VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã
06:25 | 19/07/2026

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá

Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4

Email: [email protected]

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã tạo cơ sở phát triển dịch vụ CTXH, nhưng sau khi vận hành chính quyền hai cấp ở tỉnh Đồng Tháp, hoạt động CTXH cấp cơ sở vẫn thiếu đầu mối quản lý trường hợp, quy trình chuyển gửi, cơ chế phối hợp liên ngành, hỗ trợ người chăm sóc và chỉ số đánh giá. Bài viết đề xuất mô hình: phát hiện - đánh giá nhu cầu; quản lý trường hợp - kết nối dịch vụ; nâng cao năng lực người chăm sóc; phối hợp liên ngành, truyền thông và giảm kỳ thị. Mô hình cần được thí điểm, đánh giá và điều chỉnh trước khi nhân rộng.

Từ khóa: công tác xã hội cơ sở; hệ sinh thái; hỗ trợ gia đình; quản lý trường hợp; rối loạn phát triển.

1. Đặt vấn đề

Các rối loạn phát triển thần kinh thần kinh ở trẻ em bao gồm một nhóm các tình trạng tâm thần bắt nguồn từ tuổi ấu thơ liên quan đến suy giảm nghiêm trọng ở các lĩnh vực khác nhau như nhận thức, ngôn ngữ, hành vi - cảm xúc và vận động. Theo DSM-5 thì nhóm các rối loạn này thường bao gồm các rối loạn như khuyết tật trí tuệ và rối loạn học tập, rối loạn phát triển ngôn ngữ, các rối loạn vận động và rối loạn phổ tự kỷ. Các vấn đề hành vi – cảm xúc là một trong những thách thức lớn nhất cho các nhà chuyên môn và gia đình trong làm việc và can thiệp với trẻ có rối loạn phát triển thần kinh [Bộ Y tế. 2025, tr.68]. Do định kiến của xã hội nhìn nhận về “thần kinh” và tâm lý khó chấp nhận của phụ huynh (PH) trước kết quả chẩn đoán con em mình có rối loạn phát triển thần kinh thần kinh, nên trong bài nhóm tác giả dùng cụm từ rối loạn phát triển (RLPT) để chỉ những bé thuộc đối tượng nêu trên.

Gia đình có trẻ RLPT thường phải đồng thời tìm kiếm thông tin, đưa trẻ đi đánh giá và can thiệp, phối hợp với nhà trường, chi trả chi phí, sắp xếp thời gian chăm sóc và đối mặt với áp lực tâm lý hoặc kỳ thị. Vì vậy, nhu cầu hỗ trợ không chỉ thuộc lĩnh vực y tế hoặc giáo dục mà còn liên quan đến CTXH, an sinh, bảo vệ trẻ em và huy động nguồn lực cộng đồng [World Health Organization, 2019].

Nghị định số 110/2024/NĐ-CP đã quy định nội dung hoạt động, dịch vụ và hành nghề CTXH, tạo cơ sở pháp lý cho việc hỗ trợ cá nhân, gia đình và nhóm có nhu cầu tại cộng đồng [Chính phủ, 2024]. Tại Đồng Tháp, Kế hoạch thực hiện Chương trình phát triển CTXH đến năm 2030 đặt ra nhiệm vụ phát triển mạng lưới dịch vụ, bố trí nhân sự, đào tạo đội ngũ, tăng cường truyền thông và mở rộng hoạt động tư vấn, hỗ trợ, quản lý trường hợp [UBND tỉnh Đồng Tháp, 2025].

Tuy nhiên, chính sách chung chưa tự động tạo ra một quy trình hỗ trợ liên tục cho gia đình có trẻ RLPT. Gia đình có thể tiếp xúc với nhiều cơ quan nhưng vẫn thiếu một đầu mối theo dõi toàn bộ nhu cầu và tiến trình hỗ trợ. Khi chưa có cơ chế phối hợp rõ ràng, gia đình phải tự tìm kiếm thông tin, liên hệ từng dịch vụ và xử lý những hướng dẫn khác nhau.

