Đỗ Phạm Hùng
Học viện Quốc phòng
Tóm tắt: Công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT), nhân tố then chốt quyết định bản chất và hiệu quả xây dựng khu vực phòng thủ (KVPT) tỉnh. Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp để giải quyết các bất cập hiện tại, nâng cao chất lượng hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Từ khóa: Khu vực phòng thủ; Công tác đảng; Công tác chính trị; Thế trận lòng dân.
1. Đặt vấn đề
Xây dựng tỉnh thành KVPT vững chắc là chủ trương chiến lược sống còn của Đảng và Nhà nước, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ Tổ quốc. Công tác đảng, công tác chính trị giữ vai trò then chốt, là “linh hồn, mạch sống” quyết định bản chất và hiệu quả hoạt động của các lực lượng. Thời gian qua, công tác này đạt nhiều kết quả căn bản về văn kiện chỉ đạo, giáo dục quốc phòng và chính sách hậu phương. Tuy nhiên, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, an ninh phi truyền thống và sự chống phá tinh vi trên không gian mạng, hoạt động CTĐ, CTCT đã bộc lộ hạn chế nhất định. Do đó, đổi mới hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT là đòi hỏi cấp bách hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
Xây dựng tỉnh thành KVPT vững chắc là bộ phận hợp thành đặc biệt quan trọng của chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới công tác này đã đạt được những kết quả căn bản. Hệ thống văn kiện lãnh đạo được ban hành tương đối đầy đủ. Công tác giáo dục quốc phòng, an ninh được mở rộng sâu rộng. Chính sách hậu phương quân đội được quan tâm thực hiện tốt, góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.
Tuy nhiên, trước sự biến động phức tạp của tình hình địa chính trị và chiến lược “diễn biến hòa bình”, thực tiễn vận hành KVPT tại một số địa phương đã bộc lộ những hạn chế. Một số cán bộ, đảng viên còn xem nhẹ vị trí, vai trò của hoạt động CTĐ, CTCT. Nội dung, hình thức triển khai ở khối dân - chính - đảng có nơi còn mang tính hình thức, rập khuôn, chưa bám sát diễn biến trên không gian mạng. Sự hiệp đồng giữa cơ quan chính trị bộ chỉ huy quân sự tỉnh với các ban đảng địa phương đôi lúc còn mang tính thời vụ. Một số cán bộ chủ trì khối sở, ngành còn lúng túng khi diễn tập chuyển địa phương vào các trạng thái quốc phòng.
Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là do “tính dự báo” và “sức đề kháng” của hoạt động tư tưởng trước các thông tin xấu độc còn yếu. Tư tưởng coi nhiệm vụ xây dựng và hoạt động của KVPT thuần túy là việc riêng của ngành quân sự, công an vẫn tồn tại. Nhiều địa phương chỉ tập trung cao độ trong các đợt diễn tập định kỳ mà thiếu sự đầu tư, duy trì liên tục trong thời bình. Ngoài ra, phương thức thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, sử dụng công nghệ cao. Trong khi đó, các quy chế phối hợp giữa lực lượng vũ trang và khối dân - chính - đảng chưa kịp thời được cập nhật, bổ sung.
Để kịp thời tháo gỡ những hạn chế, bất cập trong thực tiễn và đáp ứng yêu cầu khách quan của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT tỉnh cần tập trung thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp sau:
Một là, đổi mới tư duy nhận thức của các tổ chức, lực lượng đối với hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT tỉnh.
Đây là giải pháp quyết định, mở đường cho sự thành công của toàn bộ quá trình đổi mới. Nhận thức đúng đắn chính là tiền đề cốt lõi dẫn dắt hành động thực tiễn. Đổi mới tư duy đòi hỏi phải thay đổi căn bản cách nghĩ, cách tiếp cận giáo điều, xơ cứng để phản ánh kịp thời sự vận động của thực tiễn. Trước hết, các tổ chức và lực lượng phải thống nhất quan điểm KVPT không đơn thuần là tổ chức hành chính, đơn vị quân sự độc lập hay mô hình kinh tế thông thường, mà KVPT là tổ chức quốc phòng - an ninh đặc thù theo địa bàn hành chính, hợp thành từ sự vững mạnh toàn diện của hệ thống cơ sở. Thời bình, KVPT cụ thể hóa đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng nền tảng vững chắc để chủ động phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, thiên tai, dịch bệnh... Thời chiến, KVPT lập tức trở thành chiến trường tác chiến độc lập, tự lực phát hiện và đánh trả địch kịp thời, tiêu hao sinh lực địch và phá vỡ chiến lược vũ khí công nghệ cao của đối phương.
Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các lực lượng phải nhìn nhận nhiệm vụ xây dựng và hoạt động KVPT một cách tổng thể, không chỉ gói gọn trong diễn tập KVPT mà bảo gồm nhiều nội dung, trọng tâm là xây dựng các tiềm lực về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ và đối ngoại. Trong đó, tiềm lực chính trị - tinh thần và tiềm lực kinh tế là then chốt. Các tổ chức phải luôn nắm chắc địa bàn, làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, sẵn sàng thực hiện các trạng thái quốc phòng và chuyển hóa sang thế trận chiến tranh nhân dân khi có tình huống.
Thống nhất tư duy về quan điểm xây dựng KVPT trong giai đoạn mới, lãnh đạo phải quán triệt sâu sắc quan điểm, phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc và lấy việc xây dựng “thế trận lòng dân vững chắc” làm nền tảng quyết định. Quá trình xây dựng phải toàn diện nhưng có trọng điểm, có lộ trình rõ ràng để tránh tình trạng chủ quan, trì trệ hoặc nóng vội gây lãng phí nguồn lực. Đặc biệt, phải khẳng định nguyên tắc: toàn bộ hoạt động phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của cấp ủy đảng, sự điều hành của chính quyền, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt phối hợp với các ban ngành địa phương.
Để chuyển hóa nhận thức thành hành động, các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, kết hợp chặt chẽ giữa học tập chính trị của lực lượng vũ trang với tuyên truyền rộng rãi cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, nâng cao kỹ năng tiến hành CTĐ, CTCT giúp các lực lượng tự giác đề cao cảnh giác, phòng, chống có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng. Duy trì nghiêm nếp chế độ sinh hoạt, phát huy vai trò của các tổ chức qua các đợt sinh hoạt chính trị để kịp thời uốn nắn tư tưởng lệch lạc, thờ ơ với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, diễn tập làm thước đo đánh giá cán bộ; sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, đấu tranh với tư tưởng ngại khó tạo động lực nâng cao trình độ.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của các đảng uỷ quân khu, tỉnh uỷ, thành uỷ và sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương các cấp.
Sự lãnh đạo của các đảng uỷ quân khu, tỉnh uỷ, thành uỷ và điều hành của chính quyền địa phương giữ vai trò quyết định đến tính định hướng, chất lượng và hiệu quả đổi mới CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT. Thực tiễn chứng minh hoạt động này chỉ phát huy sức mạnh tổng hợp khi có sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Do đó, nội dung lãnh đạo, chỉ đạo cần tập trung triển khai mạnh mẽ trên những nội dung sau:
Nâng cao vai trò định hướng chiến lược của các đảng ủy quân khu. Là chủ thể lãnh đạo cao nhất về quân sự, quốc phòng trên địa bàn các đảng uỷ quân khu cần kịp thời chỉ rõ biện pháp tiến hành CTĐ, CTCT gắn với từng đối tượng, nhiệm vụ cốt lõi của KVPT trong các nghị quyết thường kỳ và chuyên đề. Hoàn thiện quy chế, quy định rõ ràng về phạm vi, thẩm quyền, mối quan hệ công tác giữa các lực lượng để vận hành cơ chế nhịp nhàng. Duy trì trao đổi với các tỉnh ủy, thành ủy để triển khai đồng bộ các chủ trương, biện pháp xây dựng KVPT và xử lý kịp thời các tình huống phức tạp. Chủ động đề xuất cấp trên bổ sung văn bản pháp lý, khắc phục sự chồng lấn quản lý. Đồng thời, hoàn thiện chế độ phụ cấp, tiền lương, chính sách hậu phương và vinh danh lực lượng tham gia huấn luyện, diễn tập KVPT.
