KHÔNG “MÂU THUẪN” GIỮA TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI VÀ KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI - LUẬN CỨ BÁC BỎ CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Đức Hoàng - Mạnh Tiến - Gia Khuyến Viện KHXH & NVQS, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng. Tóm tắt: Bài viết tập trung nhận diện, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch cho rằng tồn tại “mâu thuẫn” giữa trọng dụng nhân tài và kỷ luật quân đội. Từ lý luận và thực tiễn, bài viết khẳng định: kỷ luật quân đội không kìm hãm sáng tạo mà là nền tảng tổ chức để nhân tài phát huy năng lực phục vụ chiến đấu. Đồng thời, bài viết chỉ rõ âm mưu lợi dụng chủ trương “trọng dụng nhân tài” nhằm cổ xúy chủ nghĩa cá
15:53 | 16/05/2026

Đức Hoàng - Mạnh Tiến - Gia Khuyến

Viện KHXH & NVQS, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng.

Tóm tắt:

Bài viết tập trung nhận diện, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch cho rằng tồn tại “mâu thuẫn” giữa trọng dụng nhân tài và kỷ luật quân đội. Từ lý luận và thực tiễn, bài viết khẳng định: kỷ luật quân đội không kìm hãm sáng tạo mà là nền tảng tổ chức để nhân tài phát huy năng lực phục vụ chiến đấu. Đồng thời, bài viết chỉ rõ âm mưu lợi dụng chủ trương “trọng dụng nhân tài” nhằm cổ xúy chủ nghĩa cá nhân, làm suy yếu tính phục tùng, từng bước “phi chính trị hóa” quân đội; từ đó yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức, sử dụng nhân tài gắn với xây dựng quân đội hiện đại trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: nhân tài; kỷ luật; quân đội; tổ chức; chiến tranh hiện đại.

KHÔNG “MÂU THUẪN” GIỮA TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI VÀ KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI - LUẬN CỨ BÁC BỎ CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Hệ bồi dưỡng nghiệp vụ CTĐ,CTCT; Giáo dục QP&AN, tích cực trong nghiên cứu, học tập, quán triệt triển khai thực hiện nghị quyết lần thứ Hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng kỷ luật quân đội “kìm hãm sáng tạo”, “cản trở phát triển nhân tài”, từ đó cổ xúy cho chủ nghĩa cá nhân, xem nhẹ tính phục tùng và phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội. Thực chất, đây không phải tranh luận học thuật mà là thủ đoạn chính trị nhằm làm suy yếu tính tổ chức, phá vỡ kỷ luật và thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội. Vì vậy, đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái là góp phần giữ vững nguyên tắc tổ chức, bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của quân đội.

1. Kỷ luật quân đội - bản chất khoa học, nguyên tắc bất di bất dịch

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh”[1]. Trong quân đội cách mạng, kỷ luật không chỉ là yêu cầu quản lý hay biện pháp duy trì trật tự, mà là nguyên tắc tổ chức cơ bản, là điều kiện sống còn bảo đảm sức mạnh chiến đấu. Không có kỷ luật nghiêm minh thì không thể có quân đội chính quy, càng không thể có khả năng hiệp đồng, cơ động và chiến thắng trong chiến tranh hiện đại.

Khác với các tổ chức xã hội thông thường, quân đội hoạt động trong môi trường mà mọi sai lệch về mệnh lệnh, thời gian, vị trí hay hành động đều có thể dẫn tới hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, sự thống nhất ý chí và hành động trong quân đội không phải yêu cầu hình thức, mà là nguyên lý vận hành của sức mạnh quân sự. Trong tác chiến hiện đại, nơi tốc độ xử lý thông tin, khả năng hiệp đồng và phản ứng tức thời có ý nghĩa quyết định, kỷ luật càng trở thành yếu tố bảo đảm độ tin cậy của toàn bộ hệ thống chiến đấu.

Tuy nhiên, hiện nay có những quan điểm cố tình đánh đồng kỷ luật quân đội với sự cứng nhắc, áp đặt máy móc, từ đó suy diễn rằng kỷ luật “kìm hãm sáng tạo”, “cản trở phát triển nhân tài”. Đây là cách hiểu sai lệch, phản ánh sự thiếu hiểu biết về bản chất của quân đội cách mạng hoặc dụng ý xuyên tạc nhằm phủ nhận nguyên tắc tổ chức của quân đội. Trên thực tế, chưa từng có quân đội nào mạnh lên bằng sự tùy tiện, vô tổ chức hay xem nhẹ phục tùng mệnh lệnh. Mọi đội quân chiến thắng trong lịch sử đều được xây dựng trên nền tảng kỷ luật nghiêm minh và cơ chế chỉ huy thống nhất.