Bài viết nghiên cứu lý luận, phân tích chính sách và đề xuất mô hình nên tập trung làm rõ 03 vấn đề: 1) khoảng trống trong chính sách và tổ chức dịch vụ tại Đồng Tháp; 2) ý nghĩa của tiếp cận hệ sinh thái đối với thiết kế mô hình; 3) vai trò, điều kiện hoạt động của nhân viên CTXH cấp cơ sở.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu từ nguồn tài liệu văn bản của Chính phủ về CTXH [Chính phủ, 2024]; kế hoạch phát triển CTXH của tỉnh Đồng Tháp [UBND tỉnh Đồng Tháp, 2025]; số liệu công bố về giáo dục hòa nhập và chăm sóc trẻ khuyết tật tại địa phương [Đan Quế, 2026]; các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình và đào tạo kỹ năng người chăm sóc [Salomone và cộng sự, 2019], [Reichow và cộng sự, 2024], [Nguyễn Mộc Giao và cộng sự, 2026].

Tài liệu được phân tích theo 05 nội dung: 1) Phát hiện và đánh giá nhu cầu; 2) Quản lý trường hợp và chuyển gửi; 3) Phối hợp liên ngành; 4) Hỗ trợ người chăm sóc; 5) Theo dõi và đánh giá kết quả. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả xác định các khoảng trống ở cấp thực hiện và xây dựng khung mô hình.

Tiếp cận hệ sinh thái được sử dụng làm khung phân tích. Theo đó, sự phát triển của trẻ chịu tác động đồng thời từ gia đình, nhà trường, cộng đồng, dịch vụ chuyên môn, chính sách và điều kiện kinh tế – xã hội. Vì vậy, hỗ trợ cần xem xét cả nhu cầu của trẻ, năng lực của gia đình, chất lượng phối hợp dịch vụ và những rào cản trong môi trường sống.

Bài viết không sử dụng dữ liệu khảo sát hoặc phỏng vấn sơ cấp. Các nhận định được rút ra từ tài liệu chính sách, số liệu công bố và những nghiên cứu đã lựa chọn. Mô hình được đề xuất ở mức khung lý luận và vận hành ban đầu, cần tiếp tục được tham vấn và kiểm nghiệm trong thực tế.

2.2. Bối cảnh và khoảng trống trong hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT tại Đồng Tháp

Trong năm học 2025 – 2026, tỉnh Đồng Tháp có 678 trường với 2.756 lớp tổ chức giáo dục hòa nhập cho 3.559 học sinh khuyết tật. Bậc mầm non có 208 học sinh, tiểu học có 2.244 học sinh, trung học cơ sở có 869 học sinh và trung học phổ thông có 238 học sinh. Tỉnh có 02 trường chuyên biệt với 34 lớp và 330 học sinh khuyết tật; ngoài ra còn có trẻ được chăm sóc tại các cơ sở chuyên biệt khác [Đan Quế, 2026].

Số liệu trên cho thấy nhu cầu giáo dục và chăm sóc trẻ khuyết tật tại địa phương tương đối lớn. Tuy nhiên, số liệu chưa được phân tách đầy đủ theo dạng RLPT, mức độ cần hỗ trợ, địa bàn cư trú, tình trạng đi học và nhu cầu của gia đình. Số trẻ đang học trong hệ thống giáo dục cũng không phản ánh trẻ chưa đến trường, đã nghỉ học, chưa được đánh giá hoặc chưa tiếp cận dịch vụ. Vì vậy, các số liệu trên chỉ nên được sử dụng để nhận diện quy mô chung của nhu cầu, không nên dùng để ước tính chính xác số trẻ có RLPT trong toàn tỉnh.

Khoảng trống đầu tiên là thiếu cơ chế rà soát nhu cầu theo từng gia đình. Có gia đình cần hướng dẫn đánh giá chuyên môn; có gia đình cần hỗ trợ học hòa nhập, trợ giúp xã hội, tham vấn tâm lý hoặc hỗ trợ người chăm sóc. Nếu chỉ thống kê số trẻ theo trường học hoặc dạng khuyết tật thì chưa đủ cơ sở để xây dựng kế hoạch hỗ trợ phù hợp.

