Đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng chống tác hại của thuốc lá điện tử

TCGCVN - Một số giải pháp, phương án bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phòng chống tác hại của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại Việt Nam hiện nay, có hiệu quả nhất là đối với đối tượng là giới trẻ hiện nay trong đó đặc biệt là với học sinh, sinh viên.
16:31 | 15/02/2025

TCGCVN - Một số giải pháp, phương án bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phòng chống tác hại của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại Việt Nam hiện nay, có hiệu quả nhất là đối với đối tượng là giới trẻ hiện nay trong đó đặc biệt là với học sinh, sinh viên.

Tóm tắt: Qua việc đánh giá hệ thống pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá, bao gồm cả thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, đã phát triển nhanh chóng và đạt một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như định nghĩa chưa bao quát các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới, thiếu chế tài xử lý vi phạm, quy định địa điểm hút thuốc chưa phù hợp, và công tác cai nghiện, tuyên truyền còn nhiều bất cập. Nguyên nhân xuất phát từ sự phát triển nhanh của thuốc lá thế hệ mới, nhận thức xã hội còn hạn chế, công tác giám sát chưa chặt chẽ, văn bản pháp lý chậm trễ và nguồn lực còn thiếu. Qua đó, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá nói chung và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nói riêng, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Abstract: The legal system for preventing and controlling the harmful effects of tobacco, including Electronic Nicotine Delivery Systems and heated tobacco products, has developed rapidly and achieved some positive results. However, several limitations remain, such as an inadequate definition that does not fully cover new-generation tobacco products, a lack of sanctions for violations, inappropriate regulations on smoking areas, and shortcomings in smoking cessation and public awareness campaigns. The reasons include the rapid development of new-generation tobacco products, limited public awareness, weak supervision, delays in legal documents, and insufficient resources. Therefore, it is necessary to improve the legal framework for tobacco harm prevention and control, particularly regarding Electronic Nicotine Delivery Systems and Heated tobacco products, to enhance management effectiveness and protect public health.

Đặt vấn đề: Qua khảo sát tỷ lệ sử dụng thuốc điện tử, thuốc lá nung nóng tại Việt Nam, đã chỉ ra những con số gia tăng báo động, đăc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, song thực tế mặc dù hiện nay đã có quy định cấm đối với những hành vi liên quan đến thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng điển hình như sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển, sử dụng. Nhưng trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có chế tài xử phạt hành chính đối với hai hành vi vi phạm liên quan đến hai sản phẩm thuốc lá này là “chứa chấp”, “sử dụng”. Bên cạnh đó, pháp luật trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng còn gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên thực tế, bởi không có khái niệm xác định đối với hai loại sản phẩm này. Do đó, bài viết này nhằm nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá nói chung và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nói riêng, để từ đó đưa ra những đề xuất hợp lý nhằm cải thiện, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong công tác này, cũng như việc triển khai, tổ chức pháp luật trên thực tế.

1. Pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng tại Việt Nam

1.1. Thành tựu trong pháp luật phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng thông qua việc hoàn thiện khung pháp lý và ban hành các chính sách kiểm soát chặt chẽ. Một trong những bước tiến quan trọng là Nghị quyết số 173/2024/QH15 của Quốc hội, trong đó quy định cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Đây là một dấu mốc quan trọng thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng trước các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới. Song cùng với đó, pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá nói chung vẫn có những tác dụng nhất định đối với thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng bao gồm việc những biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá và việc nâng cao, thúc đẩy trách nhiệm của các chủ thể trong công tác này.

Tại hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng chống tác hại của thuốc lá, TS. Angela Pratt (Trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới) đã bày tỏ“Chúc mừng Quỹ Phòng, chống tác hại thuốc lá của Bộ Y tế đã giảm thiểu sử dụng thuốc lá ở cả người lớn và thanh thiếu niên”4. Theo đó, biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá vẫn có hiệu quả trên thực tế, khi đã được chính minh qua những con số thống kê mà Bộ Y tế đưa ra. Theo đó, tỷ lệ sử dụng thuốc lá ở nam giới giảm từ khoảng 47% năm 2010 xuống còn 41% năm 2021, việc sử dụng thuốc lá trong thanh thiếu niên từ 13-17 tuổi đã giảm gần một nửa từ năm 2015 đến năm 2019, với tỷ lệ giảm từ gần 6% xuống dưới 3%.

Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng tích cực trong công tác, khi đã ban hành hai văn bản gồm Quyết định số 568/QĐ – TTg và Công điện số 47/CĐ – TTg, theo đó hai văn bản đều phân rõ nhiệm vụ, chức năng, trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương và các chủ thể khác liên quan đến công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá nói chung và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nói riêng. Những văn bản này không chỉ giúp điều phối hiệu quả hơn các biện pháp quản lý mà còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai các hoạt động kiểm soát thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng trên phạm vi toàn quốc.

Ngoài ra, Việt Nam cũng rất tích cực trong việc hợp tác, học hỏi kinh nghiệm quốc tế liên quan đến phòng, chống tác hại của thuốc lá nói chung và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nói riêng. Theo đó, Việt Nam luôn chủ động hoàn thiện hệ thống pháp luật sao cho phù hợp với thực trạng thực tế tại Việt Nam và pháp luật quốc tế. Đồng thời, Việt Nam cũng luôn quan tâm những khuyến cáo của Tổ chức Y tế tại những Hội nghị như COP65, COP76, COP87 hay việc hưởng ứng “Ngày Thế giới không thuốc lá”.

Nhìn chung, hệ thống pháp luật phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng thì có một số quan điểm như sau:

Thứ nhất, quá trình xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng được triển khai một cách nhanh chóng và kịp thời.

Thứ hai, nội dung chính sách, pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá về những biện pháp, phương thức triển khai trên thực tế khá phù hợp và đạt những hiệu quả nhất định.

Thứ ba, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này không ngừng được cải thiện và hoàn thiện thông qua việc hợp tác, lắng nghe các khuyến cáo tổ chức quốc tế và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác.

1.2. Tồn tại, hạn chế trong pháp luật phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng

Mặc dù, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận nhất định trong pháp luật phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Tuy nhiên, song thực tế thực trạng những vấn đề liên quan đến thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng vẫn có xu hướng, diễn biễn phức tạp, cùng với đó là những lỗ hổng trong hệ thống pháp luật trong công tác phòng, chống này.

Trong đó, mặc dù hiện nay đã có quy định về việc cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng theo Nghị quyết số 173/2024/QH15, tuy nhiên việc quy định này vẫn còn mang tính định hướng và chung chung. Bên cạnh đó, hiện nay quy định về khái niệm của thuốc lá theo Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 không còn đủ tính bao quát điều chỉnh đến thuốc lá thế hệ mới, điển hình là thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Ngoài ra, Chính phủ cũng chưa ban hành ra những quy phạm pháp luật chứa chế tài hành chính đối với hành vi vi phạm liên quan đến thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng.

Không dừng lại ở những hạn chế, tồn tại đã nêu ở trên, hệ thống pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá Việt Nam hiện nay cũng đã bắt đầu bộc lộ nhiều khuyết điểm trong các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá. Một, đối với nội dung hoạt động về thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá còn chưa được đổi mới kịp thời, bắt kịp các thực trạng về thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, thêm vào đó nội dung được tuyên truyền vẫn còn tập trung về tác hại của thuốc lá mà chưa chú trọng tuyên truyền về những phương thức cai nghiện thuốc lá. Ngoài ra, việc tuyền truyền còn chưa phù hợp với một số đối tượng, đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số. Hai, đối với quy định về địa điểm hút thuốc còn chưa phù hợp tạo ra nhiều khó khăn trên thực tế. Theo đó, mặc dù đã có những biển báo cấm hút thuốc nhưng vẫn có những người vi phạm bởi đa số những hành vi vi phạm này đều không bị xử phạt do nhiều nguyên nhân khác nhau. Ba, đối với quy định về hoạt động cai nghiện thuốc lá gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức, thực hiện trên thực tế. Hiện nay, vẫn chưa có chính sách kinh tế phù hợp để thúc đẩy các cơ sở y tế triển khai hoạt động tư vấn và điều trị cai nghiện thuốc lá. Bên cạnh đó, việc điều trị cai nghiện thuốc lá chủ yếu được thực hiện tại một số bệnh viện tuyến trung ương và bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, trong khi phần lớn các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, tuyến huyện và nhiều bệnh viện chuyên khoa lao phổi tuyến tỉnh vẫn chưa thể triển khai hiệu quả. Điều này dẫn đến sự hạn chế trong tiếp cận dịch vụ hỗ trợ cai nghiện thuốc lá, khiến nhiều người hút thuốc gặp khó khăn trong việc tìm kiếm sự trợ giúp y tế cần thiết.