Cần khẳng định rõ: kỷ luật quân đội không đối lập với phát triển con người, mà là khuôn khổ bảo đảm cho mọi năng lực được phát huy đúng hướng, đúng mục tiêu và phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chiến đấu. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, kỷ luật không tách rời bản chất cách mạng và sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Bởi vậy, mọi luận điệu đòi “nới lỏng kỷ luật để phát triển nhân tài”, xét đến cùng, đều dẫn tới làm suy yếu tính tổ chức, phá vỡ sự thống nhất chỉ huy và từng bước phủ nhận nền tảng chính trị của quân đội.

Từ đó có thể khẳng định: ở trình độ hiện đại, kỷ luật quân đội không còn chỉ là công cụ kiểm soát hành vi hay nguyên tắc duy trì trật tự mà đã trở thành năng lực tổ chức trí tuệ, tổ chức con người và tổ chức sức mạnh chiến đấu. Giá trị của kỷ luật không nằm ở sự đồng nhất máy móc mà ở khả năng chuyển hóa những năng lực khác biệt thành sức mạnh thống nhất dưới cùng mục tiêu và ý chí chiến đấu. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, hạ thấp hoặc đối lập hóa kỷ luật với phát triển con người, xét đến cùng, đều nhằm làm suy yếu chính năng lực tổ chức - nền tảng cốt lõi tạo nên sức mạnh của quân đội cách mạng.

2. Trọng dụng nhân tài trong quân đội hiện đại - yêu cầu khách quan, xu thế tất yếu

Trong chiến tranh hiện đại, ưu thế quân sự ngày càng không phụ thuộc chủ yếu vào số lượng quân hay vũ khí mà phụ thuộc vào chất lượng con người và năng lực làm chủ công nghệ. Thực tiễn các xung đột gần đây cho thấy, trong các lĩnh vực như tác chiến điện tử, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo, điều khiển vũ khí công nghệ cao…, một quyết định đúng và kịp thời của cá nhân có năng lực có thể tạo ra khác biệt lớn trên chiến trường. Thực tiễn xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine cho thấy, nhiều tình huống tác chiến bằng UAV, tác chiến điện tử và phản ứng trên không gian mạng chỉ được quyết định trong vài phút, thậm chí vài giây. Khi đó, ưu thế không thuộc về bên có nhiều khí tài hơn, mà thuộc về bên có khả năng tổ chức con người, xử lý dữ liệu và ra quyết định hiệu quả hơn. Vì vậy, xây dựng và trọng dụng nhân tài đã trở thành yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần khẳng định phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng vũ trang, coi đây là khâu đột phá để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Quan tâm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng vũ trang”[2]. Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII cũng đã xác định: “Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh thu hút, trọng dụng nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại”[3], coi đó là khâu đột phá quan trọng. Đồng thời, Nghị định số 363/2025/NĐ - CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ đã thể chế hóa trực tiếp chủ trương này, tạo hành lang pháp lý cụ thể để thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao trong quân đội. Tuy nhiên, điểm nghẽn không nằm ở chủ trương mà ở khâu tổ chức thực hiện. Ở một số nơi, việc nhận diện và sử dụng nhân tài còn nặng về bằng cấp, hồ sơ; nhẹ về năng lực tạo giá trị trong điều kiện tác chiến cụ thể. Hệ quả là nghịch lý xuất hiện: “đúng tiêu chuẩn” nhưng chưa “trúng hiệu quả”, nhất là trong các lĩnh vực mới như tác chiến không gian mạng, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu quân sự. Những biểu hiện cụ thể không khó nhận thấy: có người giỏi thực hành nhưng chưa được giao việc tương xứng; có nơi bố trí “đúng quy trình” nhưng hiệu quả nhiệm vụ chưa cao. Từ một số hạn chế cá biệt trong công tác sử dụng cán bộ ở một vài nơi, họ cố tình quy kết rằng kỷ luật quân đội là “gò bó”, “trói buộc”, “kìm hãm sáng tạo”, “không phù hợp với người tài”, từ đó cổ xúy tư tưởng “nới lỏng kỷ luật để phát triển nhân tài”. Thực chất, đây không phải góp ý xây dựng, mà là thủ đoạn nhằm tạo đối lập giả tạo giữa nhân tài và kỷ luật, từng bước phủ nhận nguyên tắc tổ chức, hạ thấp tính phục tùng, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Cần thấy rõ rằng, điểm nghẽn không nằm ở kỷ luật, mà nằm ở trình độ tổ chức, sử dụng và chuyển hóa năng lực con người. Không phải kỷ luật làm mất nhân tài, mà là ở một số nơi việc phát hiện, bố trí và phát huy năng lực còn chưa theo kịp yêu cầu mới. Khi tổ chức chưa đủ khoa học, nhân tài có thể chưa được sử dụng đúng; nhưng khi tổ chức được nâng tầm, chính kỷ luật lại trở thành nền tảng để nhân tài phát huy hiệu quả cao nhất. Bởi vậy, không thể lấy những hạn chế trong thực hiện để phủ nhận nguyên tắc tổ chức của quân đội cách mạng. Càng hiện đại hóa quân đội, càng phải phát huy nhân tài trong khuôn khổ kỷ luật nghiêm minh, chứ không phải nới lỏng kỷ luật để chiều theo chủ nghĩa cá nhân.