Phát huy vai trò của các tỉnh ủy, thành ủy trên địa bàn. Các tỉnh ủy, thành ủy cần tập trung quán triệt, cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng, trọng tâm là Nghị quyết số 44-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các nghị quyết của Quân ủy Trung ương và đảng ủy quân khu thành chương trình hành động sát thực tế. Trong đó, chú trọng lãnh đạo xây dựng “thế trận lòng dân”, yên dân và bảo vệ an ninh con người thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội kết hợp quốc phòng cụ thể cho từng địa bàn, nhất là khu vực trọng yếu, biên giới, hải đảo. Phát huy vai trò tham mưu về quân sự, tạo cơ chế để cơ quan quân sự tỉnh thực hiện tốt chức năng tham mưu chủ trương, hướng dẫn, kiểm tra việc chấp hành nghị quyết của các ban ngành; tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh và kỹ năng tiến hành CTĐ, CTCT cho đội ngũ bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ các cấp.
Tăng cường hiệu lực chỉ đạo, quản lý và bảo đảm của chính quyền địa phương. Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thể chế hóa chủ trương của Đảng thành hành động thực tiễn. Nhanh chóng cụ thể hóa nghị quyết cấp ủy thành chương trình hành động để thống nhất quản lý, huy động nhân lực, vật lực cho KVPT. Chỉ đạo sát sao các cơ quan chuyên môn thực hiện tốt công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách. Phân bổ, quyết toán ngân sách địa phương hợp lý và huy động nguồn lực hợp pháp để bảo đảm vật tư, phương tiện cho hoạt động CTĐ, CTCT. Tăng cường thanh tra, kiểm tra để bảo đảm kinh phí sử dụng minh bạch, tránh thất thoát.
Ba là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức và hình thức hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT tỉnh.
Yêu cầu xây dựng và hoạt động của KVPT luôn vận động, biến đổi không ngừng. Nếu không kịp thời đổi mới CTĐ, CTCT sẽ mất đi tính thời sự, giảm sút hiệu lực, hiệu quả. Do đó, đổi mới đồng bộ cả nội dung, hình thức và biện pháp tiến hành.
Đổi mới toàn diện nội dung CTĐ, CTCT phải tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần và củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”. Đổi mới giáo dục chính trị, tư tưởng, lựa chọn nội dung thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, định hướng tư tưởng vững vàng và củng cố niềm tin cho các lực lượng, nhất là trong bối cảnh bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ giả mạo sâu (Deepfake), hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT phải chuyển dịch mạnh mẽ từ trạng thái “phòng ngự, bị động” sang “chủ động tiến công, dự báo từ sớm” trên không gian mạng. Các cơ quan chức năng cần ứng dụng các hệ thống phần mềm AI quét và phân tích xu hướng thông tin tự động để kịp thời phát hiện, bóc gỡ các luận điệu xuyên tạc, thông tin xấu độc nhắm vào địa bàn trước khi chúng tạo thành làn sóng dư luận. Đồng thời, đổi mới căn bản phương thức tuyên truyền bằng cách chuyển hóa các nội dung giáo dục chính trị khô khan thành các sản phẩm truyền thông số đa phương tiện ngắn gọn, trực quan (như infographics, video ngắn, podcast). Các sản phẩm này phải được phủ xanh, lan tỏa rộng rãi trên các nền tảng mạng xã hội lớn thông qua lực lượng tác chiến không gian mạng tại địa phương. Bên cạnh đó, cần tổ chức các đợt diễn tập thực chiến về phòng chống khủng bố thông tin, xử lý khủng hoảng truyền thông mạng khi chuyển địa phương vào các trạng thái quốc phòng. Qua đó, nâng cao sức đề kháng và năng lực nhận diện tin giả cho toàn bộ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, bảo đảm giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian số. Từ đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính chủ động của toàn dân đối với nhiệm vụ quốc phòng địa phương. Đồng thời, củng cố bộ máy chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về quốc phòng. Thực hiện tốt chính sách hậu phương, kịp thời ưu đãi, động viên, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong xây dựng KVPT. Chăm lo chu đáo cho lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, gia đình chính sách và giải quyết việc làm cho bộ đội xuất ngũ. Tiến hành công tác dân vận theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thắt chặt đoàn kết quân - dân. Đổi mới nội dung bảo vệ bí mật các phương án, kế hoạch tác chiến thuộc danh mục tài liệu mật. Chủ động nắm chắc diễn biến tư tưởng, mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ để phòng ngừa kẻ địch móc nối, mua chuộc, bảo đảm đơn vị an toàn gắn với địa bàn an toàn.
