LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa
07:41 | 22/07/2026

Thượng uý Vy Long Nhật

Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa

Email: [email protected]

Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc.

Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa sinh động tư duy lý luận sáng tạo của Đảng vào thực tiễn đất nước.

Đại hội XIV mở ra chương mới: Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đây là lúc lý luận không chỉ dừng lại ở “tháo gỡ khó khăn” mà chuyển sang “kiến tạo bứt phá”, quyết tâm đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

1: Điểm tựa lý luận: “Chìa khóa” mở cánh cửa đổi mới

Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc.

1.1. Từ cuộc đấu tranh phá vỡ tư duy xơ cứng

Lịch sử cách mạng thế giới đã đúc kết một chân lý hiển nhiên nhưng chưa bao giờ cũ: Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng. Lý luận không phải là những định đề xơ cứng nằm yên trên trang giấy, mà là sinh mệnh, là ánh sáng dẫn dắt mọi hành động thực tiễn. Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới của Việt Nam, chúng ta càng thấy rõ vai trò quyết định của tư duy lý luận trong việc xoay chuyển vận mệnh quốc gia.

Vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước ngưỡng cửa của sự sinh tồn. Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp dù đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong thời chiến, đã bộc lộ những hạn chế khi bước vào thời bình. Khủng hoảng không chỉ nằm ở sự thiếu hụt lương thực, hàng hóa hay con số lạm phát phi mã, như Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam đã thẳng thắn chỉ ra: “tỉ lệ lạm phát thời điểm tháng 12/1986 lên đến 774,7%. Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó đã được chỉ rõ tại Đại hội VI của Đảng là do những sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ý chí, lạc hậu về nhận thức lý luận và sự yếu kém của việc vận dụng các quy luật trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [1].

Khi thực tiễn đã chuyển động sang một trang mới nhưng tư duy quản lý vẫn dậm chân tại chỗ trong những khuôn mẫu cũ kỹ, quốc gia tất yếu rơi vào bế tắc. Điểm tựa lý luận lúc này là nhu cầu tự thân phải giải mã được quy luật vận động của thời đại. Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng: Nếu tiếp tục duy trì quan điểm cũ một cách giáo điều, chúng ta sẽ tự tách mình ra khỏi dòng chảy phát triển của nhân loại. Đổi mới trước hết phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, mà trọng tâm là tư duy lý luận. Đây chính là chiếc chìa khóa đầu tiên để mở ra cánh cửa đang đóng chặt bởi định kiến và sự lạc hậu. Tư duy lý luận của Đảng ở thời điểm khởi đầu đổi mới là một sự dũng cảm chính trị vô song, là tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” để thấy rằng lý luận cũ không sai về bản chất nhân văn nhưng đã sai về phương pháp tiếp cận thực tế. Đây là một cuộc đấu tranh cam go giữa cái cũ và cái mới ngay trong nội tại của tổ chức và mỗi cá nhân. Đó là sự giằng co giữa tư duy bao cấp, trông chờ, ỷ lại với khát vọng tự chủ, sáng tạo. Bản lĩnh của Đảng thể hiện ở chỗ: Không phủ định quá khứ một cách cực đoan, mà thực hiện sự kế thừa biện chứng. Đảng đã dũng cảm lọc bỏ những gì không còn phù hợp, giữ lại hạt nhân hợp lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để kiến tạo nên một lộ trình phát triển riêng biệt, mang đậm dấu ấn Việt Nam.

1.2. Sáng tạo lý luận: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Một chỉnh thể thống nhất

Thành tựu lý luận xuất sắc nhất, mang tính chất bước ngoặt của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong một thời gian dài của lịch sử kinh tế thế giới, nhiều người mặc định một tư duy nhị nguyên: Hoặc là kinh tế thị trường đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản, hoặc là kế hoạch hóa tập trung đồng nghĩa với chủ nghĩa xã hội. Việc phá bỏ định kiến này không hề dễ dàng, bởi nó chạm đến những nền tảng tư duy đã hằn sâu qua nhiều thập kỷ.

Đảng ta đã làm rõ một chân lý khoa học: Kinh tế thị trường không phải sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại. Nó là phương thức tổ chức sản xuất hiệu quả để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Sự sáng tạo độc đáo của Đảng nằm ở việc dùng lý luận để dung hợp sức mạnh của thị trường với mục tiêu nhân văn của chủ nghĩa xã hội. Luận giải sâu sắc về mô hình phát triển mới mẻ mang tính lịch sử này, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định bản chất ưu việt: "Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội" [2]. Đây là bài toán mà nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới vẫn đang bế tắc khi hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng mở rộng và các bất ổn xã hội gia tăng do sự vận hành tự thân của thị trường thiếu kiểm soát.