3. Nhận diện, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ trọng dụng nhân tài và kỷ luật quân đội

Hiện nay, các thế lực thù địch đang gia tăng chống phá quân đội trên lĩnh vực tư tưởng, tổ chức và nguyên tắc hoạt động. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm, tinh vi là cố tình dựng lên cái gọi là “mâu thuẫn giữa kỷ luật và nhân tài”, từ đó xuyên tạc bản chất quân đội cách mạng, làm suy giảm niềm tin vào nguyên tắc tổ chức và từng bước thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội. Luận điệu mà Đài Châu Á tự do thường rêu rao là: “kỷ luật quân đội quá cứng nhắc sẽ kìm hãm sáng tạo”, trang Facebook Việt Tân: “muốn phát triển nhân tài phải nới lỏng kỷ luật”, người có tài khoản Bá Tuần Vương: “môi trường quân đội không phù hợp với người tài”, thậm chí cổ súy tư tưởng đề cao cá nhân cực đoan, hạ thấp tính phục tùng và xem nhẹ nguyên tắc tổ chức… Nghe qua có vẻ “hợp lý”, “mang tính cải cách”, nhưng thực chất đây là sự đánh tráo bản chất hết sức nguy hiểm. Chúng cố tình đồng nhất kỷ luật quân đội với sự áp đặt máy móc, đồng thời tuyệt đối hóa tự do cá nhân theo kiểu phương Tây nhằm tạo ra cảm giác rằng: muốn có sáng tạo thì phải giảm kỷ luật, muốn có nhân tài thì phải nới lỏng nguyên tắc tổ chức.

Cần khẳng định: đây không phải là tranh luận học thuật thuần túy mà là thủ đoạn chính trị được ngụy trang dưới lớp vỏ “khai phóng tư duy”, “đổi mới quản trị”, “khuyến khích sáng tạo”. Mục tiêu cuối cùng của chúng không phải phát triển nhân tài mà là làm lệch lạc nhận thức, làm mờ ranh giới đúng - sai về nguyên tắc tổ chức quân đội, từng bước pha loãng tính kỷ luật, làm suy yếu cơ chế chỉ huy thống nhất và mở đường cho âm mưu tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, các quan điểm này không tác động trực diện bằng khẩu hiệu chống đối cực đoan mà thẩm thấu theo kiểu “độc hóa nhận thức”, làm thay đổi dần cách hiểu về quân đội, về kỷ luật và về vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ cố tình gieo vào nhận thức một tư duy sai lệch rằng: kỷ luật là “lực cản”, phục tùng là “hạn chế sáng tạo”, nguyên tắc tổ chức là “cản trở cá nhân phát triển”. Khi những nhận thức lệch lạc ấy được lặp đi lặp lại dưới vỏ bọc “học thuật”, “cải cách”, “hiện đại hóa”, rất dễ tạo ra tâm lý hoài nghi, dao động về nền tảng tổ chức của quân đội cách mạng.

