NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

Tóm tắt: Hiện nay, nhu cầu giáo dục hướng nghiệp của học sinh phổ thông khá cao, đòi hỏi sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội. Nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường trung học phổ thông vùng Đồng Bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu thể hiện ở hai yếu tố khách quan và chủ quan. Đây là cơ sở thiết thực giúp nhà trường xây dựng được kế hoạch giáo dục hướng nghiệp hiệu quả, khả thi và giúp học

Tóm tắt: Hiện nay, nhu cầu giáo dục hướng nghiệp của học sinh phổ thông khá cao, đòi hỏi sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội. Nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường trung học phổ thông vùng Đồng Bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu thể hiện ở hai yếu tố khách quan và chủ quan. Đây là cơ sở thiết thực giúp nhà trường xây dựng được kế hoạch giáo dục hướng nghiệp hiệu quả, khả thi và giúp học sinh đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp trong việc lựa chọn nghề nghiệp của mình.

Từ khóa: Yếu tố ảnh hưởng, phát triển, đội ngũ giáo viên, giáo dục hướng nghiệp, trung học phổ thông, vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

1. Mở đầu

Nghề nghiệp là vấn đề quan trọng đối với sự phát triển cá nhân và có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Lựa chọn nghề nghiệp là một trong những quyết định quan trọng nhất mà mọi người đưa ra trong suốt cuộc đời, có ý nghĩa lâu dài đối với lối sống, tình cảm, tình trạng kinh tế - xã hội của cá nhân, cũng như ý thức về hiệu suất cá nhân và đóng góp cho xã hội. Với số lượng lớn các lựa chọn nghề nghiệp ngày nay, sự phát triển nghề nghiệp ngày càng trở nên quan trọng để thế hệ trẻ khám phá sở thích và khả năng nghề nghiệp của mình. Điều cần thiết là học sinh (HS) nhận được sự giáo dục hướng nghiệp (GDHN) từ nhà trường để các em chuẩn bị tốt hơn cho cuộc sống sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) cũng như chuyển tiếp sang tuổi trưởng thành và trở thành lực lượng lao động (Ado, 2018). Việc ra quyết định nghề nghiệp là một quá trình đa chiều và phức tạp (Gati et al., 2012) với sự bền vững và là một quá trình liên tục, trong đó một quyết định có thể được chuyển đổi hoặc thay thế bằng một quyết định khác.

C. Dimmock và Allan Walker (2005) một nhà nghiên cứu về GDHN người Úc cho rằng: “Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết mà phải cung cấp cho HS một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả HS, làm cho HS vừa có kỹ năng lao động vừa có tri thức”.

Gu và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng, can thiệp có tác động tích cực đến việc giảm khó khăn trong việc đưa ra quyết định nghề nghiệp nhưng có kết quả khác nhau về sự tự tin vào sự nghiệp. Các biện pháp can thiệp chủ động, có hệ thống, đa cấp độ và có cấu trúc trong thời gian dài hơn có thể sẽ giúp thanh niên phát triển kĩ năng ra quyết định nghề nghiệp của họ.

Công tác GDHN, định hướng phân luồng HS phổ thông trong nhà trường THPT có vai trò quan trọng, là một hoạt động không thể thiếu được ở các trường THPT nhằm giúp HS nâng cao sự hiểu biết về nghề nghiệp và chính bản thân HS để có thể định hướng đúng đắn và đưa ra quyết định chọn ngành, chọn nghề nghiệp phù hợp (Quyết định số 522/QĐ-TTg). Trong những năm qua, công tác GDHN, phân luồng HS trong nhà trường THPT đã được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của các cấp quản lý giáo dục; bước đầu đã có sự phối hợp giữa nhà trường, doanh nghiệp, chuyên gia trong tư vấn hướng nghiệp cho HS góp phần tạo sự chuyển biến trong nhận thức của người học, gia đình và xã hội đối với việc chọn nghề, chọn ngành, huy động ngày càng nhiều số lượng HS sau phổ thông tham gia thị trường lao động (Bùi Việt Phú, 2009).

Qua phỏng vấn trực tiếp ý kiến của cán bộ quản lý (CBQL) Trường THPT Nguyễn Hùng Sơn (tỉnh Kiên Giang) cho rằng: công tác GDHN cho HS trong trường THPT trong thời gian qua còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế như chưa thực hiện hết chức năng của GDHN; chưa tạo ra sự khác biệt về chất cả trên bình diện thái độ nghề nghiệp lẫn hiểu biết nghề nghiệp, đặc biệt là chưa phát triển được năng lực lựa chọn nghề nghiệp phù hợp của từng HS dựa trên sự hiểu biết rõ về năng lực của bản thân và hiểu biết những yêu cầu cốt yếu của nghề mà người học định chọn. Công tác phân luồng HS phổ thông đi học giáo dục nghề nghiệp chưa đẩy mạnh được phân luồng, tỷ lệ phân luồng trong những năm qua cả nước còn thấp, HS sau trung học chủ yếu mong muốn đi học đại học.