Trong chỉnh thể này, các quy luật thị trường như quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh được vận hành đầy đủ để tối ưu hóa nguồn lực và kích thích sáng tạo. Tuy nhiên, định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là cái đuôi gượng ép, mà là “la bàn”, là hệ điều tiết đảm bảo rằng thành quả phát triển phải phục vụ đại số nhân dân. Định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo của Đảng và đặc biệt là chính sách phân phối lại để đảm bảo công bằng.

Lý luận của Đảng chỉ rõ: Chúng ta phát triển kinh tế thị trường để giải phóng sức sản xuất, nhưng không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá. Chúng ta cần thị trường để tạo ra của cải, nhưng cần định hướng xã hội chủ nghĩa để của cải đó không chỉ rơi vào tay một nhóm nhỏ lợi ích. Sự kết hợp này tạo nên tính ưu việt của mô hình Việt Nam: Một nền kinh tế năng động nhưng vẫn giữ được bản sắc nhân văn, một xã hội phát triển nhưng không đánh đổi an sinh lấy những con số GDP thuần túy.

1.3. Phản bác luận điệu “đổi mới là đổi màu” và bảo vệ bản chất khoa học

Sức sống của lý luận đổi mới không chỉ nằm ở khả năng kiến tạo mà còn ở sức mạnh chiến đấu. Trong suốt hành trình 40 năm qua, các thế lực thù địch không ngừng sử dụng các thủ đoạn tinh vi để xuyên tạc con đường chúng ta đã chọn. Một trong những luận điệu phổ biến nhất là rêu rao rằng: “Việt Nam phát triển kinh tế thị trường thực chất là đang âm thầm đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ là cái vỏ bọc để giữ quyền lực”. Đây là sự đánh tráo khái niệm nguy hiểm và phiến diện. Phải khẳng định rằng: Đổi mới không phải là sự thay đổi mục tiêu cuối cùng, mà là sự thay đổi về phương thức và con đường để đạt được mục tiêu đó một cách nhanh nhất, bền vững nhất. Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng xác định rõ: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Mọi sự thay đổi về chính sách kinh tế, từ thừa nhận kinh tế tư nhân là động lực quan trọng đến việc hội nhập quốc tế sâu rộng, đều nhằm mục đích cuối cùng là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nếu “đổi màu”, chúng ta đã không kiên trì nguyên tắc tính mạng người dân là trên hết trong đại dịch COVID-19, đánh đổi lợi ích kinh tế lấy sự an toàn của nhân dân. Nếu “đổi màu”, chúng ta đã không quyết liệt thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo ở vùng sâu vùng xa, nơi mà theo quy luật thị trường thuần túy, các nhà đầu tư sẽ không bao giờ đặt chân tới.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng lúc này không thể dựa trên những khẩu hiệu suông hay cách hành văn giáo điều. Nó phải dựa trên sức mạnh của lý luận khoa học và những bằng chứng thực tiễn không thể phủ nhận. Hệ thống lý luận của Đảng là một “hệ thống mở”, luôn tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại về quản trị quốc gia, về phát triển bền vững, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Nhưng việc tiếp thu đó luôn dựa trên bộ lọc của bản sắc dân tộc và mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Sự kiên định này chính là bản lĩnh chính trị để Việt Nam không bị hòa tan, không trở thành cái bóng của bất kỳ mô hình ngoại lai nào.

1.4. Lý luận là phương pháp luận để hành động trong kỷ nguyên mới

Lý luận trong giai đoạn hiện nay không phải để học thuộc lòng, không phải để trích dẫn cho đúng khuôn mẫu, mà phải là phương pháp luận để hành động. Tư duy lý luận phải đi trước một bước để dự báo các thách thức và tìm kiếm thời cơ. Khi thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, lý luận của Đảng đã kịp thời bổ sung những nhận thức mới về chuyển đổi số, về hạ tầng chiến lược và về con người trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo. Đặc biệt, sự vận động của lý luận Đảng hiện nay đã xác định chỉ số hạnh phúc của nhân dân làm thước đo thành công của mọi chủ trương, đường lối. Đây là một bước tiến dài về tư duy. Nó khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam không phải là một đích đến mơ hồ ở tương lai xa xăm, mà là một quá trình cải thiện chất lượng sống thực tế cho từng người dân ngay trong hiện tại. Mọi sai lầm trong quá khứ hay những hạn chế hiện tại đều được soi xét dưới lăng kính lý luận để sửa đổi. Ngược lại, mọi thắng lợi đều ghi dấu ấn của sự đột phá về tư duy.

Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không ngừng làm mới học thuyết, bám sát các yêu cầu thực tế thời đại để tránh rơi vào lối mòn xơ cứng, bảo thủ. Trong cuốn sách của mình, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ định hướng phương pháp luận căn bản: "Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống" [4]. Đảng lãnh đạo bằng sự nêu gương và bằng tinh thần dũng cảm bảo vệ cái đúng. Lý luận lúc này đóng vai trò như một “bộ lọc” tinh nhạy, giúp cán bộ nhận diện đúng - sai, giữ vững bản lĩnh chính trị trước những cám dỗ của lợi ích vật chất và những biến động phức tạp của thị trường. Việc củng cố lý luận gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là để đảm bảo Đảng luôn là một cơ thể sống khỏe mạnh, có đủ sức đề kháng để loại bỏ những tế bào thoái hóa, biến chất.

1.5. Hệ thống lý luận mở: Sức sống từ hơi thở thực tiễn

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của lý luận Đổi mới chính là tính thực tiễn. Đảng ta luôn khẳng định: Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Những sáng kiến từ lòng dân, những mô hình kinh tế hiệu quả từ địa phương chính là nguồn nguyên liệu quý giá nhất để đúc kết thành lý luận. Chúng ta không chấp nhận những giáo sư “phòng kính” xây dựng lý luận xa rời cuộc sống. Lý luận phải giải thích được vì sao người nông dân chưa giàu, vì sao công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, và vì sao vẫn còn tình trạng cán bộ né tránh, sợ sai.

Việc hoàn thiện hệ thống lý luận không phải là công việc riêng của các nhà khoa học, mà là công trình tập thể của toàn Đảng, toàn dân. Đảng ta đã xác định lộ trình rất cụ thể: “Đến năm 2025, trên cơ sở tổng kết 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới... cần hoàn thiện cơ bản hệ thống lý luận về đường lối đổi mới; đến năm 2030... có thể bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới” [5]. Đây là sự chuẩn bị chủ động về mặt tư tưởng để dân tộc bước vào “Kỷ nguyên vươn mình”.

Chúng ta cần nhìn nhận rằng, vẫn còn những nút thắt trong cơ chế chưa được tháo gỡ triệt để do lý luận có những lúc chưa theo kịp thực tiễn toàn cầu. Sự lúng túng trong việc quản trị các loại hình kinh tế mới hay các vấn đề an ninh phi truyền thống đòi hỏi một tư duy lý luận linh hoạt và sắc bén hơn. Do đó, đột phá lý luận phải đi cùng với đột phá về thể chế. Hành trình đổi mới là quá trình liên tục, không có điểm dừng. Chiếc chìa khóa lý luận đã mở ra cánh cửa vào năm 1986, giải phóng sức dân và đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn. Giờ đây, chính sức mạnh lý luận được bồi đắp từ thực tiễn sẽ tiếp tục mở ra những không gian phát triển rộng lớn hơn. Khi mỗi chính sách ban hành đều được soi sáng bởi tư duy khoa học và lấy lợi ích của nhân dân làm gốc, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ được nhân lên gấp bội.

Nhìn lại quá khứ để tự tin vào hiện tại và kiên định hướng tới tương lai, chúng ta hiểu rằng: Sự sáng suốt của Đảng trong việc vận dụng và phát triển lý luận chính là bảo chứng cho mọi thành công. Với một hệ thống lý luận bắt rễ sâu xa vào mảnh đất thực tiễn Việt Nam, chúng ta chắc chắn sẽ đạt được những mục tiêu vĩ đại mà dân tộc đã lựa chọn.

2: Hiện thực hóa tầm vóc: Những kỳ tích trên hành trình 40 năm

Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa sinh động tư duy lý luận sáng tạo của Đảng vào thực tiễn đất nước.