Thực chất, đây là quá trình từng bước “pha loãng” nguyên tắc tổ chức quân đội. Đường đi của thủ đoạn này thường bắt đầu từ phủ nhận kỷ luật, tiến tới tuyệt đối hóa tự do cá nhân, tiếp đó làm suy giảm tính phục tùng, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ và cuối cùng là tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Đây là quá trình chuyển hóa nhận thức chính trị từ bên trong quân đội dưới vỏ bọc “đổi mới tư duy”.

Cần thấy rõ rằng, phủ nhận kỷ luật quân đội chưa bao giờ là mục tiêu cuối cùng. Đích nhắm thực sự của các thế lực thù địch là từng bước phủ nhận nền tảng chính trị của quân đội cách mạng. Khi tính phục tùng bị hạ thấp, nguyên tắc tổ chức bị pha loãng và chủ nghĩa cá nhân được cổ súy, quân đội rất dễ bị kéo lệch khỏi mục tiêu chính trị chiến đấu. Đây chính là con đường nguy hiểm dẫn tới “phi chính trị hóa” quân đội dưới chiêu bài “hiện đại hóa quản trị”, “quốc tế hóa quân sự” hay “giải phóng cá tính sáng tạo”. Nếu chấp nhận quan điểm “nới lỏng kỷ luật để phát triển nhân tài”, hậu quả không chỉ dừng ở suy giảm hiệu quả quản lý mà nguy hiểm hơn là làm rạn nứt nền tảng tổ chức quân đội. Trong môi trường quân sự, nơi mọi hoạt động đòi hỏi hiệp đồng tuyệt đối, chỉ cần xuất hiện tư tưởng đặt cái “tôi” lên trên nguyên tắc tổ chức, sức mạnh chiến đấu sẽ bị phá vỡ từ bên trong. Một quân đội mà mỗi cá nhân tự xác lập “chuẩn đúng” riêng sẽ không còn khả năng thống nhất ý chí và hành động trong các tình huống sống còn.

Thực chất của kiểu lập luận này là dựng lên một “mâu thuẫn giả tạo” giữa hai yếu tố vốn thống nhất trong quân đội cách mạng. Chúng lấy một số hạn chế cá biệt trong sử dụng cán bộ ở một vài nơi để quy kết thành bản chất của toàn bộ hệ thống; lấy hiện tượng thay cho bản chất; lấy hạn chế trong tổ chức thực hiện để phủ nhận nguyên tắc tổ chức của quân đội. Đây là thủ pháp xuyên tạc quen thuộc nhằm dẫn dắt nhận thức theo hướng phủ định nền tảng chính trị - tổ chức của quân đội cách mạng.

Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu đó. Chưa từng có quân đội nào mạnh lên bằng sự tùy tiện và vô tổ chức. Mọi đội quân chiến thắng trong lịch sử đều được xây dựng trên nền tảng kỷ luật nghiêm minh, cơ chế chỉ huy thống nhất và sự phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh chiến đấu. Ngược lại, ở đâu kỷ luật bị buông lỏng, ở đó xuất hiện hỗn loạn chỉ huy, phân tán sức mạnh và suy giảm năng lực chiến đấu.

Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ toàn bộ những luận điệu xuyên tạc ấy. Chính trong môi trường quân đội có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh và mục tiêu chiến đấu rõ ràng, nhiều tài năng lớn của dân tộc đã được phát hiện, rèn luyện và trưởng thành. Những đóng góp đặc biệt xuất sắc của Thiếu tướng, Giáo sư Trần Đại Nghĩa cùng nhiều thế hệ cán bộ khoa học quân sự, chuyên gia công nghệ cao trong quân đội cho thấy một thực tế không thể phủ nhận: kỷ luật không triệt tiêu nhân tài; trái lại, chính kỷ luật tạo môi trường để nhân tài phát huy giá trị cao nhất vì mục tiêu chung của Tổ quốc.