Kế hoạch phát triển CTXH đến năm 2030 của tỉnh Đồng Tháp đề ra mục tiêu bố trí nhân sự, phát triển cơ sở dịch vụ, tăng số người được tư vấn và quản lý trường hợp, đồng thời đào tạo cán bộ, nhân viên và cộng tác viên CTXH [UBND tỉnh Đồng Tháp, 2025]. Tuy nhiên, kế hoạch được áp dụng cho nhiều nhóm đối tượng. Đối với gia đình có trẻ RLPT, cần cụ thể hóa các nội dung như: tiêu chí tiếp nhận; đầu mối chịu trách nhiệm; quy trình đánh giá; cơ chế chuyển gửi; trách nhiệm phản hồi; thời điểm đánh giá lại; điều kiện kết thúc trường hợp; và cách xử lý khi có nguy cơ bạo lực, bỏ mặc hoặc khủng hoảng gia đình.

Khoảng trống chủ yếu không phải là hoàn toàn thiếu chính sách, mà nằm ở việc chuyển định hướng chính sách thành quy trình tác nghiệp có thể áp dụng thống nhất tại xã, phường. Nếu không có quy trình, hoạt động hỗ trợ dễ phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân và khó đánh giá chất lượng.

Gia đình có trẻ RLPT thường phải làm việc với trạm y tế, bệnh viện, trường học, cơ sở giáo dục đặc biệt, cơ quan trợ giúp xã hội, đoàn thể và chính quyền. Mỗi bên có chức năng riêng nhưng chưa chắc có đơn vị chịu trách nhiệm theo dõi toàn bộ quá trình hỗ trợ.

Trong điều kiện đó, gia đình trở thành bên tự điều phối dịch vụ, phải cung cấp lại thông tin nhiều lần, tự theo dõi lịch hẹn và xử lý những hướng dẫn khác nhau. Những gia đình có thu nhập thấp, ở xa trung tâm hoặc hạn chế kỹ năng tìm kiếm thông tin dễ bị gián đoạn hỗ trợ.

Vì vậy, cần xác lập một đầu mối quản lý trường hợp tại cấp cơ sở. Đầu mối này không thay thế bác sĩ, chuyên gia tâm lý hoặc giáo viên mà hỗ trợ gia đình xác định nhu cầu, lập kế hoạch, kết nối đúng dịch vụ và theo dõi việc chuyển gửi.

Phối hợp liên ngành cũng cần được cụ thể hóa bằng quy định về người chủ trì, thời hạn phản hồi, cách ghi nhận quyết định, trách nhiệm theo dõi và những trường hợp cần xin ý kiến chuyên môn. Nếu chỉ dừng ở yêu cầu “tăng cường phối hợp”, hoạt động dễ phụ thuộc vào quan hệ cá nhân và khó duy trì khi thay đổi nhân sự.

Gia đình là môi trường gắn bó lâu dài với trẻ và có vai trò duy trì các kỹ năng trong sinh hoạt hằng ngày [Nguyễn Mộc Giao và cộng sự, 2026]. Tuy nhiên, người chăm sóc thường chỉ nhận được những hướng dẫn rời rạc. Nhiều gia đình còn thiếu kiến thức về đặc điểm phát triển, cách giao tiếp, quản lý hành vi tích cực, xây dựng nề nếp, hỗ trợ tự phục vụ và chăm sóc sức khỏe tinh thần.

Chương trình Đào tạo Kỹ năng Người chăm sóc của Tổ chức Y tế thế giới cho thấy có thể đưa các kỹ năng hỗ trợ vào hoạt động hằng ngày của gia đình. Chương trình không nhằm biến cha mẹ thành chuyên gia trị liệu mà giúp người chăm sóc hiểu trẻ, tạo cơ hội giao tiếp và khuyến khích hành vi tích cực [Salomone và cộng sự, 2019].

