục thực sự trở thành động lực quan trọng trong công cuộc “vươn mình của dân tộc”, cần có những chính sách đột phá, đồng bộ và lâu dài ở cấp quốc gia:

- Ban hành Chiến lược quốc gia về giáo dục trong kỷ nguyên số và hội nhập, xây dựng và triển khai Chiến lược giáo dục quốc gia đến năm 2045.

- Hoàn thiện thể chế giáo dục mở, học tập suốt đời.

- Ưu tiên đầu tư phát triển vùng khó khăn và học sinh yếu thế, tăng tỷ trọng đầu tư ngân sách cho giáo dục, ưu tiên vùng sâu, vùng xa, hải đảo, dân tộc thiểu số.

- Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục, đầu tư hạ tầng số cho các cơ sở giáo dục. Xây dựng nền tảng học tập quốc gia tích hợp AI, dữ liệu mở, học liệu số.

- Tái cấu trúc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo năng lực. Đổi mới căn bản mô hình sư phạm, từ đào tạo lý thuyết sang thực hành năng lực, thiết lập hệ thống học tập liên tục – bồi dưỡng tại chỗ – hướng đến cá nhân hóa. Có cơ chế đãi ngộ, tôn vinh và phát triển sự nghiệp cho nhà giáo.

- Gắn giáo dục với thị trường lao động, doanh nghiệp và công nghệ, tăng cường liên kết nhà trường-doanh nghiệp-viện nghiên cứu trong xây dựng chương trình, giảng dạy, thực tập. Thiết lập cơ chế phản hồi thị trường lao động vào hệ thống giáo dục. Ưu tiên đào tạo các nhóm ngành phục vụ chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao.

5. Kết luận

Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã trở thành một trong những trụ cột vững chắc nhất của tiến trình phát triển đất nước. Từ hành trình xóa mù chữ đến xây dựng một nền giáo dục hiện đại, dân chủ, nhân văn, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với sự lớn mạnh của dân tộc. Giáo dục không chỉ truyền tải tri thức mà còn hun đúc lòng yêu nước, tinh thần tự cường, khát vọng cống hiến, những giá trị làm nên bản lĩnh và khí phách Việt Nam.

Những thành quả giáo dục hôm nay là kết tinh từ tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực không ngừng nghỉ của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, cùng sự đồng hành của toàn xã hội. Những giá trị cốt lõi của nền giáo dục cách mạng như tính nhân văn, tính dân tộc, tính khoa học và cách mạng, đã được kiểm nghiệm qua thời gian, trở thành nền tảng vững chắc cho sự đổi mới và phát triển.

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, khi thế giới bước vào kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo, khi tri thức trở thành nguồn lực quyết định và sự cạnh tranh không còn là quốc gia mà là nguồn nhân lực toàn cầu, giáo dục Việt Nam cần tiếp tục bứt phá. Cần xây dựng một nền giáo dục mở, học tập suốt đời, khơi dậy nội lực dân tộc và khai phóng tiềm năng con người, đúng như tinh thần mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Chặng đường 80 năm là dấu mốc đáng tự hào, nhưng cũng là lời nhắc nhở về trọng trách nặng nề của thế hệ hôm nay và mai sau trong việc bảo vệ, kế thừa và phát huy di sản quý báu ấy. Việc tiếp tục khơi dậy giá trị trường tồn của nền giáo dục cách mạng Việt Nam sẽ là chìa khóa để dân tộc ta thực hiện thắng lợi khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng cường quốc năm châu trong thế

---------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1945–2024). Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I đến XIII. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
  2. Chủ tịch Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 1–15. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2011.
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2023). 80 năm nền giáo dục cách mạng Việt Nam – Thành tựu và định hướng phát triển. Báo cáo tổng hợp Ban Tuyên giáo Trung ương, Hà Nội.
  4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Báo cáo tổng kết 80 năm nền giáo dục cách mạng Việt Nam (1945–2025). Hà Nội.
  5. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) (2020). Giáo dục Việt Nam – Những chặng đường phát triển. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.
  6. Phạm Tất Dong (2019). Giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời ở Việt Nam. NXB Giáo dục Việt Nam.
  7. Nguyễn Trọng Điều (Chủ biên) (2015). Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
  8. Trần Bá Hoành (2011). Lịch sử giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến nay. NXB Đại học Sư phạm TP.HCM.
  9. Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đăng Tiến, Bùi Đức Thiệp, Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục. NXB Giáo dục, 1990.
  10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
  11. Bộ Chính trị (2021). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Tập I, II. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
  12. Nguyễn Kế Hào (2020). Vấn đề đổi mới giáo dục Việt Nam: Góc nhìn từ lịch sử và hiện thực. Tạp chí Cộng sản, số 945.
  13. Nguyễn Thị Bình (2005). Giáo dục và phát triển: Hồi ký và suy ngẫm. NXB Trẻ.
  14. UNESCO (2022). Reimagining our futures together: A new social contract for education. [Tưởng tượng lại tương lai giáo dục - hợp đồng xã hội mới cho giáo dục]. UNESCO Publishing.
  15. World Bank (2020). Vietnam: Enhancing Teacher Effectiveness in a Changing World. Washington, D.C. Học sinh trẻ dùng laptop nhóm – minh họa chung cho mô hình học tập truyền kỹ năng số sử dụng thiết bị kỹ thuật số .

VAI TRÒ TIỀM LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

VAI TRÒ TIỀM LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

TS. Nguyễn Bá Vận - TS. Bùi Tiến Phúc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng E mail: [email protected] Tóm tắt: Bài viết làm rõ vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung khẳng định khoa học quân sự không chỉ góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc mà còn thúc đẩy khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết làm rõ thực trạng tiềm lực khoa học quân sự ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả và những hạn chế còn