Ngay trong những lĩnh vực đòi hỏi tính sáng tạo rất cao như công nghiệp quốc phòng, tác chiến điện tử, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo hay công nghệ viễn thông quân sự, thực tiễn cũng không chứng minh rằng muốn phát triển phải “nới lỏng kỷ luật”. Ngược lại, càng hiện đại hóa càng phải siết chặt kỷ luật công nghệ, kỷ luật bảo mật, kỷ luật tổ chức và kỷ luật tác chiến. Chỉ một sơ hở nhỏ về kỷ luật bảo mật, kỷ luật dữ liệu hay quy trình tác chiến số cũng có thể làm lộ hệ thống chỉ huy, mất quyền kiểm soát vũ khí hoặc gây đổ vỡ toàn bộ cấu trúc hiệp đồng chiến đấu. Không có bất kỳ thành tựu quân sự - công nghệ nào được tạo ra từ tự do vô nguyên tắc hay chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Không có sáng tạo quân sự nào tồn tại ngoài tổ chức.

Điều nguy hiểm hơn là phía sau các luận điệu tưởng như “cải cách” ấy lại là mưu đồ chính trị rất rõ ràng. Khi cổ xúy “nới lỏng kỷ luật để phát triển nhân tài”, các thế lực thù địch thực chất đang từng bước phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ, phủ nhận tính phục tùng trong quân đội, làm phai nhạt nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”. Đây chính là bước đi nguy hiểm nhằm pha loãng bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm suy yếu nền tảng chính trị - tư tưởng và mở đường cho âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội dưới chiêu bài “hiện đại hóa quản trị quân sự”.

Cần thấy rõ rằng: trong quân đội, mọi tài năng nếu tách rời kỷ luật đều không thể chuyển hóa thành sức mạnh chiến đấu. Một cá nhân dù xuất sắc đến đâu nhưng đứng ngoài nguyên tắc tổ chức cũng không thể tạo nên sức mạnh quân sự; ngược lại, còn có thể trở thành nhân tố phá vỡ sự thống nhất chỉ huy và gây rối loạn hệ thống. Trong môi trường quân sự mọi biểu hiện tùy tiện, vô nguyên tắc hay đề cao cái “tôi” cực đoan đều tiềm ẩn nguy cơ đặc biệt nguy hiểm.

Bởi vậy, luận điệu “nới lỏng kỷ luật để phát triển nhân tài” thực chất không phải giải pháp phát triển, mà là sự phủ nhận nguyên lý tổ chức cơ bản của quân đội cách mạng. Một quân đội xem nhẹ kỷ luật sẽ không còn sức mạnh chiến đấu; một quân đội dung túng chủ nghĩa cá nhân sẽ không còn sự thống nhất ý chí và hành động; một quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng sẽ mất phương hướng chính trị và đánh mất bản chất cách mạng. Đó không phải đổi mới tư duy quân sự mà đó là phá vỡ nguyên tắc tổ chức quân đội.

Do đó, đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc về mối quan hệ giữa kỷ luật và nhân tài không chỉ là yêu cầu về nhận thức lý luận, mà còn là nhiệm vụ chính trị trực tiếp nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ nguyên tắc tổ chức của quân đội và bảo vệ sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới.

Quảng cáo

Có thể khẳng định dứt khoát rằng: luận điệu cho rằng “kỷ luật kìm hãm nhân tài” là sự ngụy biện mang động cơ chính trị. Mục tiêu cuối cùng của nó không phải phát triển con người, mà là phá vỡ nguyên tắc tổ chức, hạ thấp tính phục tùng, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và từng bước mở đường cho “phi chính trị hóa” quân đội. Không có quân đội hiện đại nào được xây dựng trên chủ nghĩa cá nhân. Sức mạnh quân sự chỉ có thể được bảo đảm bằng kỷ luật nghiêm minh, cơ chế chỉ huy thống nhất và năng lực tổ chức trí tuệ con người trong khuôn khổ nguyên tắc chặt chẽ.

4. Quan hệ thống nhất, biện chứng giữa giữ vững kỷ luật và trọng dụng nhân tài

Từ những phân tích trên có thể khẳng định: cái gọi là “mâu thuẫn” giữa giữ vững kỷ luật và trọng dụng nhân tài trong quân đội thực chất chỉ là sản phẩm của cách nhìn phiến diện. Khi kỷ luật bị giản lược thành sự áp đặt cứng nhắc, còn nhân tài bị đồng nhất với tự do cá nhân tuyệt đối, người ta dễ tạo ra cảm giác đối lập giữa hai yếu tố này. Nhưng trong bản chất của quân đội cách mạng, kỷ luật và nhân tài không loại trừ nhau mà tồn tại trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ, cùng hướng tới mục tiêu cao nhất là nâng cao sức mạnh chiến đấu.

