CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG BỐI CẢNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Nguyễn Quốc Trung Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Đồng Tháp Email: [email protected] ThS. Trần Lê Cẩm Tú, Phó Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của công tác xây dựng Đảng đối với sự ổn định và phát triển của tỉnh Đồng Tháp trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các văn bản và báo cáo liên quan, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế
06:39 | 23/07/2026

Nguyễn Quốc Trung

Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Đồng Tháp

Email: [email protected]

ThS. Trần Lê Cẩm Tú,

Phó Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của công tác xây dựng Đảng đối với sự ổn định và phát triển của tỉnh Đồng Tháp trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương
hai cấp. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các văn bản và báo cáo liên quan, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân trong tổ chức cơ sở đảng, sinh hoạt chi bộ, quản lý đảng viên, tổ chức bộ máy và công tác kiểm tra, giám sát. Từ đó, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và tăng cường kiểm tra, giám sát, góp phần tạo nền tảng chính trị cho sự phát triển ổn định và bền vững của tỉnh Đồng Tháp.

Từ khóa: xây dựng Đảng; tổ chức cơ sở đảng; chính quyền địa phương hai cấp; tỉnh Đồng Tháp; phát triển bền vững.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển đất nước, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với việc tổ chức thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế và xã hội. Quan điểm về xây dựng Đảng vững mạnh tiếp tục được đặt trong yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và năm 2045, gắn với nhiệm vụ nâng cao vị thế và tiềm lực quốc gia [1]. Vì vậy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần được thực hiện thường xuyên, đồng bộ và gắn chặt với yêu cầu phát triển của từng địa phương.

Đối với tỉnh Đồng Tháp, việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tạo ra những thay đổi lớn về cơ cấu tổ chức, phạm vi quản lý và phương thức phối hợp trong hệ thống chính trị [2]. Đảng bộ tỉnh được thành lập theo Quyết định số 326-QĐ/TW ngày 18/6/2025 của Bộ Chính trị, đồng thời tổ chức lại các cơ quan tham mưu, đơn vị sự nghiệp và tổ chức đảng trực thuộc [3]. Bối cảnh này vừa tạo điều kiện để tinh gọn bộ máy, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực lãnh đạo, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu, tập trung vào các báo cáo, nghị quyết, kết luận và phương án tổ chức có liên quan đến công tác xây dựng Đảng tại tỉnh Đồng Tháp [3]-[9]. Nội dung nghiên cứu được triển khai theo ba nhóm vấn đề gồm kết quả chủ yếu, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với bối cảnh sau sắp xếp tổ chức bộ máy. Phạm vi bài viết chủ yếu xem xét công tác tổ chức xây dựng Đảng, sinh hoạt chi bộ, quản lý đảng viên, tổ chức bộ máy và kiểm tra, giám sát trong giai đoạn gần đây.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Kết quả chủ yếu trong công tác xây dựng Đảng

2.1.1. Công tác chính trị, tư tưởng và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị và tư tưởng được Tỉnh ủy quan tâm triển khai gắn với việc quán triệt các nghị quyết, chỉ thị và kết luận của Trung ương. Các chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết đại hội đảng các cấp được cụ thể hóa theo nhiệm vụ của địa phương, qua đó hỗ trợ cán bộ, đảng viên thống nhất nhận thức và hành động [4]-[6]. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cung cấp thông tin chính thống và đấu tranh với thông tin sai trái được thực hiện thường xuyên, đồng thời gắn với trách nhiệm nêu gương khi sử dụng các nền tảng thông tin điện tử [10].

Việc đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ được triển khai theo các văn bản chỉ đạo của Trung ương, trong đó có Chỉ thị số 50-CT/TW và Hướng dẫn số 42-HD/BTCTW ngày 23/7/2025 [11], [12]. Nội dung sinh hoạt từng bước bám sát nhiệm vụ chính trị và các vấn đề thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị, đồng thời tăng cường trao đổi và thảo luận trong chi bộ. Tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu trong sinh hoạt được chú trọng hơn, góp phần củng cố sự đoàn kết và nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.

2.1.2. Công tác tổ chức, cán bộ và vận hành bộ máy

Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được triển khai đồng bộ với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tỉnh đã hợp nhất, sáp nhập 305 đảng bộ cấp xã thành 102 đảng bộ cấp xã trực thuộc Tỉnh ủy, kết thúc hoạt động của 24 đảng bộ cấp huyện và tương đương, đồng thời sáp nhập hoặc thành lập mới 4 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy [3]. Các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp và cơ quan thuộc chính quyền, Mặt trận Tổ quốc được kiện toàn để bảo đảm hoạt động cơ bản thông suốt.