2.1. Bản lĩnh khơi nguồn từ thực tiễn: Khát vọng tự giải phóng và bài học lịch sử về sức dân

Nhìn lại thời điểm trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng trầm trọng, lạm phát có lúc phi mã lên tới ba chữ số, hàng triệu người dân thiếu đói. Đó là giai đoạn mà cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp đã tỏ ra xơ cứng, không còn đủ sức kích thích năng lực sản xuất xã hội. Trong bối cảnh ngặt nghèo ấy, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước chuyển mình mang tính lịch sử tại Đại hội lần thứ VI (tháng 12/1986). Đảng thẳng thắn nhìn vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, chỉ ra những khuyết điểm chủ quan duy ý chí và quyết định xoay chuyển bánh xe lịch sử bằng đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Sự chuyển dịch này không phải là một sự rập khuôn, lý thuyết suông mà được bắt nguồn từ hơi thở của thực tiễn, từ những "tiếng sấm đầu mùa" trong lòng quần chúng nhân dân. Lịch sử sẽ còn ghi mãi những bài học về "Khoán chui" ở Vĩnh Phú, Hải Phòng, những nỗ lực "xé rào" bù giá vào lương ở Long An, TP. Hồ Chí Minh. Chính thực tiễn sinh động, quả cảm của người dân và các nhà lãnh đạo địa phương sát cánh cùng cơ sở đã trở thành chất xúc tác mạnh mẽ nhất để Đảng đúc rút thành đường lối Đổi mới.

Tinh thần ấy khẳng định một chân lý sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Khi lý luận bắt rễ sâu vào lòng thực tiễn, khi chính sách xuất phát từ nguyện vọng chính đáng và bảo vệ lợi ích cốt lõi của người lao động, nó sẽ tạo ra một sức mạnh vật chất vô địch, mở đường cho những tiềm năng to lớn của đất nước được giải phóng.

2.2. Từ "Khoán 10" đến vị thế cường quốc nông sản

Thực tiễn là thước đo chân lý. Kỳ tích đầu tiên là sự chuyển mình trong nông nghiệp. Việc giải phóng sức lao động thông qua chính sách Khoán 10 đã biến một nước thiếu đói trở thành cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đây không đơn thuần là thay đổi cách quản lý, mà là sự thắng lợi của lý luận thừa nhận lợi ích của người lao động là động lực trực tiếp.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị (thường gọi là Khoán 10) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp thực chất là một cuộc cách mạng trong quan hệ sản xuất ở nông thôn. Bằng việc thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, giao quyền sử dụng đất lâu dài và trao quyền tự quyết sản phẩm cho người nông dân, Đảng đã chạm đúng vào đòn bẩy lợi ích sát sườn nhất. Người nông dân từ vị thế đi làm công ăn điểm cho hợp tác xã một cách thụ động, nay trở thành người làm chủ thực sự trên mảnh ruộng của mình. Hiệu quả xuất hiện gần như ngay lập tức. Chỉ sau một năm thực hiện Khoán 10, từ một quốc gia phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, Việt Nam không những tự túc được lương thực mà còn xuất khẩu 1,2 triệu tấn gạo đầu tiên vào năm 1989. Sự kiện này khẳng định tính đúng đắn của việc tôn trọng quy luật khách quan và lợi ích của người lao động trong thời kỳ quá độ.

Bốn mươi năm qua, tầm vóc nông nghiệp Việt Nam không dừng lại ở việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia hay việc gia tăng sản lượng xuất khẩu thô sơ. Nông nghiệp nước ta đã chủ động đi vào quỹ đạo chất lượng cao, sinh thái và bền vững. Từ việc làm đầy "vựa lúa" của thế giới, Việt Nam đã xây dựng được những thương hiệu nông sản tầm cỡ toàn cầu. Hạt gạo Việt Nam ngày nay không chỉ cạnh tranh bằng giá rẻ, mà đã hiện diện kiêu hãnh tại các thị trường khó tính nhất như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ nhờ chất lượng vượt trội và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh ngặt nghèo. Bên cạnh lúa gạo, các mặt hàng chiến lược như cà phê, hạt điều, tiêu, thủy hải sản và đồ gỗ liên tục giữ những vị thế đứng đầu toàn cầu. Sự phát triển này là minh chứng sinh động cho việc chuyển dịch từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, xây dựng các chuỗi liên kết giá trị từ cánh đồng đến bàn ăn quốc tế.

Tuy nhiên, tầm vóc 40 năm không chỉ dừng lại ở hạt gạo. Việt Nam hôm nay đã trở thành tâm điểm của dòng vốn đầu tư công nghệ cao. Việc tham gia 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất khu vực.

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên thành một mắt xích công nghiệp chế biến, chế tạo quan trọng, thu hút những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như Samsung, Intel, LG, và gần đây là các "ông lớn" trong chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu. Việc ký kết và thực thi hiệu quả các FTA tiêu chuẩn cao như CPTPP, EVFTA, RCEP không chỉ mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp trong nước mà còn tạo lập cho Việt Nam một vị thế đối tác thương mại tin cậy, tự chủ, có tiếng nói trọng lượng trong cấu trúc địa - kinh tế toàn cầu.

