Ths. Phạm Văn Hiếu – Ths. Bùi Kiếm Anh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: [email protected]
Tóm tắt: Bài viết làm rõ nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc nhân dân với tư cách là mục tiêu tối thượng của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các luận điểm cốt lõi của Người, bài viết khẳng định hạnh phúc nhân dân là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc, tự do, ấm no và phát triển toàn diện con người; đồng thời là tiêu chí phản ánh bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Từ đó, bài viết làm rõ sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt qua các văn kiện Đại hội XIII và XIV, với việc đặt con người và hạnh phúc của nhân dân vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước. Qua phân tích thực tiễn, bài viết khẳng định việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm quyền làm chủ và nâng cao chất lượng sống của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; hạnh phúc nhân dân; mục tiêu cách mạng; phát triển con người; Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ nguyên mới.
Nhận bài: 30/5/2026; Biên tập 31/5/2026; Phản biện: 03/6/2026; Duyệt đăng: 06/6/2026.
1. Đặt vấn đề
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc nhân dân là sự kết tinh sâu sắc của chủ nghĩa nhân văn cách mạng, phản ánh mục tiêu cao nhất và bản chất tốt đẹp của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong tư duy của Người, cách mạng không chỉ nhằm giành độc lập dân tộc mà còn hướng tới giải phóng con người, bảo đảm cho nhân dân được sống trong tự do, ấm no và phát triển toàn diện. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu phát triển nhanh và bền vững gắn với nâng cao chất lượng sống và chỉ số hạnh phúc của người dân ngày càng được đặt ra cấp thiết, việc nhận thức đầy đủ và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc nhân dân vẫn cần tiếp tục được làm rõ cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ yêu cầu đó, bài viết tập trung làm rõ nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc nhân dân; đồng thời phân tích sự kế thừa và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xác định hạnh phúc nhân dân là mục tiêu tối thượng của sự nghiệp cách mạng trong kỷ nguyên mới.
2. Nội dung nghiên cứu
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc của nhân dân không phải là một vấn đề riêng lẻ, mà là điểm quy tụ cao nhất của mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ, chủ nghĩa xã hội và giải phóng con người. Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn con đường cách mạng vô sản không chỉ vì con đường đó giải đáp đúng vấn đề độc lập dân tộc, mà sâu xa hơn, vì đó là con đường bảo đảm cho nhân dân lao động được giải phóng, được làm chủ và được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, trong tư tưởng của Người, mọi thắng lợi của cách mạng nếu không hướng tới đời sống thực tế của nhân dân, không làm cho nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc thì thắng lợi ấy chưa trọn vẹn, chưa đạt đến bản chất nhân văn của cách mạng.
Một là, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng
Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng. Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước, điều thôi thúc Người không chỉ là nỗi đau mất nước, mà còn là nỗi đau trước cảnh nhân dân bị áp bức, bóc lột, nghèo đói, thất học, không có quyền sống xứng đáng với phẩm giá con người. Bởi vậy, mục tiêu cách mạng mà Hồ Chí Minh theo đuổi không dừng lại ở việc giành lại chủ quyền quốc gia, mà còn là xây dựng một xã hội trong đó nhân dân thực sự được sống trong tự do và hạnh phúc. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[1]. Điều này đã thể hiện một cách đầy đủ nhất lý tưởng chính trị, mục tiêu nhân văn và phương châm hành động của Hồ Chí Minh trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người đó là độc lập cho Tổ quốc phải gắn liền với tự do, ấm no, hạnh phúc và phát triển của nhân dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người không tách rời độc lập dân tộc với hạnh phúc của nhân dân. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết, nhưng không phải mục tiêu cuối cùng theo nghĩa hình thức. Độc lập chỉ thực sự có giá trị khi nó mở đường cho nhân dân thoát khỏi áp bức, bóc lột, thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu, bất công và phải được làm chủ cuộc sống của mình. Vì vậy, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Như vậy, chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh nhìn nhận độc lập dân tộc không phải như một mục tiêu tự thân, mà là tiền đề để thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân. Nói cách khác, giá trị đích thực của độc lập dân tộc phải được đo bằng đời sống thực tế của nhân dân.