Các quy định và quy chế liên quan đến tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và công tác cán bộ được rà soát, điều chỉnh hoặc ban hành mới. Công tác quy hoạch, điều động, luân chuyển, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ tiếp tục được thực hiện, trong đó có sự quan tâm đến cán bộ trẻ và cán bộ nữ [4]-[6]. Việc đánh giá cán bộ từng bước chuyển theo hướng liên tục, đa chiều, có tiêu chí và gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của tập thể, địa phương, cơ quan và đơn vị.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ được thực hiện theo quy định. Việc bố trí cán bộ sau sắp xếp được đặt trong yêu cầu vừa bảo đảm vận hành bộ máy, vừa sử dụng phù hợp năng lực và kinh nghiệm của từng vị trí. Kết quả bước đầu cho thấy hệ thống chính trị của tỉnh đã duy trì được hoạt động trong giai đoạn chuyển tiếp, dù vẫn còn những khó khăn cần tiếp tục xử lý.

2.1.3. Quản lý đảng viên và ứng dụng công nghệ thông tin

Các cấp ủy trong toàn Đảng bộ tỉnh tiếp tục thực hiện Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn về nghiệp vụ công tác đảng viên. Việc quản lý hồ sơ, cập nhật thông tin và chuẩn hóa dữ liệu đảng viên được triển khai nhằm đưa công tác nghiệp vụ vào nền nếp. Đây là cơ sở để nâng cao chất lượng quản lý đảng viên và hỗ trợ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo làm sạch và chuẩn hóa Cơ sở dữ liệu đảng viên, đồng thời triển khai một số thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử. Theo báo cáo của địa phương, 100% cấp ủy trực thuộc Tỉnh ủy đã thực hiện việc làm sạch và chuẩn hóa Cơ sở dữ liệu đảng viên 4.0 [3], [6]. Dữ liệu được rà soát theo hướng đầy đủ, chính xác, đồng bộ và thống nhất, qua đó tạo điều kiện cho việc quản lý và khai thác thông tin trong toàn Đảng bộ.

2.1.4. Sắp xếp tổ chức đảng ở ấp, khu phố

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã năm 2025, toàn tỉnh có 1.703 khu phố, khóm và ấp, gồm 396 khu phố hoặc khóm và 1.307 ấp. Việc tiếp tục sắp xếp các đơn vị này được thực hiện gắn với tổ chức chi bộ và bố trí các chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở. Đây là nội dung có tác động trực tiếp đến tổ chức cộng đồng dân cư, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở và đời sống của người dân.

Theo Phương án tổng thể số 827/PA-UBND ngày 06/6/2026, sau sắp xếp tỉnh còn 1.293 ấp và khu phố, giảm 410 đơn vị, tương ứng 24,06% so với trước khi sắp xếp [9]. Có 89 xã, phường thực hiện sắp xếp và thành lập mới 371 ấp, khu phố, trong khi 13 xã không thực hiện sắp xếp. Nhân sự dự kiến bố trí cho ba chức danh gồm bí thư chi bộ, trưởng ấp hoặc khu phố và trưởng ban công tác mặt trận tại 1.293 đơn vị là 3.879 người.

Việc hoàn thành sắp xếp ấp, khu phố tại 102 xã, phường tạo điều kiện tổ chức lại hoạt động lãnh đạo và quản lý ở cơ sở. Quá trình này không chỉ thay đổi quy mô, địa giới hoặc tên gọi mà còn gắn với yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, hiệu quả quản lý của chính quyền và vai trò vận động Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức chính trị - xã hội. Kết quả sắp xếp góp phần tinh gọn bộ máy, nhưng cũng làm phát sinh yêu cầu mới về nhân sự, cơ sở vật chất và phương thức tổ chức sinh hoạt.

2.1.5. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng

Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng được triển khai theo các nghị quyết, quy định, kết luận và hướng dẫn của Trung ương. Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp chú trọng xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa và hằng năm, đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực hiện [4]-[6]. Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc chấp hành Điều lệ Đảng, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ và các dấu hiệu vi phạm.

Hoạt động kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng được phối hợp với thanh tra, điều tra, kiểm sát và giám sát của các cơ quan nhà nước. Công tác giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cũng được xem là một kênh hỗ trợ phát hiện và xử lý vấn đề. Việc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giám sát thường xuyên và kiểm soát tài sản, thu nhập đối với cán bộ thuộc diện quản lý tiếp tục được thực hiện theo quy định.