Nhìn chung, pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá nói chung và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nói riêng bắt đầu bộc lộ nhiều lỗ hổng trong quy định, có một số nhận định như sau:

Thứ nhất, quy định về khái niệm của thuốc lá chưa đủ bao quát điều chỉnh thuốc lá thế hệ mới;

Thứ hai, chưa có quy định về chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm liên quan đến thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng;

Thứ ba, quy định về địa điểm hút thuốc còn chưa phù hợp tạo ra nhiều khó khăn trên thực tế;

Thứ tư, quy định về hoạt động cai nghiện thuốc lá gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức, thực hiện trên thực tế;

Thứ năm, quy định nội dung hoạt động về thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá còn chậm đổi mới, chưa phù hợp với một số đối tượng, đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số.

2. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế, tồn tại trong pháp luật về công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng tại Việt Nam hiện nay

Trong những năm gần đầy, Việt Nam đã và đang có những bước tiến trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá nói chung và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nói riêng. Tuy nhiên, không tránh khỏi sự tồn tại của những hạn chế, tồn tại trong chính sách, pháp luật được tác động bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nhìn chung phân ra thành hai nguyên nhân cơ bản như sau:

2.1. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, sự phát triển nhanh chóng và liên tục thay đổi của các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới khiến hệ thống pháp luật chưa theo kịp thực tiễn

Sự phát triển nhanh chóng và liên tục thay đổi của các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới, như thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, đã đặt ra những thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật Việt Nam. Các sản phẩm này không ngừng được cải tiến về công nghệ, thiết kế và thành phần nhằm thu hút người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ. Hơn nữa, các chiến lược tiếp thị và phân phối ngày càng tinh vi, tận dụng mạng xã hội và thương mại điện tử để tiếp cận khách hàng một cách rộng rãi. Trong khi đó, hệ thống pháp luật hiện hành chưa kịp cập nhật để điều chỉnh đầy đủ những biến đổi này, dẫn đến tình trạng thiếu các quy định cụ thể về định danh sản phẩm, kiểm soát quảng cáo, tiếp thị, cũng như chế tài xử lý vi phạm. Điều này không chỉ gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc giám sát và thực thi pháp luật mà còn làm gia tăng nguy cơ tiếp cận và sử dụng các sản phẩm này trong cộng đồng, đặc biệt là thanh thiếu niên.

Thứ hai, nhận thức về tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng trong xã hội còn nhiều hạn chế, ngay cả trong giới hoạch định chính sách pháp luật

Nhận thức về tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng trong xã hội hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, ngay cả trong giới hoạch định chính sách pháp luật. Nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, vẫn cho rằng đây là những sản phẩm an toàn hơn so với thuốc lá truyền thống do ít khói và mùi, nhưng thực tế, các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng chúng chứa nhiều chất độc hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người sử dụng. Hơn nữa, thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng còn tiềm ẩn nguy cơ gây nghiện và làm gia tăng tỷ lệ sử dụng thuốc lá ở thanh thiếu niên. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chính sách, không ít nhà hoạch định pháp luật vẫn chưa nhận thức đầy đủ về mức độ nguy hiểm của các sản phẩm này, dẫn đến hệ thống pháp lý còn thiếu chặt chẽ trong việc kiểm soát, quản lý và hạn chế sự phổ biến của chúng. Điều này không chỉ gây khó khăn trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn khiến các biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

2.2. Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, thiếu trách nhiệm trong việc tổ chức giám sát, quản lý các vấn đề liên quan đến thuốc lá nói riêng và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nói chung.

Vào ngày 13/01/2014, thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng được đề cập bởi Tổng cục Hải Quan trong Công văn số 333/TCHQ – GSQL khi xuất hiện trên thị trường Việt Nam, nhưng lại không có văn bản pháp luật nào điều chỉnh vấn đề xuất nhập khẩu loại mặt hàng này. Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cũng có nhiều văn bản trả lời với Tổng cục Hải Quan trong vấn đề này, trong đó Công văn số 534/XNK – TMQT Cục Xuất nhập khẩu đã trả lời với nội dung “những mặt hàng thuốc lá này chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chuẩn kỹ thuật để nhập khẩu vào Việt Nam, do đó chưa được nhập khẩu những loại mặt hàng này” và Công văn 0650/XNK – TMQT8 với nội dung “vào ngày 06/02/2020, Bộ Công Thương đã có công văn số 728/BCT – CN báo cáo Thủ tướng Chính phủ biện pháp quản lý các sản phẩm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Đến nay, Thủ tướng Chính phủ chưa có ý kiến chỉ đạo về vấn đề này nên Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương đề nghị Tổng Cục hải quan – Bộ Tài chính chờ ý kiến chỉ đạo”.