2.3. Những con số “biết nói” về sự vươn mình

Nhìn lại chặng đường lịch sử, những thành tựu kinh tế - xã hội của Việt Nam trong tiến trình đổi mới không phải là những nhận định cảm tính, mà được khắc họa rõ nét bằng hệ thống số liệu khoa học, chính xác, mang tính thuyết phục tuyệt đối. Văn kiện Đại hội 14 của Đảng nêu rõ: “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sẽ ngày càng phát triển, khẳng định sự đúng đắn trong đường lối, quan điểm của Đảng ta. Dự báo theo kịch bản tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể đạt trung bình ở mức 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 dự kiến đạt khoảng 8.500 USD, Việt Nam có thể bước vào ngưỡng các quốc gia thu nhập trung bình cao với quy mô GDP năm 2030 dự báo đạt khoảng 900 tỉ USD. Đến năm 2045, nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2030 - 2045 tiếp tục duy trì ở mức cao, quy mô GDP năm 2045 sẽ đạt khoảng 2.500 tỉ USD” [6]. Đây là câu trả lời đanh thép nhất cho các luận điệu cho rằng “chủ nghĩa xã hội kìm hãm sự phát triển”. Thực tế chứng minh: Chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa mới ưu tiên nguồn lực để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, giúp Việt Nam hoàn thành sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.

Sự tăng trưởng thần kỳ của quy mô GDP không chỉ phản ánh năng lực sản xuất nội địa tăng lên mà còn thể hiện cơ cấu kinh tế dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và dịch vụ hóa. Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục thuộc nhóm cao nhất thế giới trong nhiều thập kỷ, ngay cả trong những giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu hay đại dịch lịch sử. Sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát tốt, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế là bệ đỡ vững chắc để đất nước tự tin tiến vào những giai đoạn phát triển cao hơn.

Ý nghĩa nhân văn sâu sắc của mô hình phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nằm ở chỗ: sự tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và từng chính sách phát triển. Khác với mô hình tư bản chủ nghĩa vốn thường chấp nhận sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc để đổi lấy tích lũy tư bản nhanh, Việt Nam đặt con người vào trung tâm của sự phát triển. Nhìn nhận thấu đáo về bản chất của thành tựu kinh tế này trong chỉnh thể chế độ mới, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết: "Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế" [7].

Việc giảm tỷ lệ nghèo từ mức đa số tuyệt đối (trên 70%) xuống mức dưới 3% theo chuẩn nghèo đa chiều khắt khe là một kỳ tích được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi như một hình mẫu về xóa đói giảm nghèo toàn cầu. Nguồn lực quốc gia được ưu tiên đầu tư vào hệ thống hạ tầng y tế, giáo dục, mạng lưới an sinh xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, đưa nước ta vào nhóm các nước có HDI ở mức cao của thế giới, vượt trội so với nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân đầu người.

2.4. Ngoại giao cây tre và tự chủ chiến lược

Quảng cáo

Sự phát triển mạnh mẽ của tiềm lực kinh tế đã tạo tiền đề vững chắc để nước ta triển khai một đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa mang đậm bản sắc dân tộc.

Lý luận đổi mới còn hiện thực hóa qua trường phái “Ngoại giao cây tre”. Việt Nam đã phá thế bao vây để thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Chúng ta không “chọn bên”, chúng ta chọn chính nghĩa và lợi ích quốc gia.

Thuật ngữ "Ngoại giao cây tre" do cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc kết đã khái quát hóa một cách xuất sắc bản sắc ngoại giao thời đại mới: "gốc vững, thân chắc, uyển chuyển, mềm dẻo nhưng vô cùng kiên cường".

"Gốc vững" chính là nguyên tắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích tối cao của đất nước, của nhân dân dựa trên nền tảng tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

"Thân chắc" là bản lĩnh, sự tự cường, tự chủ kinh tế và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

"Cành uyển chuyển" là sự linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, ứng vạn biến đối phó với những biến động phức tạp của thời cuộc.