2.2. Hạn chế trong công tác xây dựng Đảng

Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình vận hành bộ máy sau sắp xếp vẫn còn một số khó khăn. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức ở cấp xã còn lúng túng khi tiếp nhận nhiệm vụ từ cấp huyện và cấp xã trước đây, trong khi phạm vi công việc mở rộng và yêu cầu xử lý đa lĩnh vực tăng lên [7], [8]. Năng lực, trình độ và kỹ năng của đội ngũ chưa đồng đều, dẫn đến áp lực lớn đối với công tác tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Việc bố trí và sử dụng cán bộ sau sắp xếp ở một số nơi chưa thật sự thuận lợi. Một số cán bộ phải đồng thời đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ, trong khi quy trình phối hợp và phân định trách nhiệm vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Tình trạng này có thể ảnh hưởng đến tiến độ xử lý công việc, chất lượng tham mưu và khả năng bám sát cơ sở.

Chất lượng sinh hoạt chi bộ tại một số nơi còn chậm đổi mới và chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nội dung sinh hoạt còn nặng về phổ biến văn bản hoặc kiểm điểm công việc chuyên môn, trong khi việc thảo luận giải pháp, tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện thường xuyên. Một số chi bộ chưa bảo đảm sinh hoạt chuyên đề theo quy định, đồng thời tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu chưa được thể hiện rõ.

Công tác quản lý đảng viên có lúc, có nơi chưa chặt chẽ. Một số đảng viên tham gia sinh hoạt chưa nghiêm túc, còn thụ động, ít phát biểu và có tâm lý nể nang hoặc ngại va chạm. Việc kiểm tra, giám sát chất lượng sinh hoạt chi bộ chưa bao quát đầy đủ tất cả chi bộ trực thuộc trước khi đánh giá và xếp loại hằng năm.

2.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Trước hết, nhận thức của một số tổ chức cơ sở đảng, chi bộ, cán bộ và đảng viên về ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ chưa đầy đủ. Công tác chuẩn bị nội dung ở một số chi bộ chưa kỹ, chưa xác định rõ vấn đề trọng tâm và chuyên đề cần thảo luận. Một số cấp ủy viên phụ trách địa bàn chưa thường xuyên dự họp, theo dõi và hướng dẫn sinh hoạt chi bộ theo nhiệm vụ được phân công.

Sau hợp nhất và sáp nhập, địa bàn quản lý của nhiều chi bộ rộng hơn, số lượng đảng viên tăng và yêu cầu đối với công tác tổ chức cũng cao hơn. Cơ sở vật chất, địa điểm sinh hoạt, hồ sơ và tài liệu của một số đơn vị chưa được bàn giao hoặc bố trí hoàn chỉnh trong giai đoạn đầu [7], [8]. Một số cán bộ mới nhận nhiệm vụ cần thêm thời gian để tiếp cận công việc, nắm địa bàn và hình thành phương thức phối hợp phù hợp.

Đội ngũ bí thư chi bộ, trưởng ấp, khu phố và trưởng ban công tác mặt trận trước sắp xếp có kinh nghiệm, uy tín và am hiểu địa bàn, nhưng nhiều người lớn tuổi và chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn mới. Trong khi đó, một bộ phận người hoạt động không chuyên trách tại xã, phường đáp ứng điều kiện về trình độ nhưng còn trẻ và thiếu kinh nghiệm thực tiễn trong điều hành, lãnh đạo ở cơ sở. Sự khác biệt về kinh nghiệm, kỹ năng và khả năng thích ứng làm cho việc bố trí nhân sự sau sắp xếp cần có lộ trình và giải pháp hỗ trợ phù hợp.

3. Giải pháp

Quảng cáo

3.1. Hoàn thiện mô hình tổ chức của Đảng phù hợp với hệ thống chính trị

Cần tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức đảng đồng bộ với tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị sau sắp xếp. Tổ chức cơ sở đảng phải được củng cố để thực hiện tốt vai trò hạt nhân chính trị, đồng thời phù hợp với đặc điểm của địa bàn, lĩnh vực và yêu cầu phát triển mới. Việc rà soát mô hình tổ chức tại cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu đô thị và địa bàn đặc thù cần gắn với hiệu quả hoạt động thực tế.

Các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác và phân cấp quản lý cần được tiếp tục cụ thể hóa. Việc điều chỉnh phải bảo đảm rõ đầu mối, rõ trách nhiệm và hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Đối với ấp, khu phố có đông đảng viên, cần xem xét mô hình tổ chức chi bộ phù hợp với quy mô và điều kiện sinh hoạt tại cơ sở.