Tuy nhiên, song thực tế những mặt hàng thuốc lá này vẫn tồn tại, xuất hiện phổ biến ở Việt Nam với nhiều cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ về thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Điều này cho thấy việc thiếu trách nhiệm trong tổ chức giám sát và quản lý các vấn đề liên quan đến thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Sự thiếu trách nhiệm của cơ quan chức năng thể hiện ở việc kiểm soát lỏng lẻo đối với các hình thức kinh doanh bất hợp pháp, khi mà những mặt hàng thuốc lá này nóng vẫn được rao bán tràn lan trên mạng xã hội và các cửa hàng kinh doanh.

Thứ hai, chậm trễ trong việc xây dựng văn bản pháp luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Theo đó, việc Bộ Công Thương không nhất quán, cụ thể trong việc trả lời Tổng cục Hải Quan về quản lý xuất nhập khẩu thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Trong đó, cho thấy khoảng thời gian từ năm 2014 bắt đầu có dấu hiệu xuất hiện thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, thuốc lá nung nóng theo Công văn số 333/TCHQ – GSQL9 và Bộ Công Thương cho rằng mặt hàng này được nhập khẩu theo Thông tư số 37/2013/TT – BCT, nhưng sau đó vào năm 2019 Bộ lại trả lời với nội dung mặt hàng thuốc lá này chưa được nhập khẩu vào Việt Nam, và tiếp tục năm 2020 Bộ lại tiếp tục có công văn tới Tổng cục Hải Quan với nội dung chờ ý kiến chỉ đạo của Chính phủ với vấn đề này.

Tuy nhiên, cho mãi đến năm 2024, Ủy ban Xã hội và Ủy ban Văn hóa, Giáo dục mới bắt đầu tổ chức “Phiên giải trình Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng”. Trong phiên giải trình, Bộ Công thương lại tiếp tục không thống nhất quan điểm với Bộ Y tế trong vấn đề thuốc lá mới, Bộ Công thương đề xuất thí điểm trong khi Bộ Y tế lại đề xuất cấm tất cả vấn đề liên quan đến loại mặt hàng này. Cho thấy, khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2024 là mất 11 năm để Việt Nam thống nhất trong việc quản lý vấn đề hai loại sản phẩm thuốc lá này, trong khi đó tại hội nghị COP6, COP7, COP8 được tổ chức lần lượt vào năm 2014, năm 2016, năm 2018 đã có những khuyến cáo đối với những quốc gia tham gia Công ước Khung của Tổ chức Y tế Thế giới về Kiểm soát Thuốc lá với nội dung là “cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng phù hợp với thực trạng và pháp luật từng quốc gia”, bên cạnh đó Nghị định số 106/2017/NĐ – CP cũng có nội dung đề cập Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các chủ thể liên quan nghiên cứu xây dựng quy định phù hợp để quản lý các sản phẩm thuốc lá điện tử, trình Thủ tướng Chính phủ.

Do đó, sự không nhất quán, cụ thể trong trả lời văn bản của Bộ Công Thương đối với Tổng cục Hải Quan, đồng thời sự chậm trễ trong việc quản lý vấn đề liên quan đến thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng của Chính Phủ đã kéo dài mất 11 năm để thống nhất việc cấm mọi vấn đề liên quan đến hai mặt hàng này. Tuy nhiên, song với đó, mặc dù thông qua Nghị quyết số 173/2024/QH15 với nội dung cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng là vậy. Nhưng cho đến này, quy định này vẫn còn chung chung và chưa có những văn bản chỉ đạo hướng dẫn cụ thể, đồng thời cũng chưa có những quy phạm pháp luật chứa những chế tài xử phạt liên quan.

Quảng cáo

Thứ ba, nhân lực làm công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá còn thiếu số lượng, một số bộ phận còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác, cơ sở vật chất và kinh phí còn chưa đáp ứng yêu cầu.