Phân tích tổng hợp của Reichow và cộng sự cho thấy các chương trình đào tạo kỹ năng có thể cải thiện kỹ năng chăm sóc, sức khỏe tâm lý, hoạt động gia đình và một số kết quả phát triển hoặc hành vi của trẻ [Reichow và cộng sự, 2024].

Do đó, hỗ trợ người chăm sóc cần được xem là một hợp phần chính của mô hình. Nội dung phải có cơ sở chuyên môn, phù hợp với điều kiện địa phương và được thử nghiệm trước khi triển khai rộng.

2.3. Tiếp cận hệ sinh thái và vai trò của nhân viên CTXH cấp cơ sở

2.3.1. Tiếp cận hệ sinh thái trong hỗ trợ gia đình

Tiếp cận hệ sinh thái đặt trẻ trong các mối quan hệ có tác động qua lại. Ở cấp gần nhất là trẻ, cha mẹ, người chăm sóc, anh chị em, lớp học và nhóm bạn. Ở cấp liên kết là mối quan hệ giữa gia đình với nhà trường, y tế, cơ sở can thiệp và chính quyền. Ở cấp rộng hơn là hệ thống dịch vụ, điều kiện kinh tế, giao thông, chính sách an sinh, văn hóa và thái độ xã hội.

Theo cách tiếp cận này, khó khăn không chỉ xuất phát từ tình trạng của trẻ mà còn có thể do thiếu thông tin, dịch vụ ở xa, chi phí cao, cha mẹ quá tải, nhà trường thiếu nguồn lực hoặc cộng đồng còn kỳ thị. Kế hoạch hỗ trợ vì vậy phải xem xét đồng thời nhu cầu, nguồn lực và rào cản của gia đình.

Tiếp cận hệ sinh thái cần gắn với 02 nguyên tắc thực hành: 1) Lấy gia đình làm trung tâm: Gia đình tham gia xác định vấn đề ưu tiên, lựa chọn mục tiêu và quyết định giải pháp phù hợp. 2) Quản lý trường hợp: Quản lý trường hợp chuyển các nhu cầu đa chiều thành kế hoạch có mục tiêu, người chịu trách nhiệm, thời hạn và tiêu chí theo dõi.

2.3.2. Vai trò của nhân viên CTXH cấp cơ sở

Trong mô hình đề xuất, nhân viên CTXH cấp cơ sở có 06 vai trò chính:

Thứ nhất, tiếp nhận và đánh giá nhu cầu xã hội: Nhân viên tiếp nhận thông tin từ gia đình, nhà trường, y tế hoặc cộng đồng; xác định nhu cầu, nguồn lực và các yếu tố nguy cơ của gia đình.

Thứ hai, quản lý trường hợp: Nhân viên cùng gia đình xây dựng kế hoạch hỗ trợ, xác định mục tiêu, hoạt động, trách nhiệm và thời điểm đánh giá lại. Trường hợp đơn giản được tư vấn, chuyển gửi; trường hợp có nhiều nhu cầu được quản lý trong thời gian phù hợp.

Thứ ba, kết nối và điều phối dịch vụ: Nhân viên cung cấp thông tin, hỗ trợ thủ tục, liên hệ cơ sở tiếp nhận và theo dõi kết quả chuyển gửi. Điều phối không có nghĩa là chỉ đạo chuyên môn của y tế hoặc giáo dục.

Thứ tư, hỗ trợ người chăm sóc: Nhân viên tư vấn cơ bản, tổ chức nhóm phụ huynh, kết nối tham vấn và phối hợp với chuyên gia tổ chức chương trình kỹ năng. Các nội dung chuyên môn sâu phải do người có đủ năng lực thực hiện hoặc giám sát.

Thứ năm, huy động nguồn lực và giảm kỳ thị: Nhân viên phối hợp với đoàn thể, trường học, cơ sở tôn giáo, tổ dân phố và tổ chức xã hội để truyền thông, hỗ trợ đi lại, học tập hoặc sinh kế khi phù hợp. Việc huy động nguồn lực phải tôn trọng phẩm giá và bảo mật thông tin của trẻ và gia đình.