3.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ

Phương thức lãnh đạo của cấp ủy và tổ chức đảng cần được đổi mới theo hướng dân chủ, sát cơ sở và dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ. Hoạt động quản trị, điều hành, kiểm tra, giám sát và đánh giá cần từng bước sử dụng dữ liệu số đồng bộ, qua đó nâng cao khả năng theo dõi và phản hồi. Việc ứng dụng công nghệ phải đi cùng với chuẩn hóa quy trình, bảo mật thông tin và nâng cao năng lực số của cán bộ, đảng viên.

Sinh hoạt chi bộ cần tập trung vào vấn đề thực tiễn, hạn chế tình trạng chỉ đọc văn bản hoặc báo cáo công việc chuyên môn. Cấp ủy cần chuẩn bị nội dung có trọng tâm, tăng thời gian thảo luận và xác định rõ nhiệm vụ sau mỗi kỳ sinh hoạt. Việc thực hiện các mô hình “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt” cần gắn với tiêu chí cụ thể, kết quả thực chất và hoạt động kiểm tra định kỳ [11], [12].

Môi trường sinh hoạt phải khuyến khích đảng viên phát biểu, tham gia tự phê bình và phê bình, đồng thời hạn chế tâm lý né tránh hoặc ngại va chạm. Cần phát huy vai trò của bí thư chi bộ và cấp ủy viên phụ trách địa bàn trong hướng dẫn, theo dõi và xử lý khó khăn. Những tập thể, cá nhân thực hiện tốt cần được ghi nhận và nhân rộng trên cơ sở kết quả cụ thể, tránh biểu dương hình thức.

3.3. Đổi mới công tác tạo nguồn và phát triển đảng viên

Công tác tạo nguồn và phát triển đảng viên cần được thực hiện linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, cơ quan và đơn vị. Nguồn phát triển đảng viên cần được mở rộng đến khu vực ngoài nhà nước, lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và các lực lượng trực tiếp hoạt động ở cơ sở. Quá trình lựa chọn phải chú trọng phẩm chất, động cơ phấn đấu, năng lực thực hiện nhiệm vụ và khả năng gắn bó với cộng đồng.

Đối với trí thức trẻ, học sinh, sinh viên và những cá nhân có thành tích trong học tập, nghiên cứu, khởi nghiệp hoặc hoạt động xã hội, cần có phương thức phát hiện và bồi dưỡng phù hợp. Việc tạo nguồn không nên chỉ dựa vào thành tích mà phải gắn với quá trình rèn luyện, ý thức trách nhiệm và mức độ cống hiến. Các tổ chức đảng cần phân công đảng viên theo dõi, hỗ trợ và đánh giá quần chúng ưu tú trong môi trường thực tiễn.

3.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên cần được thực hiện đồng thời ở các khâu kết nạp, giáo dục, rèn luyện, quản lý, đánh giá và sàng lọc. Mỗi đảng viên phải giữ vững bản lĩnh chính trị, chấp hành nguyên tắc tổ chức của Đảng, gắn bó với Nhân dân và thực hiện trách nhiệm nêu gương. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, yêu cầu này cần được thể hiện bằng kết quả công việc, khả năng giải quyết vấn đề và tinh thần chịu trách nhiệm.

Cần nghiên cứu hoàn thiện tiêu chí đánh giá đảng viên theo hướng cụ thể, có thể theo dõi và gắn với vị trí công tác. Tiêu chí nên chú trọng phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, năng lực số, tinh thần đổi mới, khả năng phối hợp và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Việc đánh giá phải kết hợp nhận xét của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và phản hồi phù hợp từ đối tượng phục vụ.

Công tác đào tạo và bồi dưỡng cần ưu tiên những kỹ năng còn thiếu sau sắp xếp, nhất là quản lý đa lĩnh vực, điều hành ở cơ sở, sử dụng dữ liệu và phối hợp liên ngành. Đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm cần được phát huy vai trò hướng dẫn, trong khi cán bộ trẻ cần được giao nhiệm vụ phù hợp để tích lũy thực tiễn. Việc bố trí, luân chuyển và sử dụng cán bộ phải gắn với yêu cầu công việc, hạn chế tình trạng quá tải hoặc phân công không phù hợp năng lực.

3.5. Tăng cường kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình

Phân cấp và phân quyền cần đi đôi với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Cấp ủy cấp trên phải tăng cường theo dõi tổ chức cơ sở đảng, trong đó phát huy vai trò của cấp ủy viên phụ trách địa bàn. Chi bộ cần thực hiện tốt chức năng giáo dục, rèn luyện, giám sát và cảnh báo vi phạm từ sớm, ngay tại cơ sở [13].