Từ đó, Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu rất rõ đối với Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ trong xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa thì mọi đường lối, chính sách, mọi hoạt động của chính quyền cách mạng đều phải hướng vào chăm lo đời sống nhân dân. Người không chấp nhận một nền độc lập mà nhân dân vẫn đói rét, thất học, không được bảo đảm quyền làm chủ. Người từng nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”[2]. Như vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Hồ Chí Minh luôn luôn phấn đấu thực hiện mục tiêu xuyên suốt đó là: “độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân”.
Hai là, hạnh phúc của nhân dân phải được bảo đảm toàn diện cả về vật chất và tinh thần
Theo Hồ Chí Minh, hạnh phúc của nhân dân phải được bảo đảm toàn diện cả về vật chất và tinh thần. Hạnh phúc không chỉ là thoát khỏi ách áp bức chính trị, mà còn là thoát khỏi đói nghèo, dốt nát, bệnh tật, bất công và những rào cản làm hạn chế sự phát triển của con người. Ngay sau khi giành chính quyền, Hồ Chí Minh coi chống đói, chống dốt, chống giặc ngoại xâm là ba nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước cách mạng. Việc Người đặt “giặc đói” và “giặc dốt” bên cạnh “giặc ngoại xâm” điều này cho thấy cách nhìn rất sâu sắc của Người đối với hạnh phúc của nhân dân đó là: nhân dân chỉ có thể thực sự hạnh phúc khi được bảo đảm những điều kiện sống căn bản, được học tập, được nâng cao dân trí, được phát triển năng lực làm chủ xã hội. Đối với Người, một dân tộc độc lập nhưng dân còn đói, còn dốt, còn bị bỏ rơi trong lạc hậu thì nền độc lập ấy chưa đạt đến mục tiêu trọn vẹn của sự nghiệp cách mạng.
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng giáo dục như một điều kiện cơ bản để nhân dân có hạnh phúc bền vững. Người chỉ rõ rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[3]. Vì vậy, xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, mở mang giáo dục không chỉ là nhiệm vụ văn hóa, mà còn là nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ giải phóng con người. Nhân dân có học thì mới hiểu quyền lợi, nghĩa vụ của mình, mới có năng lực tham gia quản lý xã hội, mới thực sự làm chủ đất nước. Hạnh phúc, do đó, không thể chỉ hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu vật chất trước mắt, mà còn là khả năng con người được khai sáng, được phát triển trí tuệ, nhân cách, năng lực sáng tạo và phẩm giá.
Không dừng lại ở phương diện kinh tế và giáo dục, Hồ Chí Minh còn nhìn nhận hạnh phúc nhân dân trong mối quan hệ với dân chủ, đạo đức, văn hóa và đời sống tinh thần. Người khẳng định nước ta là nước dân chủ, “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”[4]. Như vậy, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng chính là hạnh phúc của nhân dân không thể tách rời quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân chỉ thực sự hạnh phúc khi họ không chỉ là người thụ hưởng chính sách, mà còn là chủ thể tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát và quyết định những vấn đề liên quan đến vận mệnh của dân tộc, đến đời sống của mình. Dân chủ, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa là mục tiêu, vừa là phương thức để bảo đảm hạnh phúc của nhân dân.