Thứ sáu, theo dõi, lượng giá và bảo vệ quyền của trẻ: Nhân viên theo dõi việc thực hiện kế hoạch, lấy ý kiến gia đình và đề xuất điều chỉnh. Khi phát hiện nguy cơ bạo lực, bỏ mặc hoặc xâm hại, phải thực hiện quy trình bảo vệ trẻ em theo thẩm quyền.

Lưu ý: Các vai trò trên chỉ khả thi khi nhân viên được đào tạo, có biểu mẫu làm việc, danh mục dịch vụ, cơ chế giám sát chuyên môn và khối lượng trường hợp phù hợp. Những nơi chưa có nhân viên CTXH chuyên nghiệp có thể bố trí cán bộ đầu mối đã được bồi dưỡng; các nội dung vượt quá năng lực phải được chuyển đến cơ sở chuyên môn.

2.4. Đề xuất mô hình hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT tại tỉnh Đồng Tháp

2.4.1. Mục tiêu, đối tượng và nguyên tắc

Mô hình nhằm giúp gia đình tiếp cận dịch vụ phù hợp, giảm tình trạng hỗ trợ rời rạc, nâng cao năng lực người chăm sóc và tăng cường sự phối hợp giữa các bên.

Đối tượng của mô hình là trẻ có dấu hiệu hoặc đã được xác định có RLPT và gia đình đang sinh sống tại địa bàn thí điểm. Mô hình không giới hạn ở trẻ đã có giấy xác nhận khuyết tật, vì một số trẻ cần được hỗ trợ trước khi hoàn thành các thủ tục có liên quan.

Mô hình được thực hiện theo 06 nguyên tắc: i) Lấy trẻ và gia đình làm trung tâm; ii) Tôn trọng quyền và sự đồng thuận; iii) Không dán nhãn; iv) Phân công đúng chuyên môn; v) ưu tiên dịch vụ gần cộng đồng; vi) Theo dõi bằng chỉ số cụ thể. Hoạt động sàng lọc chỉ nhằm nhận diện nguy cơ, không thay thế chẩn đoán chuyên môn.

2.4.2. Các hợp phần của mô hình

Hợp phần 1: Phát hiện, tiếp nhận và đánh giá nhu cầu

Các điểm tiếp nhận có thể gồm trạm y tế, trường học, bộ phận phụ trách trẻ em, cơ sở trợ giúp xã hội và tổ chức đoàn thể. Khi nhận thấy trẻ có dấu hiệu khó khăn, cán bộ trao đổi với gia đình và chuyển thông tin cho đầu mối CTXH trên cơ sở đồng thuận.

Nhân viên CTXH đánh giá nhu cầu xã hội và phối hợp chuyển đánh giá chuyên môn khi cần. Công cụ sàng lọc chỉ được sử dụng bởi người đã được hướng dẫn và theo quy trình phù hợp. Kết quả sàng lọc chỉ phản ánh dấu hiệu nguy cơ, không phải kết luận chẩn đoán.

Hợp phần 2: Quản lý trường hợp và kết nối dịch vụ

Gia đình có nhu cầu đơn lẻ được tư vấn và chuyển gửi. Gia đình có nhiều nhu cầu hoặc có nguy cơ gián đoạn dịch vụ được lập kế hoạch quản lý trường hợp.

Kế hoạch cần nêu rõ mục tiêu, hoạt động, đơn vị hỗ trợ, trách nhiệm của gia đình, thời điểm kiểm tra và kết quả cần đạt. Nhân viên CTXH theo dõi gia đình có đến được nơi chuyển gửi hay không, dịch vụ có phù hợp hay không và còn rào cản nào cần giải quyết.

Đối với trường hợp cần nhiều ngành tham gia, nhân viên CTXH tổ chức trao đổi liên ngành trong phạm vi thông tin cần thiết và được phép chia sẻ.