Trong một thế giới đầy biến động địa chính trị, sự cạnh tranh gay gắt giữa các siêu cường, việc Việt Nam thiết lập được mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc hàng đầu là một thành tựu có tính lịch sử. Chúng ta đã chứng minh được vai trò là cầu nối hòa bình, điểm đến an toàn và tin cậy cho các đối thoại quốc tế, đóng góp trách nhiệm vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Việt Nam không tham gia liên minh quân sự chống lại nước khác, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, kiên trì giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Thực tiễn ứng phó đại dịch COVID-19 và việc giữ vững ổn định chính trị giữa những xung đột địa chính trị thế giới đã chứng minh: Khi lòng dân hòa quyện cùng ý Đảng, chúng ta tạo ra sức mạnh nội sinh không thể bẻ gãy. Sự tự cường kinh tế gắn liền với bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” chính là tầm vóc mới của Việt Nam trên trường quốc tế. Khi đại dịch bùng phát, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng đã kích hoạt sức mạnh tổng lực của tinh thần tương thân tương ái, kỷ cương và sự đồng lòng của toàn thể nhân dân. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã ghi nhận đầy tự hào về giai đoạn cam go này: "Kinh tế từng bước phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng sau đại dịch Covid-19. Đã thực hiện cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền 3 cấp, tổ chức lại không gian phát triển; triển khai thực hiện các quyết sách chiến lược để đột phá phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" [8].

Sự hy sinh, cống hiến của lực lượng tuyến đầu và sự tự giác chấp hành của người dân đã giúp đất nước vượt qua những thời khắc cam go nhất, vừa bảo vệ tính mạng nhân dân, vừa nhanh chóng phục hồi sản xuất. Sức mạnh nội sinh ấy cũng chính là nền tảng để bảo đảm an ninh quốc gia trong điều kiện mới. Việt Nam thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa", nghĩa là chủ động phòng ngừa, triệt tiêu các nguy cơ xung đột từ khi chưa định hình, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền bằng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với đối ngoại và phát triển kinh tế.

2.5. Giá trị thời đại và bài học đúc rút cho chặng đường mới

Hành trình 40 năm đổi mới đã để lại những bài học kinh nghiệm vô giá, mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, định hướng cho bước đường phát triển của đất nước trong những thập niên tiếp theo.

Bài học thứ nhất: Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là tìm ra những con đường, bước đi, hình thức và biện pháp hiệu quả để đạt được mục tiêu đó. Mọi sự xa rời bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết nền tảng đều sẽ dẫn tới chệch hướng, sai lầm mang tính trả giá.

Bài học thứ hai: Lấy dân làm gốc, khơi dậy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng phải xuất phát từ cuộc sống, đặt lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân lên trên hết. Thực tiễn 40 năm qua chứng minh, khi lòng dân đồng thuận, khó khăn nào cũng vượt qua, mọi mục tiêu dù lớn lao đến đâu cũng có thể hiện thực hóa.

Bài học thứ ba: Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ. Hội nhập là phương thức để tranh thủ nguồn lực bên ngoài kết hợp với sức mạnh bên trong tạo thành sức mạnh tổng hợp quốc gia. Trong quá trình đó, tự chủ về kinh tế là điều kiện tiên quyết để giữ vững độc lập về chính trị và chủ động trong quan hệ quốc tế.

Trải qua bốn thập kỷ đầy cam go nhưng cũng vô cùng oanh liệt, Việt Nam đã khẳng định một tầm vóc mới trên trường quốc tế. Để định hướng tư tưởng tư duy chiến lược cho toàn Đảng, toàn quân bảo vệ thành quả vĩ đại này trước thềm chặng đường mới, Văn kiện Đại hội Đảng chỉ rõ nhiệm vụ then chốt: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới" [9].

Những kỳ tích phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và giữ vững chủ quyền quốc gia là minh chứng hùng hồn nhất cho sự đúng đắn, khoa học của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đây chính là bệ phóng vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

3: Soi đường tương lai: Khát vọng hùng cường và sứ mệnh lịch sử

Đại hội XIV mở ra chương mới: Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đây là lúc lý luận không chỉ dừng lại ở “tháo gỡ khó khăn” mà chuyển sang “kiến tạo bứt phá”, quyết tâm đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

3.1. Kỷ nguyên vươn mình: Bước nhảy vọt về chất trong tư duy phát triển

Trong triết học duy vật biện chứng, quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất là quy luật phổ biến của sự phát triển. Đối chiếu vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, hành trình 40 năm Đổi mới chính là một quá trình tích lũy về lượng đầy kiên trì, bền bỉ và quả cảm. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh và cô lập bởi bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu, và là một đối tác có uy tín cao trên trường quốc tế.