Đổi mới linh hoạt, sáng tạo các hình thức và biện pháp hoạt động CTĐ, CTCT gắn với chuyển đổi số trong giáo dục chính trị và đấu tranh trên không gian mạng. Hình thức tiến hành phải đa dạng, sinh động, khắc phục triệt để tình trạng áp dụng máy móc, rập khuôn. Căn cứ vào đặc điểm, trình độ của từng nhóm đối tượng ở mỗi địa phương để lựa chọn hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp, thiết thực. Chủ động, sáng tạo trong phương pháp phổ biến kiến thức quốc phòng, an ninh cho học sinh, sinh viên và nhân dân. Thực hiện theo phương châm dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để nâng cao tính tự giác của thế hệ trẻ. Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức phong tào thi đua yêu nước tại địa phương phù hợp với quy mô, tính chất, tránh phô trương, hành chính hóa nhằm tạo động lực tinh thần thực chất, thu hút đông đảo quần chúng và lực lượng vũ trang tham gia. Bám sát đặc thù nghiệp vụ của công tác dân vận, tuyên truyền đặc biệt, bảo vệ an ninh. Các cơ quan chuyên trách cần tăng cường hướng dẫn, kiểm tra sâu sát; vận dụng linh hoạt biện pháp chuyên môn để xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh.
Bốn là, phát huy vai trò của đảng uỷ, cơ quan quân sự tỉnh.
Đảng uỷ, cơ quan quân sự tỉnh giữ vai trò nòng cốt, trung tâm trong tham mưu và tổ chức thực hiện hoạt động CTĐ, CTCT. Đảng ủy quân sự và đội ngũ cán bộ chủ trì cơ quan quân sự tỉnh chủ động bám sát nghị quyết, chỉ thị của cấp trên để nghiên cứu, đề xuất với tỉnh ủy, thành ủy những chủ trương, biện pháp lãnh đạo hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT sát thực tế. Thực hiện đúng nguyên tắc cán bộ, coi trọng tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ chủ trì theo đúng tiêu chuẩn, quy trình. Thường xuyên bồi dưỡng toàn diện phẩm chất, năng lực cho đội ngũ cấp uỷ viên, chú trọng bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về quốc phòng cho thành phần chỉ định (bí thư, chủ tịch) và kiến thức kinh tế - xã hội cho thành phần bầu cử. Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì thực sự tiêu biểu về tư tưởng, đạo đức và kỷ luật. Người chỉ huy cần đưa kế hoạch CTĐ, CTCT vào kế hoạch hành động chung để điều hành đồng bộ. Chính ủy phải bám sát cơ sở, chăm lo đời sống cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền và phối hợp chặt chẽ với chính quyền làm tốt công tác sơ kết, tổng kết hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT.
Cơ quan chính trị thuộc bộ chỉ huy quân sự tỉnh là chủ thể trực tiếp quán triệt các nghị quyết, chỉ thị để xác định đúng mục tiêu, nội dung, biện pháp tổ chức thực hiện. Đội ngũ chủ nhiệm chính trị phải thể hiện rõ vai trò chủ trì, duy trì nghiêm nếp chế độ hoạt động CTĐ, CTCT. Kịp thời đôn đốc, uốn nắn những hạn chế của cán bộ thuộc quyền. Giáo dục đội ngũ cán bộ chính trị tinh thần tự học tập, tự rèn luyện khoa học theo chức trách để thích ứng nhanh với yêu cầu xây dựng KVPT.
Cơ quan tham mưu và cơ quan hậu cần - kỹ thuật nâng cao trách nhiệm hiệp đồng, khắc phục triệt để tư tưởng xem CTĐ, CTCT là nhiệm vụ riêng của cán bộ chính trị; phải chấp hành nghiêm sự chỉ đạo của đảng ủy, chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành địa phương triển khai toàn diện các mặt công tác. Bảo đảm tốt hậu cần, kỹ thuật, nuôi quân khỏe, chăm sóc tốt sức khỏe cho lực lượng tham gia xây dựng và diễn tập KVPT. Bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, an toàn, tiết kiệm. Phối hợp hướng dẫn, thực hiện tốt công tác huy động phương tiện kỹ thuật trong nhân dân khi có tình huống xảy ra.