Hợp phần 3: Nâng cao năng lực người chăm sóc và nhóm hỗ trợ đồng đẳng

Địa phương phối hợp với y tế, giáo dục đặc biệt, tâm lý và cơ sở đào tạo xây dựng gói hỗ trợ người chăm sóc. Nội dung gồm hiểu đặc điểm của trẻ, giao tiếp trong sinh hoạt, tạo cơ hội tham gia, quản lý hành vi tích cực, hỗ trợ tự phục vụ, phối hợp với nhà trường và chăm sóc sức khỏe tinh thần.

Tài liệu phải dễ hiểu, có ví dụ thực tế và được thử nghiệm trước khi triển khai. Thời lượng và số buổi cần được xác định qua quá trình tham vấn và thí điểm, không áp dụng cứng nhắc cho mọi gia đình.

Nhóm phụ huynh được tổ chức trên cơ sở tự nguyện, có thể sinh hoạt trực tiếp kết hợp trực tuyến. Nhóm giúp chia sẻ kinh nghiệm, giảm cảm giác cô lập và phản ánh nhu cầu với địa phương. Không để nhóm trở thành nơi tư vấn chẩn đoán hoặc quảng bá những phương pháp chưa được kiểm chứng.

Hợp phần 4: Phối hợp liên ngành, truyền thông và giảm kỳ thị

Quảng cáo

Cấp xã, phường cần có danh sách đầu mối của y tế, giáo dục, CTXH, bảo vệ trẻ em và các tổ chức liên quan. Quy chế phối hợp cần quy định những trường hợp phải trao đổi, người chủ trì, thời hạn phản hồi, cách ghi nhận kết quả và trách nhiệm bảo mật.

Nội dung truyền thông tập trung vào dấu hiệu cần quan tâm, lợi ích của hỗ trợ sớm, quyền học tập và tham gia của trẻ, cách giao tiếp tôn trọng và địa chỉ dịch vụ. Không sử dụng thông điệp gây sợ hãi, quy lỗi cho cha mẹ hoặc hứa hẹn “chữa khỏi”.

2.4.3. Quy trình vận hành

Mô hình được vận hành theo 06 bước:

Bước 1: Tiếp nhận thông tin, giải thích mục đích hỗ trợ và lấy sự đồng thuận của gia đình.

Bước 2: Đánh giá ban đầu, xác định mức độ hỗ trợ và chuyển đánh giá chuyên môn khi cần thiết.

Bước 3: Lập kế hoạch hỗ trợ có mục tiêu, hoạt động, trách nhiệm và thời điểm xem xét lại.

Bước 4: Chuyển gửi, hỗ trợ thủ tục và xác nhận kết quả tiếp nhận dịch vụ.

Bước 5: Theo dõi, đánh giá lại và điều chỉnh kế hoạch theo tiến trình của trẻ và gia đình.

Bước 6, chuyển tiếp hoặc kết thúc trường hợp khi mục tiêu chính đã đạt, gia đình có thể tự tiếp cận dịch vụ hoặc không còn nhu cầu quản lý trường hợp.

Trước khi kết thúc, nhân viên CTXH cần thống nhất với gia đình về kế hoạch duy trì và địa chỉ liên hệ khi phát sinh nhu cầu mới.

2.4.4. Phân công trách nhiệm

Nhân viên CTXH cấp cơ sở là đầu mối quản lý trường hợp và kết nối dịch vụ.

Trạm y tế thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu, phối hợp sàng lọc và chuyển đánh giá chuyên môn.

Nhà trường nhận diện khó khăn trong học tập, xây dựng hỗ trợ giáo dục phù hợp và trao đổi với gia đình.

Cơ sở y tế, tâm lý và giáo dục đặc biệt thực hiện đánh giá, chẩn đoán hoặc can thiệp theo chức năng chuyên môn.

Chính quyền địa phương bảo đảm cơ chế phối hợp, nhân lực, kinh phí và hoạt động giám sát.

Các đoàn thể và tổ chức cộng đồng tham gia truyền thông, hỗ trợ đồng đẳng và huy động nguồn lực.

Ở cấp tỉnh cần có đơn vị hoặc nhóm hỗ trợ kỹ thuật để đào tạo, giám sát, xử lý trường hợp phức tạp và cập nhật danh mục dịch vụ. Cấp xã, phường không tự giải quyết những nội dung vượt quá năng lực hoặc thẩm quyền.