Trong đó, những hạn chế này đều gây ảnh hưởng việc hiện các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, cụ thể như sau:

- Một, về hoạt động truyền thông:

Công tác truyền thông trực tiếp tại các cơ quan, đơn vị ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo gặp nhiều khó khăn do thiếu nhân lực, kinh phí, trong khi ngân sách dành cho phòng chống tác hại của thuốc lá còn hạn chế.

- Hai, thực hiện quy định địa điểm cấm hút thuốc:

Nhiều bệnh viện có diện tích rộng, lượng người ra vào đông, đa dạng, gây khó khăn trong kiểm soát. Ý thức tuân thủ của người bệnh chưa cao, họ thường hút thuốc lén lút tại khu vực chờ, cầu thang, căng tin, khuôn viên. Hành vi diễn ra nhanh, khó bắt tận tay dù đã có biển cấm, gây khó khăn trong xử lý vi phạm. Khi bị nhắc nhở, người hút thường dập thuốc, vứt tàn thuốc ra xa, thậm chí có phản ứng gay gắt. Cơ sở y tế thiếu nhân lực giám sát, không có thẩm quyền xử phạt, chỉ có thể nhắc nhở nên hiệu quả thấp, đặc biệt với những người có ý thức tuân thủ kém. Việc từ chối cung cấp dịch vụ cũng khó thực hiện, khiến công tác kiểm soát hút thuốc tại bệnh viện gặp nhiều trở ngại. Bên cạnh đó, quy định cấm hút thuốc trên phương tiện công cộng được thực hiện tốt, nhưng tại các bến tàu, nhà ga vẫn xảy ra vi phạm do thiếu lực lượng giám sát, không thể kiểm soát 24/24 và không có thẩm quyền xử phạt.

- Ba, hoạt động cai nghiện thuốc lá:

Hoạt động cai nghiện thuốc lá hiện nay chủ yếu được triển khai tại một số bệnh viện tuyến trung ương và chuyên khoa tuyến tỉnh, trong khi đa số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, và nhiều bệnh viện chuyên khoa lao phổi tuyến tỉnh chưa thực hiện. Điều này hạn chế khả năng tiếp cận của người dân, đặc biệt là những người mắc bệnh liên quan đến thuốc lá. Ngoài ra, hoạt động cai nghiện gặp khó khăn về cơ chế, thiếu kinh phí, và đội ngũ y bác sĩ không chỉ thiếu về số lượng mà còn quá tải với công việc chuyên môn khác, khiến thời gian dành cho tư vấn cai nghiện bị hạn chế. Nhiều bệnh nhân thiếu hợp tác và chưa nhận thức rõ lợi ích của việc cai nghiện, dẫn đến tỷ lệ thành công thấp. Nhân lực tham gia hỗ trợ chủ yếu là cán bộ y tế kiêm nhiệm, làm khó trong việc theo dõi và hỗ trợ bệnh nhân suốt quá trình cai nghiện.

3. Một số kiến nghị nhằm cải thiện, hoàn thiện về hệ thống pháp luật trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng tại Việt Nam

Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Để khắc phục những bất cập này, đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả thực thi và tăng cường công tác quản lý. Những đề xuất này không chỉ giúp đảm bảo sự chặt chẽ, toàn diện của hệ thống pháp luật mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thực hiện các cam kết quốc tế về kiểm soát thuốc lá, cụ thể như sau:

Thứ nhất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy phạm pháp luật trong Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012

Một, đề xuất sửa đổi quy định về khái niệm thuốc lá theo Khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012, thành như sau: “Thuốc lá là những sản phẩm được sản xuất có nguồn gốc từ lá thuốc lá, hoặc bất kỳ nguồn nào có chứa nicotine, và bao gồm các thành phần hoặc phụ kiện khác để tạo thành”. Nguyên nhân cho việc sửa đổi khái niệm này bao gồm hạn chế của khái niệm hiện tại và lợi ích của khái niệm đưa ra.