Về bản chất, kỷ luật quân đội không nhằm triệt tiêu khác biệt cá nhân, mà nhằm tổ chức các khác biệt ấy thành hành động thống nhất. Một quân đội không thể mạnh nếu mỗi cá nhân hành động theo ý chí riêng; nhưng cũng không thể hiện đại nếu mọi cá nhân chỉ vận hành như mắt xích thụ động. Giá trị của kỷ luật nằm ở khả năng giữ vững thống nhất hành động trong khi vẫn phát huy được trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người.

Ở chiều ngược lại, nhân tài trong quân đội không phải là yếu tố đứng ngoài tổ chức, càng không phải “ngoại lệ” của kỷ luật. Điểm khác biệt của nhân tài không nằm ở quyền được vượt khỏi nguyên tắc, mà ở khả năng tạo ra giá trị vượt trội trong khuôn khổ nguyên tắc. Những phẩm chất như tư duy độc lập, khả năng phản biện, năng lực xử lý tình huống phức tạp hay sáng tạo trong thực tiễn tác chiến chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi được đặt trong một tổ chức có mục tiêu thống nhất, cơ chế chỉ huy chặt chẽ và nền tảng chính trị vững chắc.

Điều này càng thể hiện rõ trong chiến tranh hiện đại. Trong các lĩnh vực như tác chiến điện tử, an ninh mạng, điều khiển hệ thống vũ khí công nghệ cao hay xử lý tình huống phi truyền thống, người quân nhân không chỉ chấp hành mệnh lệnh một cách cơ học, mà còn phải chủ động phân tích, phán đoán và thích ứng rất nhanh trước những biến động khó lường. Điều đó cho thấy, trong quân đội hiện đại, kỷ luật không đồng nghĩa với rập khuôn cứng nhắc; trái lại, đó là khả năng giữ vững sự thống nhất hành động ngay cả trong điều kiện đòi hỏi tính sáng tạo và linh hoạt rất cao. Trong chiến tranh hiện đại, linh hoạt không đối lập với kỷ luật; linh hoạt chính là biểu hiện của kỷ luật ở trình độ tổ chức cao hơn.

Bởi vậy, nếu ở trình độ thấp, kỷ luật chủ yếu nhằm kiểm soát hành vi, thì ở trình độ cao hơn, kỷ luật trở thành năng lực tổ chức trí tuệ. Giá trị của quân đội hiện đại không nằm ở việc tạo ra những cá nhân giống nhau mà ở khả năng tổ chức những cá nhân xuất sắc thành sức mạnh thống nhất. Đây chính là điểm phân biệt giữa kỷ luật quân sự hiện đại với sự áp đặt cơ học giản đơn. Đây cũng chính là đặc trưng của quân đội hiện đại - nơi ưu thế không chỉ được quyết định bởi vũ khí, trang bị hay quân số mà ngày càng phụ thuộc vào trình độ tổ chức và khả năng phát huy chất lượng con người.

Quan điểm đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới. Xây dựng quân đội hiện đại không phải làm cho mọi cá nhân trở nên giống nhau một cách cơ học mà là xây dựng khả năng thống nhất cao trên cơ sở phát huy tốt nhất trí tuệ, bản lĩnh và năng lực của con người Việt Nam. Một quân đội mạnh không phải là quân đội loại bỏ khác biệt, mà là quân đội có khả năng tổ chức, định hướng và chuyển hóa những khác biệt ấy thành sức mạnh chiến đấu thống nhất.

Bởi vậy, trong quân đội hiện đại, giữ vững kỷ luật và phát huy, trọng dụng nhân tài không hề mâu thuẫn mà hợp thành cấu trúc sức mạnh thống nhất. Kỷ luật tạo khả năng tổ chức; nhân tài tạo chiều sâu chất lượng; còn sức mạnh quân sự hiện đại được quyết định ở năng lực tổ chức nhân tài thành hành động chiến đấu thống nhất. Khi được nhận thức đúng và tổ chức đúng, mối quan hệ giữa kỷ luật và nhân tài không chỉ không tạo ra xung đột mà còn trở thành động lực nội sinh quan trọng quyết định khả năng thích ứng, phát triển và chiến thắng của quân đội trong điều kiện chiến tranh hiện đại.