Ba là, nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng phục vụ của cách mạng
Hồ Chí Minh luôn khẳng định nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng phục vụ của cách mạng. Người đánh giá rất cao vị trí, vai trò của nhân dân trong lịch sử và trong sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[5]. Theo Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể làm nên sự thắng lợi và thành công của cách mạng, là lực lượng to lớn của sự nghiệp cách mạng. Mọi thắng lợi của Đảng đều bắt nguồn từ sự tin tưởng, ủng hộ, hy sinh và sáng tạo của nhân dân. Vì vậy, chăm lo hạnh phúc của nhân dân không phải là sự ban phát từ trên xuống, mà là sự trả lời đúng đắn của cách mạng đối với vai trò lịch sử và quyền làm chủ của nhân dân. Từ nhận thức nhân dân là chủ thể của cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng và Nhà nước phải thực sự vì dân, gần dân, trọng dân, học dân và có trách nhiệm trước nhân dân. Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải hiểu rằng mình là người phục vụ nhân dân, là “công bộc” của dân chứ không phải “quan cách mạng”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều lủng củng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng mỹ mãn”. Theo Người, nếu cán bộ không gần dân, không hiểu dân, không lo cho dân thì đường lối đúng cũng khó đi vào cuộc sống; chính sách tốt cũng khó trở thành hạnh phúc hiện thực của nhân dân. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ rằng muốn nhân dân hạnh phúc thì phải xây dựng một đội ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người phê phán tham ô, lãng phí, quan liêu vì những tệ nạn đó trực tiếp xâm hại lợi ích của nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Với Hồ Chí Minh, hạnh phúc của nhân dân không chỉ phụ thuộc vào chủ trương, đường lối đúng, mà còn phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực, phong cách của đội ngũ cán bộ thực thi đường lối đó. Cán bộ tốt thì chính sách đến được với dân; cán bộ hư hỏng thì chính sách có đúng cũng bị méo mó, làm tổn hại quyền lợi và hạnh phúc của dân.
2. Hạnh phúc nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh mục tiêu tối thượng của Đảng ta trong kỷ nguyên mới
Kế thừa và phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh về hạnh phúc nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng luôn nhất quán quan điểm: mọi đường lối, chủ trương, chính sách đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đây là mục tiêu xuyên suốt và phản ánh sâu sắc bản chất cách mạng và nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nếu như trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập dân tộc, mục tiêu lớn nhất của Đảng là giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức, bóc lột, thì trong thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước hiện nay, mục tiêu đó tiếp tục được nâng lên ở tầm cao mới: phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; nâng cao chất lượng sống và tạo điều kiện để mỗi người dân được phát triển toàn diện. Điều đó thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, khi Đảng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn rằng bản chất của chủ nghĩa xã hội không chỉ ở tăng trưởng kinh tế hay sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà cốt lõi là vì con người, chăm lo cho con người và phát triển con người. Đại hội XIII của Đảng đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận khi nhấn mạnh yêu cầu: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”[6]. Lần đầu tiên, khái niệm “hạnh phúc” được đặt ngang tầm với mục tiêu phát triển quốc gia, phản ánh sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy phát triển thiên về kinh tế sang tư duy phát triển toàn diện, lấy con người làm trung tâm. Đây là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam khi Người luôn khẳng định mọi thắng lợi của cách mạng cuối cùng phải hướng tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho nhân dân.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục được nhận thức đúng đắn, sâu sắc và phát triển sâu sắc hơn. Đại hội XIV không chỉ nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, mà còn đặt con người và hạnh phúc của nhân dân vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định phải “bảo đảm an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân”[7]. Đây là bước phát triển mới về nhận thức lý luận của Đảng khi hạnh phúc của nhân dân không còn chỉ được xem là kết quả của phát triển, mà trở thành mục tiêu trực tiếp, tiêu chí đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình phát triển đất nước. Điểm nổi bật trong quan điểm của Đại hội XIV là nhấn mạnh yêu cầu lấy sự hài lòng và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo đối với hiệu quả lãnh đạo, quản lý và quản trị quốc gia, Đảng ta chỉ rõ: “lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”[8]. Theo đó, sự phát triển không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP hay quy mô nền kinh tế, mà còn phải được đánh giá thông qua mức độ thụ hưởng thực tế của nhân dân, chất lượng cuộc sống, môi trường sống, điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, cơ hội phát triển và cảm nhận hạnh phúc của con người.Trên lĩnh vực kinh tế, Đảng ta chủ trương phát triển nhanh và bền vững gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Đây là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng khẳng định không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Quan điểm đó thể hiện rõ bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, khi mục tiêu cuối cùng của phát triển không phải chỉ là tích lũy của cải vật chất, mà là nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm hạnh phúc của nhân dân.