Trong đó, hạn chế của khái niệm hiện tại được thể hiện qua việc không còn đủ phạm vi bao quát để điều chỉnh hai sản phẩm thuốc lá thế hệ mới này. Bởi thuốc lá điện tử, một số sản phẩm thuốc lá nung nóng có nguyên liệu tạo ra Sol khí lại là dung dịch điện tử, mà dung dịch này không nhất thiết phải được điều chế từ nguyên liệu thuốc lá và có thể chứa chất nicotine. Bên cạnh đó, cụm từ “các dạng khác” của khái niệm thuốc lá hiện tại mang tính chung chung, điều này khiến cho khó khăn trong việc xác định các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới trên thực tế. Trong khi đó, đối với lợi ích của khái niệm đưa ra được thể hiện qua việc bao quát điều chỉnh được các sản phẩm thuốc lá có trên thị trường Việt Nam hiện nay, và có khả năng điều chỉnh một số sản phẩm thuốc lá mới chưa xuất hiện phổ biến ở Việt Nam như thuốc lá Snus, thuốc lá Orbs,.... Đồng thời, việc quy định như vậy sẽ bỏ đi được khái niệm nguyên liệu thuốc lá theo Khoản 3 Điều 2 Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012, rút bớt đi quy định làm rườm rà hệ thống pháp luật.

Hai, đề xuất bổ sung quy định về khái niệm thuốc lá thế hệ mới như sau: “Thuốc lá thế hệ mới là những hình thức sản phẩm thuốc lá xuất hiện sau ngày 18/06/2012”. Nhằm tránh việc không thống nhất trong quản lý xuất nhập khẩu thuốc lá thế hệ mới, gây ra tình trạng ra tăng sử dụng những loại sản phẩm này trong cộng đồng là mối nguy hại khó lườm trong tương lại, điển hình như việc sảy ra giữ Tổng cục Hải Quan (Bộ Tài chính) và Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đối với thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Theo đó, việc quy định như này, Việt Nam có thể quy định thêm việc khi xuất hiện sản phẩm có dấu hiệu của thuốc lá thế mới thì chưa nhập khẩu mặt hàng này vào thị trường Việt Nam cho đến khi được chấp nhận từ Cơ quan có thẩm quyền.

Thứ hai, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nghị định số 117/2020/NĐ – CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế

Một, đề xuất quy định bổ sung một số khái niệm “thuốc lá điện tử”, “thuốc lá nung nóng”, cụ thể từng khái niệm như sau:

- “Thuốc lá điện tử là các sản phẩm cấu tạo từ bất kỳ thiết bị điện tử tạo ra khí hơi thông qua việc làm nóng dung dịch điện tử chưa nicotine hoặc không chưa nicotine, hương vị, hoặc bất kỳ chất nào khác cho người sử dụng hít vào.”

- “Thuốc lá nung nóng là các sản phẩm với cấu tạo có bộ phận làm nóng cây thuốc lá và các chất khác bằng nhiệt độ nhất định khác nhau mà không gây cháy để tạo khí hơi cung cấp nicotine, hương vị, hoặc bất kỳ chất nào khác cho người sử dụng hít vào.”

Hiện nay, pháp luật trong công tác này chưa có khái niệm cụ thể điều chỉnh thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Do đó, việc quy định hai khái niệm của hai loại mặt hàng này, giúp cho việc xác định các vi phạm liên quan đến hai sản phẩm này trên thực tế dễ dàng hơn, từ đó có thể xử lý đúng người đúng vi phạm.

Hai, đề xuất quy định bổ sung chế tài xử phạt đối với hành vi “chứa chấp”, “sử dụng” thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng gây tác hại cho sức khỏe con người tại cụ thể như sau, “Quy định vi phạm quy định sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng: Quy định khung phạt tiền đồng đối với hành vi sử dụng lần đầu, và tăng gấp đôi đối với hành vi tái phạm, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trong việc ngăn chặn tình trạng sử dụng tràn lan. Ngoài ra, việc tịch thu và tiêu hủy sản phẩm vi phạm là biện pháp mạnh nhằm hạn chế nguồn cung và tác động tiêu cực của thuốc lá thế hệ mới. Đồng thời, quy định gửi thông báo xử phạt tới cơ quan, tổ chức nơi người vi phạm làm việc, học tập giúp nâng cao ý thức tuân thủ và tạo sự ràng buộc trách nhiệm với tập thể. Những biện pháp này không chỉ góp phần kiểm soát hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng mà còn hướng tới mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng và xây dựng môi trường không khói thuốc”.

