CHĂM LO GIÁO DỤC MẦM NON BIÊN GIỚI HẢI ĐẢO THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ GIÁO DỤC VỚI TRẺ EM CÁC VÙNG KHÓ KHĂN
1. Đặt vấn đề
Sau 17 năm (1996 – 2013) triển khai định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài” của Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo, Nghị quyết 29-NQ/TW Khóa XI, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra còn nhiều vấn đề tồn tại chưa được giải quyết. Trong nội dung đánh giá tình hình, Nghị quyết 29-NQ/TW có nêu: “Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”. Đánh giá này cho thấy, vấn đề quan trọng, thiết thực phục vụ cho sự nghiệp đổi mới giáo dục là chưa đáp ứng yêu cầu.

Một lớp học vùng cao
Trước tiên, vấn đề: “Chính sách, cơ chế tài chính chưa phù hợp” có thể hiểu là: Nguồn lực tài chính đảm bảo cho các hoạt động giáo dục nói chung, cho yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói riêng là chưa đủ, chưa đúng, chưa đều. Vấn đề: “Cơ sở vật chất, kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu” nghĩa là các hoạt động giáo dục ở các vùng khó khăn vẫn chỉ gồm có thầy và trò; việc dạy và học ở đây vẫn thực hiện với những gì đã có, xa lạ với những đổi mới dạy học đang bàn luận sôi nổi ở các thành phố lớn. Tình hình đó đang diễn ra chủ yếu ở vùng xa, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn như biên giới, hải đảo, chứng tỏ trẻ em ở đây đang thiệt thòi, thua kém so với trẻ em cùng lứa các vùng miền khác trên cả nước.
Không hiếm gặp trên truyền thông những thông tin, hình ảnh cảm động về thầy cô giáo phải san sẻ với học sinh bé nhỏ của mình những bữa ăn đạm bạc để mong trò đến lớp đều; các tổ chức từ thiện, các tấm lòng yêu trẻ là các ông bà hưu trí lặn lội quyên góp, vượt dốc cao, suối sâu mang đến cho trẻ vùng cao những tấm lòng để các em bớt giá lạnh trong những căn lớp tạm trống tuyềnh, trống toàng nghe cô giảng bài. Tình hình đó nói lên rằng, vấn đề công bằng, bình đẳng về giáo dục đối với các em chưa đảm bảo. Hiện đang có một bộ phận trẻ em không được hưởng những điều kiện về giáo dục như phần lớn trẻ em trong cả nước.

2. Quan điểm về bình đẳng trong giáo dục mầm non
Từ điển Bách khoa định nghĩa: Bình đẳng là sự được đối xử giống nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa… không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật (1). Đây là quyền cơ bản quan trọng nhất của con người. Trong Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngay câu đầu tiên, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được”. Điều đó chứng tỏ rằng, người Việt Nam dưới chế độ chúng ta đã có quyền được đối xử như nhau; quyền đó được Pháp luật Nhà nước Việt Nam bảo vệ.
Trong lĩnh vực giáo dục, quyền bình đẳng của con người là quyền được học tập, được đến trường; được tiếp cận các điều kiện giáo dục như nhau. Khi một người có đủ năng lực hành vi và điều kiện thể chất thì những nhu cầu giáo dục được pháp luật Việt Nam bảo hộ để được thỏa mãn mà không phân biệt nơi sinh, thành phần, dân tộc, tôn giáo, giới tính. Vi phạm những điều nêu trên sẽ là bất bình đẳng.
Đất nước Việt Nam có đặc điểm địa lý đa dạng, phức tạp tạo ra điều kiện sống của dân cư trên các vùng miền rất khác nhau. Vùng biên giới, hải đảo chủ yếu có địa hình rừng núi, điều kiện giao thông rất khó khăn. Người dân bám trụ nới biên giới, hải đảo vì cuộc sống của mình và gia đình, đồng thời góp phần xác lập chủ quyền lãnh thổ quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa 54 dân tộc anh em. Nhưng chính họ đang thụ hưởng những bất lợi về điều kiện sống, hạ tầng giao thông thấp kém, văn hóa, điều kiện giáo dục thô sơ thiếu thốn. Các nhu cầu về giáo dục của con em đồng bào biên giới hải đảo vì thế chịu bất bình đẳng khá nặng nề.
3. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục mầm non
Trẻ mầm non có độ tuổi từ 0 đến dưới 6 tuổi. Theo quy định của Luật Giáo dục Việt Nam, giáo dục dành cho trẻ mầm non là cấp học mầm non gồm có giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo. Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục có vai trò rất quan trọng, là nền tảng cho các bậc học phổ thông cũng như nguồn nhân lực tương lai cho xã hội. Nhưng lứa tuổi mầm non cả cơ thể và trí tuệ còn non nớt phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của người lớn, đặc biệt là giai đoạn nhà trẻ từ 0 đến 4 tuổi. Các em chưa ý thức đầy đủ về các nhu cầu của mình, nhất là các nhu cầu bậc cao như văn hóa, giáo dục. Sự chăm lo của gia đình, sự quan tâm của xã hội có vai trò quyết định để các em được hưởng thụ giá trị giáo dục một cách bình đẳng. Nghị quyết 29-NQ/TW đã xác định: “Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục”; “Tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung giáo dục mầm non, chú trọng kết hợp chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách”. Nghị quyết còn đưa ra lộ trình cụ thể về phổ cập giáo dục và miễn học phí cho giáo dục mầm non: “Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non”. Đây là quyết tâm rất lớn, thể hiện tư duy tầm chiến lược, ý nghĩa nhân văn sâu sắc đối với lứa tuổi mầm non nói riêng, đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nói chung của Đảng. Lứa tuổi mầm non, trẻ em phải gắn với cha mẹ và gia đình nên hoàn cảnh kinh tế gia đình các em, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương ảnh hưởng có tính chất chi phối đến thực hiện những định hướng nói trên của Nghị quyết.
Để biến những nội dung của Nghị quyết thành hiện thực cuộc sống, Chính phủ đã có những triển khai kịp thời. Quyết định số 1677/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định: “Phát triển mạng lưới trường lớp mầm non, bảo đảm đến năm 2025, huy động được ít nhất là 35% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ, 95% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo được đến trường.”. Về đội ngũ giáo viên mầm non, Chính phủ xác định “Phấn đấu đến năm 2025, đủ số lượng giáo viên mầm non theo quy định, 90% giáo viên mầm non đạt trình độ đào tạo từ cao đẳng sư phạm mầm non trở lên, 85% giáo viên đạt chuẩn nghề nghiệp mức độ khá trở lên. Về cơ sở vật chất, trường lớp, phấn đấu đến 2025, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 80%, có ít nhất 50% trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; có ít nhất 60% số trường mầm non được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục. Những chỉ tiêu này thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ, do đó cần sự nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị với tấm lòng yêu trẻ, vì tương lai đất nước.
4. Những hạn chế, bất cập trong giáo dục mầm non ở các vùng khó khăn
Trong điều kiện đất nước ta và cả thế giới vừa trải qua đại dịch, nhiều quyết tâm của Đảng, Nhà nước đã không đạt được. Nhiều chỉ tiêu giáo dục nói chung, giáo dục mầm non nói riêng, nhất là các vùng khó khăn còn ở mức độ thấp. Theo nghiên cứu năm học 2020-2021 của Ngô Thị Minh và Lê Thị Mai Hoa công bố trên trang thông tin điện tử của Hội đồng lý luận Trung ương: Tỷ lệ huy động trẻ đến trường của khu vực vùng khó khăn là 834.082/5.357.346 (đạt 59,1%, trong đó trẻ nhà trẻ: 19%, mẫu giáo: 86,6%; chiếm 15,6% tổng số trẻ em tới trường của cả nước); 97% trẻ em mầm non được tổ chức học 2 buổi/ngày và 82,2% trẻ em được tổ chức ăn bán trú. Tỷ lệ huy động trẻ em người dân tộc thiểu số là 528.710 (đạt 57,4%, trong đó trẻ nhà trẻ: 22,6%, mẫu giáo: 80,6%) và 96,1% trẻ em người dân tộc thiểu số được đến trường tăng cường tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, số điểm trường lẻ cách xa điểm trường chính còn quá nhiều (9.836 điểm trường), gây khó để thực hiện dồn, ghép. Tỷ lệ phòng học kiên cố, tỷ lệ phòng học tạm, nhờ, mượn (từ nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng của thôn, buôn, bản) còn cao (7,3%); nhiều cơ sở giáo dục mầm non thiếu diện tích, khó xây dựng kiên cố (cạnh vực sâu, núi cao, bị tác động của môi trường địa lý…); hằng năm đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học để phục vụ dạy học chậm được bổ sung; điều kiện xây dựng môi trường giáo dục, môi trường sư phạm chưa bảo đảm, tỷ lệ đạt chuẩn công trình nước sạch mới đạt 68,2%, còn thiếu 3.599 công trình nước sạch để cung cấp nước cho các điểm trường; tỷ lệ công trình vệ sinh đạt chuẩn bên ngoài khối phòng học mới đạt 81,5% cho trẻ em và đạt 82,5% cho giáo viên; còn thiếu 11.562 công trình vệ sinh cho trẻ em và thiếu 3.380 công trình cho giáo viên; tỷ lệ thiết bị dạy học đạt chuẩn trong lớp mầm non là 61,2%, thiếu 10.470 bộ thiết bị dạy học (vùng Trung du, miền núi phía Bắc thiếu nhiều nhất 5.114 bộ); thiếu 17.286 bộ học liệu tăng cường tiếng Việt (khu vực Tây Nguyên thiếu nhiều nhất 5.563 bộ). Công tác xã hội hóa, huy động, liên kết nguồn lực từ các địa phương, địa bàn thuận lợi khác đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học còn hạn chế (2).