5. Trọng dụng nhân tài trong khuôn khổ kỷ luật sẽ nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội

Nếu mục tiêu của quân đội hiện đại là tạo ra ưu thế chiến đấu trong môi trường chiến tranh công nghệ cao, thì vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở vũ khí hay trang bị, mà ở năng lực tổ chức và khai thác hiệu quả con người. Trong bối cảnh đó, trọng dụng nhân tài không còn là chính sách mang tính khuyến khích đơn thuần mà trở thành yêu cầu chiến lược trực tiếp liên quan đến chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Vấn đề đặt ra hiện nay không phải quân đội có cần nhân tài hay không mà là tổ chức như thế nào để nhân tài thực sự tạo ra hiệu quả chiến đấu. Thực tế cho thấy, nhiều nơi không thiếu chủ trương, chính sách, nhưng vẫn tồn tại khoảng cách giữa “thu hút được người giỏi” và “phát huy được người giỏi”. Điểm nghẽn chủ yếu không nằm ở số lượng nhân lực chất lượng cao mà ở trình độ tổ chức, sử dụng và vận hành nguồn lực đó trong thực tiễn.

Trước hết, cần đổi mới tư duy phát hiện nhân tài theo hướng thực chất. Trong môi trường quân sự hiện đại, nhân tài không phải lúc nào cũng biểu hiện qua hồ sơ đẹp, bằng cấp cao hay quá trình công tác “an toàn” mà nhiều khi thể hiện ở năng lực xử lý tình huống, khả năng sáng tạo trong nhiệm vụ, tư duy công nghệ và hiệu quả tạo ra trong thực tiễn. Nếu tiếp tục đánh giá con người chủ yếu bằng tiêu chuẩn hành chính hoặc quy trình hình thức, rất dễ dẫn tới tình trạng “đúng tiêu chuẩn nhưng chưa đúng người”, làm lãng phí nguồn lực chất lượng cao.

Cùng với phát hiện đúng, cần tổ chức đào tạo nhân tài theo hướng gắn chặt giữa chuyên môn, bản lĩnh và năng lực thích ứng. Quân đội hiện đại không cần những cá nhân chỉ giỏi kỹ thuật nhưng thiếu khả năng làm việc trong môi trường áp lực cao, thiếu bản lĩnh chính trị hoặc thiếu ý thức tổ chức kỷ luật. Vì vậy, đào tạo nhân tài quân đội không chỉ nhằm tạo ra người giỏi chuyên môn mà phải hình thành những con người có khả năng kết hợp giữa tư duy sáng tạo với tính tổ chức, tinh thần tập thể, giữa năng lực cá nhân với trách nhiệm chính trị và kỷ luật quân đội.

Khâu có ý nghĩa quyết định hiện nay là sử dụng nhân tài. Thực tiễn cho thấy, nhiều trường hợp hiệu quả thấp không phải vì thiếu người giỏi, mà vì bố trí chưa đúng sở trường, giao việc chưa đúng năng lực hoặc cơ chế vận hành còn quá cứng nhắc. Trong các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, công nghệ quốc phòng, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo hay tác chiến điện tử, nếu mọi hoạt động đều vận hành theo lối quản lý hành chính thuần túy, tổ chức rất dễ đánh mất tốc độ phản ứng và khả năng đổi mới. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy “quản lý con người” sang tư duy “tổ chức và khai thác hiệu quả năng lực con người”. Quân đội hiện đại không thiếu người giỏi; vấn đề quyết định là khả năng tổ chức và phát huy hiệu quả người giỏi.

Đi liền với đó là yêu cầu mạnh dạn trao quyền cho những cá nhân thực sự có năng lực. Trong môi trường tác chiến hiện đại, tốc độ xử lý thông tin và khả năng ra quyết định nhiều khi quyết định thành bại của nhiệm vụ. Trong chiến tranh công nghệ cao, chậm một nhịp xử lý có thể mất cả ưu thế chiến trường. Nếu mọi hoạt động đều phụ thuộc vào cơ chế xin ý kiến nhiều tầng nấc, tổ chức có thể mất thời cơ ngay trong thời điểm quyết định. Tuy nhiên, trao quyền trong quân đội không phải mở rộng tự do cá nhân mà là mở rộng trách nhiệm trên cơ sở năng lực và kiểm soát chặt chẽ theo phương châm “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”. Khi đó, nhân tài không đứng ngoài tổ chức mà trở thành nhân tố nâng cao chất lượng thực thi nhiệm vụ của tổ chức.