Tính tới thời điểm đầu năm 2025, Việt Nam bắt đầu chính thức cấm đối những hành vi liên quan đến thuốc lá điện, thuốc lá nung nóng, điển hình như sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển, sử dụng. Tuy nhiên, hiện nay chưa có chế tài xử lý đối với những hành vi gồm “chứa chấp” và “sử dụng”, do đó việc ban hành chế tài đối với những hành vi đó sẽ giúp gia tăng tính đảm bảo tuân thủ pháp luật trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Thứ ba, kiến nghị ban hành văn bản tăng cường công tác tuyên truyền thông tin, giáo dục về hoạt động cai nghiện thuốc lá

Hiện nay, nội dung tuyên truyền đa số tập trung về những vấn đề điển hình như tuyên truyền về tác hại của thuốc lá, hút thuốc thụ động đối với sức khỏe, kinh tế và môi trường; lợi ích của môi trường không khói thuốc; gương điển hình thực hiện tốt quy định phòng, chống tác hại thuốc lá; thông tin về các địa điểm cấm hút thuốc theo Luật; xây dựng môi trường làm việc, học tập không khói thuốc; nâng cao nhận thức về quyền, nghĩa vụ của công dân, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong công tác; tuyên truyền các hành vi bị cấm như quảng cáo, khuyến mại, buôn bán, sử dụng thuốc lá giả, nhập lậu; hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia và Ngày Thế giới không hút thuốc lá (31/5); cập nhật kiến thức theo chủ đề hàng năm; cảnh báo tác động của các công ty thuốc lá đến chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá; lồng ghép phòng, chống tác hại của thuốc lá vào hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và đời sống.

Hiện nay, công tác tuyên truyền chủ yếu tập trung vào tác hại của thuốc lá mà chưa đề cập đầy đủ đến việc hướng dẫn cai nghiện thuốc lá. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều người dù có mong muốn từ bỏ thuốc lá nhưng không biết cách thực hiện, gặp khó khăn trong quá trình cai nghiện do thiếu thông tin và sự hỗ trợ cần thiết. Việc thiếu các chương trình truyền thông hướng dẫn cụ thể về phương pháp cai nghiện, cũng như các biện pháp hỗ trợ y tế và tâm lý, khiến cho tỷ lệ người thành công trong việc từ bỏ thuốc lá chưa cao.

Việc ban hành văn bản tăng cường tuyên truyền và giáo dục về cai nghiện thuốc lá là cần thiết, giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về các biện pháp và lợi ích cai nghiện. Đồng thời, việc này tạo điều kiện cho người nghiện tiếp cận thông tin chính xác về cách từ bỏ thuốc lá, góp phần giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, xây dựng môi trường không khói thuốc, cải thiện sức khỏe cộng đồng và giảm gánh nặng y tế do thuốc lá gây ra.

Thứ tư, kiến nghị ban hành những chính sách kinh tế phù hợp đối với hoạt động cai nghiện thuốc lá

Hiện nay, việc cai nghiện thuốc lá gặp nhiều khó khăn do thiếu các chính sách kinh tế hỗ trợ phù hợp. Chi phí điều trị cai nghiện thuốc lá, bao gồm tư vấn, sử dụng thuốc hỗ trợ và các liệu pháp thay thế nicotine, vẫn chưa được bảo hiểm y tế chi trả, khiến nhiều người nghiện thuốc lá không đủ điều kiện tiếp cận dịch vụ cai nghiện. Đồng thời, nguồn kinh phí cho các hoạt động tư vấn và điều trị cai nghiện thuốc lá chủ yếu dựa vào Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá, trong khi nhu cầu hỗ trợ ngày càng gia tăng. Việc thiếu hụt các chính sách kinh tế hỗ trợ cũng làm giảm hiệu quả của các chương trình cai nghiện, khiến nhiều người có nhu cầu bỏ thuốc không thể tiếp cận dịch vụ một cách thuận lợi. Thêm vào đó, đội ngũ cán bộ y tế thực hiện công tác tư vấn và điều trị cai nghiện cũng chưa được đầu tư đào tạo bài bản, thiếu nhân lực chuyên trách, dẫn đến chất lượng dịch vụ chưa cao và khó đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân.