2.4.5. Quản lý thông tin và đánh giá mô hình

Trong giai đoạn thí điểm, nên sử dụng hồ sơ quản lý trường hợp thống nhất và ưu tiên tích hợp với hệ thống hiện có. Chỉ thu thập thông tin cần thiết cho mục đích hỗ trợ; quy định rõ người được truy cập, mục đích sử dụng, thời hạn lưu giữ và cách thức chia sẻ.

Bộ chỉ số đánh giá cần gồm:

- Số trường hợp được tiếp nhận.

- Thời gian từ tiếp nhận đến chuyển gửi.

- Tỷ lệ hoàn thành chuyển gửi.

- Tỷ lệ trường hợp có kế hoạch hỗ trợ.

- Tỷ lệ nhiệm vụ trong kế hoạch được thực hiện.

- Kiến thức và sự tự tin của người chăm sóc.

- Mức độ căng thẳng và sự hài lòng của gia đình.

- Mức độ tham gia học tập, sinh hoạt, giao tiếp hoặc tự phục vụ của trẻ.

Đồng thời cần theo dõi các chỉ số an toàn như vi phạm bảo mật, chuyển gửi không phù hợp, phản ánh của gia đình, nguy cơ dán nhãn và trường hợp bỏ dở hỗ trợ.

2.4.6. Điều kiện thí điểm

Mô hình nên được thí điểm tại một số xã, phường có điều kiện khác nhau về khoảng cách đến dịch vụ, quy mô dân số và nguồn nhân lực.

Trước khi triển khai phải có đầu mối CTXH, danh mục dịch vụ, quy trình chuyển gửi, biểu mẫu quản lý trường hợp, đào tạo ban đầu, cơ chế giám sát chuyên môn và kinh phí cơ bản.

Sau thí điểm cần đánh giá mức độ phù hợp, tính khả thi, mức độ chấp nhận, chi phí và kết quả ban đầu. Chỉ nên nhân rộng những hợp phần có khả năng vận hành trong điều kiện thực tế của địa phương.

Các tỉnh khác ở Đồng bằng sông Cửu Long có thể tham khảo khung mô hình nhưng cần điều chỉnh theo mạng lưới dịch vụ, đặc điểm địa bàn và nguồn lực của từng tỉnh.

3. Kết luận

Hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT là nhiệm vụ liên ngành, không thể giao riêng cho y tế, giáo dục hoặc gia đình. Đồng Tháp đã có định hướng phát triển CTXH và mở rộng dịch vụ, nhưng cần cụ thể hóa đầu mối quản lý trường hợp, quy trình tiếp nhận và chuyển gửi, trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ người chăm sóc và các chỉ số đánh giá.

Mô hình đề xuất gồm 04 hợp phần: phát hiện và đánh giá nhu cầu; quản lý trường hợp và kết nối dịch vụ; nâng cao năng lực người chăm sóc; phối hợp liên ngành, truyền thông và giảm kỳ thị. Nhân viên CTXH cấp cơ sở giữ vai trò đầu mối quản lý trường hợp, kết nối và theo dõi, không thay thế chuyên môn của y tế, tâm lý hoặc giáo dục.

Đóng góp của bài viết là chuyển các định hướng chính sách chung thành khung vận hành có thể thí điểm tại xã, phường. Do chưa có dữ liệu thực địa để kiểm định, mô hình cần được tham vấn với gia đình, cán bộ thực hành và chuyên gia; sau đó thí điểm, đánh giá và điều chỉnh trước khi nhân rộng.

Tài liệu tham khảo

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. 2014. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

[2] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. 2022. Thông tư số 26/2022/TT-BLĐTBXH quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành công tác xã hội.

[3] Bộ Y tế. 2025. Quyết định số 2532 /QĐ-BYT ngày 08/8/2025 Về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Tâm thần – Tập 2”.

[4] Chính phủ. 2021. Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

[5] Chính phủ. 2024. Nghị định số 110/2024/NĐ-CP ngày 30/8/2024 về công tác xã hội.