Các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân, phát huy vai trò trong giáo dục, xây dựng động cơ, trách nhiệm cho đoàn viên, thanh niên (nhất là dân quân tự vệ, dự bị động viên) sẵn sàng nhận nhiệm vụ trong xây dựng công trình, diễn tập; đấu tranh chống tư tưởng ngại khó, ỷ lại.
Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng thuộc hệ thống chính trị địa phương.
Đổi mới hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT chỉ thực sự hiệu quả khi khai thác, phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Cấp ủy, chính quyền địa phương cần giữ vững vai trò lãnh đạo, điều hành, định hướng phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quân sự, công an với các ban, ngành, đoàn thể. Mỗi cơ quan phải căn cứ vào chỉ thị của trên và thực tiễn để tham mưu phương án sử dụng lực lượng, huy động tiềm năng trong nhân dân theo từng lĩnh vực:
Cơ quan Công an là lực lượng tham mưu nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với cơ quan quân sự giúp cấp ủy, chính quyền chỉ đạo quản lý toàn diện về bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và xử trí tình huống tác chiến đặc biệt. Giáo dục cán bộ, chiến sĩ chấp hành nghiêm kế hoạch xây dựng KVPT; thực hiện nghiêm quy định bảo mật lực lượng, vũ khí. Khi có tình huống phức tạp (biểu tình, bạo loạn, khủng bố, cháy nổ), ngành công an phải chủ trì tham mưu, chỉ huy phối hợp xử lý khẩn trương, khôn khéo, đúng nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Ngành Y tế cần giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm cho đội ngũ y bác sĩ, viên chức về nhiệm vụ quốc phòng địa phương. Nâng cao chất lượng tham mưu về bảo đảm y tế trong xây dựng, diễn tập KVPT. Chủ trì xây dựng phương án phối hợp với lực lượng vũ trang để sẵn sàng chuyển hoạt động vào các trạng thái quốc phòng; động viên kịp thời lực lượng, phương tiện cho bệnh viện dã chiến; tổ chức tiếp nhận, cứu chữa thương binh khi có tác chiến hoặc thiên tai, dịch bệnh.
Ngành Tài chính cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan quân sự, công an và các cơ quan chức năng tham mưu bảo đảm ngân sách cho hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT. Chủ động lập kế hoạch tổng thể bảo đảm ngân sách quốc phòng địa phương đúng Luật Ngân sách. Giáo dục nâng cao trách nhiệm quản lý, cấp phát kinh phí đúng mục đích, kịp thời; tăng cường kiểm tra tránh thất thoát, lãng phí.
Ngành Văn hóa và Thể thao phối hợp chặt chẽ với cơ quan quân sự và các tổ chức chính trị, xã hội xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú cho lực lượng vũ trang và nhân dân. Đổi mới hình thức tuyên truyền cổ động, hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao gắn với nhiệm vụ quốc phòng, góp phần nâng cao tinh thần cách mạng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc trên địa bàn.
3. Kết luận
Đổi mới hoạt động CTĐ, CTCT trong xây dựng KVPT tỉnh là quá trình liên tục, đòi hỏi sự kế thừa và phát triển về chất trong phương thức tiếp cận. Để nâng cao chất lượng hoạt động này trong tình hình mới, cần thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp từ đổi mới tư duy nhận thức đến tăng cường cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo. Việc đổi mới toàn diện hoạt động CTĐ, CTCT không chỉ giải quyết triệt để các bất cập về tính dự báo và sức đề kháng tư tưởng trên không gian mạng, mà còn là hành động cụ thể hóa hiệu quả những mục tiêu chiến lược trong Nghị quyết số 44-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Đây chính là nền tảng vững chắc để giữ vững ổn định chính trị từ cơ sở, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương (2013), Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2. Ban Chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
3. Bộ Chính trị (2019), Kết luận số 64-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW.
4. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22/02/2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ.
5. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13.
6. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (2021), Cẩm nang Công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội.
INNOVATING PARTY WORK AND POLITICAL WORK IN BUILDING THE PROVINCIAL DEFENSE ZONE TODAY
Do Pham Hung
National Defense Academy
Sum mary: Party work and political work are key factors determining the nature and effectiveness of building provincial defense zones. Based on an analysis of the current situation, the author proposes a system of solutions to address current shortcomings and improve the quality of Party work and political work in building defense zones to meet the requirements and tasks in the new situation.
Key words: Defense zone; Party work; Political work; People's support and defense.