Về chăm sóc trẻ mầm non ở các vùng khó khăn nghiên cứu trên đã chỉ ra: tỷ lệ trẻ em được tổ chức ăn bán trú mới đạt 82,1% (thấp hơn 9,9%), tỷ lệ điểm trường có bếp ăn đúng quy cách mới đạt 56,3% (3.729 điểm trường chưa có bếp để tổ chức nấu ăn cho trẻ em), tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 6,7% (cao hơn 4,7%), trẻ em thể thấp còi là 5,8% (cao hơn 3,1% so với bình quân chung của toàn quốc) (3).
Về vấn đề học phí Đối với giáo dục mầm non, đến nay những định hướng của Nghị quyết 29 là chưa thực hiện được một cách đồng bộ trên cả nước. Theo tác giả Kim Anh và Nguyễn Đức Hoàng (4) mới có 7 tỉnh, thành phố công bố miễn học phí cho học sinh, trong đó có bậc mầm non, chủ yếu là các tình thành phố lớn, kinh tế phát triển. Các tỉnh, thành phố còn lại đều có thu học phí, trong đó có phân biệt mức thu học phí học sinh các vùng khó khăn thấp hơn.
5. Nhận xét chung
Từ những vấn đề trình bày trên cho thấy: Những mục tiêu thể hiện nhận thức và trách nhiệm của Đảng qua nội dung Nghị quyết 29 chưa thành hiện thực. Nỗ lực của Chính phủ trung ương và địa phương chưa đồng bộ. Những triển khai của Chính phủ theo đề án đã được phê duyệt đã bám sát với nội dung Nghị quyết 29, có biện pháp và lộ trình triển khai cụ thể, hiệu lực thi hành cao. Tuy nhiên, những triển khai của địa phương là chưa hiệu quả, còn nhiều hạng mục và nội dung của đề án không đạt được mục tiêu đề ra.
Trẻ em các vùng khó khăn vẫn đang chịu những thiệt thòi so với trẻ em cả nước. Ở lứa tuổi mầm non, các em chưa có khả năng cảm nhận sự bất bình đẳng của chính mình mà đang hoan hỉ đón nhận những cử chỉ từ thiện của xã hội và sự chăm sóc của các thầy cô giáo đang vừa dạy các em học chữ, vừa dỗ các em chịu khó đến trường.
Những quan điểm đúng đắn của Đảng; những chỉ đạo quyết liệt và kịp thời của Chính phủ cần sự nỗ lực triển khai thực hiện của các địa phương để giáo dục mầm non các vùng biên giới, hải đảo, những vùng sâu vùng xa khó khăn đạt được các mục tiêu của Nghị quyết 29. Biên giới, hải đảo sẽ vững bền nếu trẻ mầm non lớn lên bình đẳng như trẻ em mọi miền Tổ quốc, được nuôi dưỡng đầy đủ, được giáo dục có chất lượng trở thành những công dân ưu tú gắn bó với quê hương, xây dựng cuộc sống tươi đẹp ngay trên chính quê hương mình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Từ điển Bách khoa Việt Nam. Tập 1. Trung tâm Từ điển Bách khoa Việt Nam. 1995. Trg. 232
[2]. Ngô Thị Minh, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lê Thị Mai Hoa, Ban Tuyên giáo Trung ương. Phát triển giáo dục mầm non vùng khó khăn. Trang thông tin điện tử. HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG. Ngày phát hành: 19/10/2022
[3]. Kim Anh và Nguyễn Đức Hoàng. Danh sách các tỉnh, thành phố miễn học phí năm học 2022 – 2023. Báo: LuatVietNam ngày 31/8/20220
[4]. Luật Giáo dục. Luật số: 43/2019/QH14. Hà Nội ngày 14 tháng 6 năm 2019
[5]. Nguyễn Thụy Vũ. Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non. Sách tham khảo. NXB Đại học quốc gia Hà Nội.2020.
PGS.TS. Trịnh Quang Từ
Học viện Kỹ thuật Quân sự