[6] Đan Huế. 2026. Đồng Tháp tăng cường trợ giúp giáo dục người khuyết tật. https://thanhtra.com.vn/giao-duc-A6BAEB6CD/dong-thap-tang-cuong-tro-giup-giao-duc-nguoi-khuyet-tat-43c411032.html

[7] Nguyen Thuan Quy, Moc Giao Nguyen, ShiJian Hong, and Phuoc Tai Nguyen. 2026. “Applying Ho Chi Minh’s Humanistic Educational Philosophy to Inclusive and Special Education: A Conceptual Framework.” International Journal of Special Education 41(3s): 761–768. https://internationalsped.com/index.php/ijse/article/view/2883.

[8] Nguyễn Mộc Giao, Nguyễn Thuận Quý, và Nguyễn Thụy Ngọc Đức. 2026. “Can thiệp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 2 đến 6 tuổi dựa trên các hoạt động sinh hoạt trong gia đình.” Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số Đặc biệt tháng 4/2026: 198-204. https://giaoducvaxahoi.vn/can-thiep-cho-tre-roi-loan-pho-tu-ky-tu-2-den-6-tuoi-dua-tren-cac-hoat-dong-sinh-hoat-trong-gia-dinh.htm.

[9] Salomone, E., Pacione, L., Shire, S., Brown, F. L., Reichow, B., & Servili, C. (2019). Development of the WHO Caregiver Skills Training Program for families of children with developmental disorders or delays. Frontiers in Psychiatry, 10: 769. DOI: 10.3389/fpsyt.2019.00769.

[10] Quốc hội. 2010. Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12 ngày 17/6/2010.

[11] Quốc hội. 2016. Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 ngày 05/4/2016.

Reichow, B., và cộng sự. (2025). Caregiver skills training for caregivers of individuals with neurodevelopmental disorders: A systematic review and meta-analysis (cập nhật). Developmental Medicine & Child Neurology. DOI: 10.1111/dmcn.16224.

[12] Thủ tướng Chính phủ. 2021. Quyết định số 112/QĐ-TTg ngày 22/01/2021 ban hành Chương trình phát triển công tác xã hội giai đoạn 2021-2030.

[13] Ủy ban Nhân dân tỉnh ĐỒng Tháp. 2025. Kế hoạch số 203/KH-UBND ngày 02/9/2025 Thực hiện Chương trình phát triển công tác xã hội đến năm 2030.

THE ROLE OF GRASSROOTS SOCIAL WORKERS IN AN ECOLOGICAL SYSTEMS-BASED SUPPORT MODEL FOR FAMILIES

OF CHILDREN WITH DEVELOPMENTAL DISORDERS: THE CASE OF DONG THAP PROVINCE

Abstract: his article analyzes the role of grassroots social workers in supporting families of children with developmental disorders in Dong Thap Province from an ecological systems perspective. The study employed document analysis, drawing on social work literature, provincial plans, and previous studies on support for families of children with developmental disorders. The findings indicate that existing policies have established a foundation for the development of social work services. However, following the implementation of the two-tier local government model in Dong Thap Province, grassroots social work services still lack a designated focal point for case management, standardized referral procedures, intersectoral coordination mechanisms, caregiver support, and evaluation indicators. The article proposes a model comprising the following components: identification and needs assessment; case management and service linkage; caregiver capacity building; intersectoral coordination, communication, and stigma reduction. The model should be piloted, evaluated, and refined before being scaled up.

Keywords: case management; developmental disorders; ecological systems; family support; grassroots social work.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Hình 1. Đại diện nhóm tác giả báo cáo chuyên đề: “Tham vấn tâm lý cho gia đình có trẻ rối loạn phổ tự kỷ, rối nhiễu tâm trí” (Tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp - năm 2024)

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Hình 2. Nhóm tác giả tập huấn Chuyên đề: “Kỹ năng tương tác với trẻ RLPT” cho phụ huynh thành phố Cao Lãnh (Tỉnh Đồng Tháp - năm 2024)