Do đó, cần ban hành các chính sách kinh tế phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động cai nghiện thuốc lá. Trước hết, cần xem xét đưa chi phí cai nghiện thuốc lá vào danh mục được bảo hiểm y tế chi trả, giúp giảm gánh nặng tài chính cho người cai nghiện, khuyến khích họ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ một cách chủ động hơn. Cần thiết có cơ chế tài chính hỗ trợ cho các cơ sở y tế triển khai dịch vụ tư vấn và điều trị cai nghiện, đồng thời đầu tư mạnh vào đào tạo nhân lực chuyên trách để nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện. Ngoài ra, các chính sách ưu đãi nên khuyến khích doanh nghiệp và tổ chức xã hội tham gia hỗ trợ người nghiện, ví dụ như miễn thuế cho doanh nghiệp tài trợ các chương trình cai nghiện cộng đồng. Các biện pháp kinh tế như tăng thuế thuốc lá và trích một phần nguồn thu từ thuế để đầu tư vào các chương trình cai nghiện sẽ giúp giảm tỷ lệ hút thuốc và nâng cao sức khỏe cộng đồng. Áp dụng thuế cao không chỉ hạn chế việc tiếp cận thuốc lá, đặc biệt với giới trẻ, mà còn tạo nguồn kinh phí bền vững cho các chương trình phòng chống tác hại của thuốc lá. Cần xem xét hỗ trợ trực tiếp cho người tham gia cai nghiện bằng cách giảm giá hoặc trợ cấp cho các sản phẩm hỗ trợ như miếng dán nicotine, viên ngậm hoặc các liệu pháp thay thế.

Việc ban hành và thực thi các chính sách kinh tế phù hợp không chỉ giúp giảm tỷ lệ hút thuốc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn góp phần giảm gánh nặng kinh tế do các bệnh liên quan đến thuốc lá gây ra. Do đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, ngành y tế và các tổ chức xã hội trong việc xây dựng và triển khai các chính sách này một cách hiệu quả, lâu dài.

Kết luận:

Pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng tại Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức và giảm thiểu tác hại của các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật vẫn còn nhiều bất cập, như chưa có định nghĩa đầy đủ, thiếu chế tài xử lý vi phạm và các quy định chưa theo kịp thực tiễn. Để nâng cao hiệu quả quản lý, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát, đẩy mạnh tuyên truyền và hỗ trợ các biện pháp cai nghiện. Việc điều chỉnh chính sách kịp thời sẽ giúp kiểm soát tốt hơn tác hại của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và hướng tới một môi trường không khói thuốc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đại diện WHO khuyến nghị: Việt Nam cấm thuốc lá điện tử, các sản phẩm thuốc lá nung nóng, https://moh.gov.vn/en/tin-lien-quan/- /asset_publisher/vjYyM7O9aWnX/content/-ai-dien-who-khuyen-nghi-viet-nam- cam-thuoc-la-ien-tu-cac-san-pham-thuoc-la-nung-nong?inheritRedirect=false, truy cập ngày 06/02/2025

2. FCTC/COP6 Electronic nicotine delivery systems and electronic non-nicotine delivery systems, https://apps.who.int/gb/fctc/PDF/cop6/FCTC_COP6(9)-en.pdf, truy cập ngày 06/02/2025

3. Report of the seventh session of the Conference of the Parties to the WHO Framework Convention on Tobacco Control,https://fctc.who.int/docs/librariesprovider12/default-document library/final_cop7_report_en.pdf?sfvrsn=bb920d8_1&download=true, truy cập ngày 23/01/2025

4. FCTC/COP8 Novel and emerging tobacco products, https://iris.who.int/bitstream/handle/10665/370546/fctc-cop-8-22-en.pdf?sequence=1, truy cập ngày 31/01/2025

5. Công văn 0650/XNK – TMQT, https://thuvienphapluat.vn/cong-van/Xuat-nhap-khau/Cong-van-0650-XNK-TMQT-2020-nhap-khau-thiet-bi-dien-tu-lam-nong-thuoc-la-493466.aspx, truy cập ngày 06/02/2025

6. Công văn số 333/TCHQ – GSQL, https://thuvienphapluat.vn/cong-van/Thuong-mai/Cong-van-333-TCHQ-GSQL-nam-2014-nhap-khau-thuoc-la-dien-tu-thuoc-la-dieu-thay-the-219667.aspx, truy cập ngày 06/02/2025.

7. Báo cáo tình hình thực hiện chiến lược Quốc gia phòng chống tác hại của thuốc lá giai đoạn 2013 – 2020, https://storage-vnportal.vnpt.vn/nbh-ubnd/sitefolders/soyte- ninhbinh/nam-2022/thang-7

8._bao_cao_danh_gia_clqg_2020_c7ee3c64bb71a41399b577ba86c15ebf_sdk2 000.00.00.h42-3-.doc, truy cập ngày 05/02/2025