Tại sao gọi là “Kỷ nguyên vươn mình”? Sau 40 năm tích lũy về lượng, Việt Nam đã hội tụ đủ tiềm lực, vị thế và uy tín để thực hiện bước nhảy vọt. Đây là giai đoạn Đảng ta chuyển đổi mô hình quản trị: Từ quản lý phát triển sang kiến tạo phát triển dựa trên tri thức và công nghệ lõi.

Bước chuyển đổi này đánh dấu sự thay đổi căn bản trong nhận thức và phương thức lãnh đạo của Đảng. Nếu như ở giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới, chúng ta tập trung vào việc "tháo gỡ", "cởi trói" cho các nguồn lực sản xuất bị kìm hãm bởi cơ chế cũ, thì bước sang kỷ nguyên mới, nhiệm vụ tối thượng là kiến tạo các không gian phát triển mới. Sự kiến tạo này đòi hỏi một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, linh hoạt, chủ động đón đầu các xu thế lớn của thời đại để dẫn dắt, định hình hướng đi cho cả nền kinh tế - xã hội. Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là “quốc sách hàng đầu”. Chúng ta không chỉ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu mà phải làm chủ các công nghệ then chốt như công nghệ bán dẫn, kinh tế số và kinh tế xanh. Đây là sự vận dụng sáng tạo lý luận về lực lượng sản xuất trong thời đại công nghiệp 4.0. Tư duy này phản ánh sâu sắc tầm nhìn mới của Đảng về vai trò hạt nhân của tri thức, như một phương thức căn bản bảo đảm cho sự bứt phá tăng trưởng. Khái quát về tư duy phát triển bao trùm này, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ định hướng cốt lõi: "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Đảng ta khẳng định nhận thức về công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội dựa chủ yếu vào sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo" [10].

Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lực lượng sản xuất đã chỉ rõ vai trò quyết định của công cụ lao động và con người trong việc thúc đẩy tiến bộ xã hội. Trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tri thức và công nghệ không còn là những yếu tố bổ trợ mà đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp mạnh mẽ nhất. Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào lợi thế so sánh truyền thống như nguồn lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên thiên nhiên thô. Những lợi thế ấy đang mất dần dư địa và dễ rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Để thực hiện bước nhảy vọt, con đường duy nhất là đi thẳng vào lõi của công nghệ hiện đại. Việc Việt Nam định vị mình trong chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và cam kết mạnh mẽ về chuyển đổi xanh không chỉ là những quyết sách kinh tế đơn thuần. Đó là sự lựa chọn chiến lược mang tính sinh tử để thay đổi căn bản vị thế quốc gia trong phân công lao động quốc tế, đưa đất nước tự tin tiến vào hàng ngũ các quốc gia tiên phong.

3.2. Đột phá thể chế: Tấm khiên cho cán bộ năng động, sáng tạo

Một trong những quy luật vận động cốt lõi của xã hội là sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất đã có bước phát triển vượt bậc về chất nhờ công nghệ và tri thức, nhưng hệ thống thể chế, chính sách - vốn là biểu hiện của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng - vẫn chậm trễ, xơ cứng, nó sẽ lập tức trở thành lực cản.

Điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn là thể chế. Để hiện thực hóa khát vọng hùng cường, Đảng ta thực hiện cuộc cách mạng về quản trị quốc gia. Sự dũng cảm bảo vệ đổi mới sáng tạo đã được thể chế hóa bằng Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị định số 73/2023/NĐ-CP của Chính phủ.

Thực tế lịch sử chứng minh, mọi bước đột phá của đất nước đều khởi nguồn từ những ý tưởng sáng tạo, những hành động quả cảm vượt ra ngoài khuôn khổ của những quy định cũ kỹ, lạc hậu. Tuy nhiên, trong bối cảnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đang được siết chặt để làm trong sạch bộ máy, ở một số nơi đã xuất hiện tâm lý e dè, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không dám nghĩ, không dám làm của một bộ phận cán bộ. Đây là một thứ "virus trì trệ" vô cùng nguy hiểm, có thể làm lỡ đi những thời cơ vàng của đất nước. Vì vậy, việc ban hành các hành lang pháp lý để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm là một đòi hỏi khách quan, cấp bách của thực tiễn cách mạng. Đây chính là “tấm khiên” pháp lý vững chắc nhằm khơi thông dòng chảy năng lực, giải phóng tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm của cán bộ. Chúng ta chuyển tư duy xây dựng pháp luật từ “không quản được thì cấm” sang tư duy “khuyến khích, thúc đẩy phát triển”. Việc siết chặt kỷ luật Đảng đi đôi với bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm chính là cách Đảng tự làm mới mình để xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo dân tộc trong kỷ nguyên mới. Sự chuyển đổi này đòi hỏi người lãnh đạo phải sở hữu một tinh thần phụng sự trong sáng, vượt lên trên mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Bàn về phẩm chất liêm chính và dũng khí hành động vì sự nghiệp chung của đội ngũ cán bộ, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhắn nhủ nghiêm khắc: "Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử hư hỏng, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cục bộ, ưu ái tuyển dụng người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức" [11].