Thực tiễn những năm đổi mới cho thấy, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hệ thống kết cấu hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa được đầu tư ngày càng đồng bộ. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo và phát triển con người. Đảng ta đã xác định mục tiêu của sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới giai đoạn 2025 – 2030, phấn đấu: “bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD”[9] và “Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khoẻ mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống còn dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%. Tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 - 2030) duy trì mức giảm 1 - 1,5 điểm %/năm. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất”[10] Không chỉ tập trung phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước còn đặc biệt quan tâm xây dựng hệ thống chính sách an sinh xã hội toàn diện, bảo đảm cho mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển. Chính sách bảo hiểm y tế toàn dân, chính sách hỗ trợ người nghèo, người có công, người yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa… ngày càng được hoàn thiện. Quan điểm nhất quán của Đảng là không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển. Đây chính là biểu hiện sinh động của tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất nhân văn của chế độ mới.
Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19, tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo hạnh phúc nhân dân được vận dụng một cách rõ nét và thực chất. Trong điều kiện đất nước gặp rất nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước vẫn đặt việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân lên trên hết, trước hết; triển khai nhiều gói hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh; huy động cả hệ thống chính trị chăm lo đời sống nhân dân. Chủ trương “không để ai bị bỏ lại phía sau” không chỉ mang ý nghĩa nhân đạo, mà còn phản ánh sâu sắc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh chăm lo đời sống vật chất, Đảng còn đặc biệt coi trọng phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, công khai, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm phục vụ. Đồng thời, Đảng ta đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đây không chỉ là yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, mà còn là điều kiện để củng cố niềm tin và bảo vệ hạnh phúc của nhân dân. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tham ô, lãng phí, quan liêu là những “giặc nội xâm”, trực tiếp xâm hại lợi ích của nhân dân và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay không chỉ mang ý nghĩa chính trị, pháp lý, mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong việc bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc của nhân dân.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn. Đó là sự phát triển đất nước theo hướng lấy con người làm trung tâm; gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; chăm lo toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước phục vụ nhân dân và không ngừng nâng cao chất lượng sống, chỉ số hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân. Đây chính là biểu hiện sinh động nhất của bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
3. Kết luận
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống của nhân dân, tư tưởng của Hồ Chí Minh về hạnh phúc nhân dân tiếp tục khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, trở thành nền tảng tư tưởng quan trọng định hướng cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Hạnh phúc của nhân dân không chỉ là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng, mà còn là thước đo phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa và hiệu quả lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc nhân dân đòi hỏi phải kiên định quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm của sự phát triển; gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội; chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần, phát huy quyền làm chủ và tạo điều kiện để mọi người dân được phát triển toàn diện. Đây vừa là yêu cầu mang tính chiến lược nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, vừa là động lực quan trọng để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, văn minh và hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập I, tập II.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tập II.
[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
[4]. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc con người - Vận dụng vào chăm lo hạnh phúc con người Việt Nam hiện nay, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/921902/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-hanh-phuc-con-nguoi-van-dung-vao-cham-lo-hanh-phuc-con-nguoi-viet-nam-hien-nay.aspx.
[5]. Nguyễn Văn Nguyên, Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc với dân chủ và hạnh phúc của nhân dân trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018.
PEOPLE'S HAPPINESS – THE SUPREME GOAL OF THE REVOLUTIONARY CAUSE IN HO CHI MINH THOUGHT
M.A. Pham Van Hieu – M.A. Bui Kiem Anh
Political Academy, Ministry of National Defence, Vietnam
Abstract: This article clarifies the substantive content of Ho Chi Minh’s thought on people’s happiness as the ultimate goal of the Vietnamese revolutionary cause. Based on an analysis of his core arguments, the study affirms that people’s happiness is understood as the unity of national independence, freedom, material well-being, and the comprehensive development of human beings; it also serves as a fundamental criterion reflecting the humanistic nature of the socialist regime. On that basis, the article examines the inheritance and development of Ho Chi Minh’s thought in the policies of the Communist Party of Vietnam, particularly through the documents of the 13th and 14th National Party Congresses, which place people and their happiness at the center of the national development strategy. Through practical analysis, the study concludes that improving both the material and spiritual life of the people, ensuring their mastery, and enhancing their quality of life are not only the ultimate objectives but also key driving forces of sustainable development in the new era.
Keywords: digital competence; digital competence development; military youth; digital transformation; Vietnam People's Army.