Công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện từ khi hình thành chủ trương, trong quá trình tổ chức thực hiện và khi đánh giá kết quả. Việc kiểm tra trực tiếp có thể kết hợp với theo dõi dữ liệu để phát hiện sớm vấn đề, nhưng phải bảo đảm tính chính xác, an toàn và bảo mật. Trách nhiệm của người đứng đầu cần được xác định rõ, gắn với kết quả xử lý kiến nghị và khắc phục hạn chế sau kiểm tra.

Cần tiếp tục phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân. Các kênh tiếp nhận thông tin phải rõ ràng, thuận tiện và có cơ chế phản hồi, theo dõi kết quả xử lý. Hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng và hệ thống chính trị cần được đánh giá bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ, chất lượng phục vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

4. Kết luận

Xây dựng Đảng vững mạnh là điều kiện nền tảng để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị tại tỉnh Đồng Tháp. Trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công tác này cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức bộ máy, cán bộ, đảng viên đến sinh hoạt chi bộ và kiểm tra, giám sát. Những kết quả bước đầu cho thấy sự chủ động của Đảng bộ tỉnh, đồng thời phản ánh các yêu cầu mới phát sinh trong giai đoạn chuyển tiếp.

Thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng đội ngũ và tăng cường trách nhiệm giải trình. Các giải pháp phải bám sát điều kiện thực tế, có tiêu chí đánh giá và được kiểm tra thường xuyên để hạn chế hình thức. Khi tổ chức đảng hoạt động thực chất, đội ngũ đảng viên có năng lực và gắn bó với Nhân dân, nền tảng chính trị cho phát triển ổn định và bền vững của tỉnh sẽ được củng cố.

Tài liệu tham khảo

[1] Tô Lâm (2024), “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”, Báo Nhân Dân, số 25193, ngày 01/11/2024.

[2] Quốc hội (2025), Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

[3] Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Tháp (2026), Báo cáo số 238-BC/TU ngày 16/6/2026 về tình hình hoạt động tổ chức cơ sở đảng quý II/2026.

[4] Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Tháp (2025), Báo cáo số 63-BC/TU ngày 19/9/2025 về tổng kết công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp, nhiệm kỳ 2020-2025.

[5] Ban Tổ chức Tỉnh ủy Đồng Tháp (2025), Báo cáo số 55-BC/BTCTU ngày 11/12/2025 về công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026.

[6] Ban Tổ chức Tỉnh ủy Đồng Tháp (2026), Báo cáo số 159-BC/BTCTU ngày 18/6/2026 về tình hình, kết quả công tác 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của ngành tổ chức xây dựng Đảng.

[7] Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (2025), Báo cáo số 26/BC-UBND ngày 28/7/2025 về những khó khăn, vướng mắc và vấn đề mới phát sinh trong triển khai các văn bản về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.

[8] Văn phòng Tỉnh ủy Đồng Tháp (2025), Báo cáo số 17-BC/VPTU ngày 01/8/2025 về những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện nhiệm vụ của các đảng ủy xã, phường từ ngày 01/7/2025.

[9] Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (2026), Phương án tổng thể số 827/PA-UBND ngày 06/6/2026 về việc sắp xếp các khu phố, khóm, ấp của tỉnh Đồng Tháp.

[10] Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Thúy Hoàn và Bùi Văn Huấn, “Nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị hiện nay”, Lý luận chính trị, lyluanchinhtri.vn/nhan-dien-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-xuyen-tac-ve-cuoc-cach-mang-tinh-gon-bo-may-he-thong-chinh-tri-hien-nay-6919.html.

[11] Ban Bí thư (2025), Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 23/7/2025 về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới.

[12] Hướng dẫn số 42-HD/BTCTW ngày 23/7/2025 về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới.

[13] Bộ Chính trị (2026), Kết luận số 58-KL/TW ngày 26/6/2026 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

PARTY BUILDING IN DONG THAP PROVINCE IN THE CONTEXT OF THE TWO-TIER LOCAL GOVERNMENT MODEL:

CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS

Abstract: This article examines the role of Party building in maintaining stability and promoting development in Dong Thap Province in the context of administrative reorganization and the operation of the two-tier local government model. Based on the analysis and synthesis of relevant documents and reports, the article identifies major achievements, limitations, and causes related to grassroots Party organizations, Party-cell meetings, Party-member management, organizational arrangements, and inspection and supervision. It then proposes groups of solutions to improve the organizational model, renew leadership methods, enhance the quality of Party members, and strengthen inspection and supervision, thereby contributing to a stable and sustainable political foundation for the province's development.

Keywords: Party building; grassroots Party organizations; two-tier local government; Dong Thap Province; sustainable development.