Sự chuyển dịch trong tư duy lập pháp này là bước tiến bộ vượt bậc. Từ tư duy quản lý hành chính, áp đặt sang tư duy kiến tạo, phục vụ. Pháp luật không phải là những rào dậu để bó buộc sức sáng tạo, mà phải là bệ đỡ, là đường ray định hướng và bảo vệ cho những ý tưởng đột phá vì lợi ích chung.

Khi người cán bộ được bảo vệ bằng một cơ chế rõ ràng, minh bạch, họ sẽ trút bỏ được gánh nặng tâm lý sợ sai, sẵn sàng dấn thân vào những việc mới, việc khó, những địa hạt chưa có tiền lệ. Đây chính là động lực nội sinh cực kỳ quan trọng để giải phóng mọi nguồn lực xã hội, biến các tiềm năng kinh tế - kỹ thuật thành kết quả thực tế trên công trường, nhà máy và đời sống nhân dân.

3.3. Bản lĩnh đối diện thử thách và giải quyết những mâu thuẫn nội tại

Hành trình tiến vào kỷ nguyên vươn mình không phải là con đường trải đầy hoa hồng mà là cuộc trường chinh mới đầy rẫy những thách thức, cam go. Nhận thức rõ điều này, tư duy lý luận của Đảng không cho phép sự tự mãn hay chủ quan duy ý chí. Chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu cực đoan - mà Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, cùng với đó là xu hướng già hóa dân số nhanh chóng đang đặt ra áp lực khổng lồ lên hệ thống an sinh xã hội. Ở bên ngoài, sự cạnh tranh địa chính trị gay gắt giữa các nước lớn, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy và những đứt gãy trong chuỗi cung ứng toàn cầu luôn trực chờ tác động tiêu cực đến một nền kinh tế có độ mở lớn như nước ta.

Ở bên trong, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dù đã đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng vẫn đòi hỏi phải được tiến hành kiên quyết, kiên trì và nhân văn hơn nữa để làm trong sạch bộ máy một cách triệt để. Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu vẫn chưa hoàn thành triệt để; chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực công nghệ cao vẫn là một nút thắt cổ chai cần sớm tháo gỡ.

Chính trong những thời khắc đầy thử thách này, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng lại một lần nữa được trui rèn. Nhìn thẳng vào những hạn chế, yếu kém để sửa đổi; chủ động nhận diện từ sớm, từ xa các nguy cơ để phòng ngừa; biến thách thức thành thời cơ, biến áp lực thành động lực hành động - đó chính là phương thức để Việt Nam liên tục bứt phá, khẳng định sức sống mãnh liệt của một quốc gia tự chủ và tự cường. Tiến trình này không cho phép sự do dự hay thỏa hiệp vô nguyên tắc, bởi bảo vệ môi trường sinh thái và ổn định xã hội là tiêu chuẩn sống còn để bảo đảm đích đến bền vững. Định vị về trạng thái quá độ đầy vận động và thách thức này, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: "Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế" [12].

Hành trình 40 năm đổi mới là một pho sách thực tiễn vô giá. Với hành trang là hệ thống lý luận ngày càng hoàn thiện và bản lĩnh chính trị được trui rèn qua gian khó, dân tộc Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử chưa từng có. Chúng ta có đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để vững tin vào con đường phía trước. Niềm tin ấy được xây dựng từ những thành quả của đất nước, từ sự đồng thuận "ý Đảng lòng dân", từ sự ủng hộ, tin cậy của bạn bè quốc tế. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được định hình rõ nét, khoa học và thực tế hơn bao giờ hết. Dưới ánh sáng lý luận của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân là một chiến sĩ trên mặt trận kiến thiết. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự tin: Một Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu không còn là đích đến xa vời, mà là hiện thực sinh động trong tầm tay của thế hệ hôm nay.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 15 - 16.

[2]. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 21.

[3]. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 38.

[4]. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 37-38.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 5-6.

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 243-244.

[7]. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 33.

[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 18-19.

[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 26-27.

[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 44.

[11]. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 97.

[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 35.