Bởi vậy, trọng dụng nhân tài chỉ bền vững khi đi liền với cơ chế kiểm soát khoa học và đánh giá thực chất. Nếu đánh giá cán bộ còn nặng về cảm tính, hình thức hoặc thiếu minh bạch, rất dễ dẫn tới tâm lý đặc quyền, làm suy giảm niềm tin nội bộ và ảnh hưởng tới kỷ luật tổ chức. Trong quân đội hiện đại, thước đo quan trọng nhất không phải danh xưng hay hồ sơ mà là năng lực tạo ra giá trị thực tế cho đơn vị và nhiệm vụ. Người thực sự có năng lực phải được khẳng định bằng kết quả công việc, bằng hiệu quả chiến đấu và bằng uy tín trong tập thể.

Ở tầm chiến lược, cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài trong quân đội theo hướng linh hoạt, cạnh tranh và gắn chặt với yêu cầu hiện đại hóa quân đội. Quan trọng hơn, phải thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và tổ chức thực hiện. Một chính sách đúng nhưng vận hành hình thức sẽ không tạo ra sức mạnh thực tế. Điều quân đội cần không chỉ là “có chính sách” mà là có cơ chế đủ năng lực chuyển hóa nhân tài thành ưu thế chiến đấu.

Đồng thời, cần hình thành hệ sinh thái phát triển nhân lực quốc phòng hiện đại thông qua liên kết giữa quân đội với học viện, nhà trường, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ cao và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Trong điều kiện cạnh tranh công nghệ ngày càng quyết liệt, việc phát hiện, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là yêu cầu phát triển nguồn lực mà còn là vấn đề tạo lợi thế chiến lược lâu dài cho quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc.

Xét đến cùng, trình độ hiện đại hóa quân đội không chỉ được đo bằng vũ khí hay công nghệ, mà còn được đo bằng năng lực tổ chức trí tuệ con người. Một quân đội mạnh không phải là quân đội có nhiều cá nhân xuất sắc đứng riêng lẻ, mà là quân đội có khả năng chuyển hóa nhân tài thành sức mạnh chiến đấu trong một cơ chế kỷ luật thống nhất. Đó cũng chính là thước đo năng lực lãnh đạo, trình độ tổ chức và bản lĩnh hiện đại hóa của quân đội trong kỷ nguyên chiến tranh công nghệ cao.

Có thể khẳng định, giữa trọng dụng nhân tài và giữ vững kỷ luật quân đội không tồn tại sự đối lập mà là mối quan hệ thống nhất trong xây dựng quân đội hiện đại. Kỷ luật quân đội không kìm hãm sáng tạo mà là nền tảng để nhân tài phát huy tài năng đúng mục tiêu, nguyên tắc và hiệu quả chiến đấu. Thực tiễn lịch sử cho thấy, mọi quân đội mạnh đều được xây dựng trên cơ sở kỷ luật nghiêm minh, cơ chế chỉ huy thống nhất và khả năng tập hợp, tổ chức, phát huy trí tuệ của con người thành sức mạnh chiến đấu tổng hợp.

Những luận điệu đòi “nới lỏng kỷ luật để phát triển nhân tài” thực chất nhằm cổ xúy chủ nghĩa cá nhân, làm suy yếu nguyên tắc tổ chức và từng bước “phi chính trị hóa” quân đội. Vì vậy, cần gắn trọng dụng nhân tài với giữ vững kỷ luật và sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.

2. Chính phủ (2025), Nghị định số 363/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025, quy định chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.116.

4. Đảng bộ Quân đội (2025), Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 02/10/2025 Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII nhiệm kỳ 2025 - 2030, Hà Nội, tr.5.

5. Hồ Chí Minh (1952), “Bài nói tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc”, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.483.

6. Quân ủy Trung ương (2019), Nghị quyết số 109-NQ/QUTW ngày 11/02/2019 về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Hà Nội.

7. Quân ủy Trung ương (2025), Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quân đội, Hà Nội.

8. Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 726/QĐ-TTg ngày 08/4/2025 phê duyệt Đề án “Chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, Hà Nội.


[1] Hồ Chí Minh (1952), “Bài nói tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc”, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.483.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.116

[3] Đảng bộ Quân đội (2025), Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 02/10/2025 Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII nhiệm kỳ 2025 - 2030, Hà Nội, tr.5.