Bài báo nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên (ĐNGV) thực hiện GDHN cho HS các trường THPT vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Cơ sở thực tiễn này sẽ giúp Nhà trường xây dựng kế hoạch, biện pháp GDHN cho HS một cách hiệu quả, khả thi, giúp các em có những quyết định đúng đắn, phù hợp trong lựa chọn được nghề nghiệp.

2. Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT vùng đồng bằng sông cửu long đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

2.1. Yếu tố khách quan

2.1.1. Chiến lược phát triển giáo dục nước ta đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045

Theo các chuyên gia giáo dục, Chiến lược phát triển giáo dục nước ta đến năm 2030 giáo dục nước ta sẽ hình thành hệ thống giáo dục số, mở, linh hoạt và liên thông, thúc đẩy giáo dục suốt đời có chất lượng cho mọi người, góp phần thực hiện thành công khâu đột phá chiến lược trong phát triển nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. . . và đến năm 2045, xã hội Việt Nam thực sự là xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời có chất lượng cho mọi người, góp phần tích cực vào việc đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, định hướng XHCN. Theo đó, mục tiêu của GDPT là giúp HS học kiến thức phổ thông, biết vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống và tự học, định hướng chọn nghề.

Từ đây cho thấy, Chiến lược phát triển giáo dục trên đây ảnh hưởng sâu sắc mục tiêu, nội dung, chương trình, . . . giáo dục HS phổ thông nói chung, HS THPT nói riêng; có thể coi Chiến lược trên đây như là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến phát triển ĐNGV thực hiện GDHN cho HS. Diễn đạt cụ thể hơn, Chiến lược phát triển giáo dục đến 2030 và tầm nhìn đến 2045 chính là một trong các yếu tố khách quan tác động đến phát triển ĐNGV thực hiện GDHN phục vụ Chương trình GDPT 2018.

2.1.2. Đổi mới Chương trình GDPT 2018

Chương trình GDPT 2018 có nhiều điểm mới so với Chương trình GDPT 2006, cụ thể:

- Về mục tiêu: Giúp HS làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, . . .;

- Về nội dung: Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục bắt buộc;

- Về vai trò của GV: Có một số môn học mới đòi hỏi giáo viên (có năng lực chuyên môn phù hợp) tham gia dạy học; có một số nội dung giáo dục mới trong môn học đòi hỏi giáo viên phải cập nhật; . . .

Chỉ với ba điểm mới trên đây cũng đủ yêu cầu xây dựng ĐNGV thực hiện GDHN đạt 3 tiêu chí số lượng, cơ cấu và chất lượng để có thể đảm nhiệm hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp nói chung, GDHN cho HS THPT nói riêng.

Từ đây cho thấy, quá trình đổi mới và triển khai Chương trình GDPT 2018 đã tác động đến phát triển ĐNGV thực hiện GDHN cho HS THPT; nói cách khác, đổi mới Chương trình GDPT 2018 là một trong những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến phát triển ĐNGV thực hiện GDHN.

2.1.3. Thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

Ngày nay, khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng, đã làm tăng năng suất lao động, hiệu quả kinh tế. Do đó, đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ tay nghề cao. Điều này kéo theo lực lượng GV thực hiện GDHN cho HS ở trường THPT phải được bồi dưỡng trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm nhằm góp phần nâng cao chất lượng NNL. Tình hình này đã tác động đến sự phát triển ĐNGV thực hiện GDHN cho HS THPT. Cần lưu ý, quá trình phát triển ĐNGV thực hiện GDHN cho HS THPT phải đảm bảo cả ba tiêu chí: số lượng, cơ cấu và trình độ đào tạo, nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao chất lượng giáo dục.

2.1.4. Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý giáo dục và đào tạo

Cơ chế, chính sách quản lý của ngành GD&ĐT có ảnh hưởng đến phát triển ĐNGV thực hiện GDHN. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện không đầy đủ, thiếu đồng bộ, còn chồng chéo, thiếu kịp thời... nên đã ảnh hưởng đến phát triển ĐNGV thực hiện GDHN ở các trường THPT.

Từ thực tiễn hoạt động dạy học, giáo dục những năm học gần đây, ngành GD&ĐT tại nhiều địa phương quan tâm tuyển chọn GV có tiềm năng hoạt động GDHN, đề cử tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ. Tuy nhiên, chính sách đãi ngộ đối với GV tham gia GDHN chưa tương xứng, nên chưa tạo được động lực để GV an tâm công tác, gắn bó với môn học mới này. Qua đây có thể kết luận, cơ chế chính sách quản lý giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng đã ảnh hướng đến phát triển ĐNGV thực hiện GDHN cho HS THPT.

2.1.5. Thị trường lao động, dự báo ngành nghề và nhu cầu lao động

Hoạt động GDHN gắn với nhu cầu thị trường lao động là xu hướng tất yếu trong công tác cơ chế thị trường nhằm mang lại lợi ích cho cơ sở giáo dục, người học và thị trường lao động. GDHN không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nền kinh tế mà còn giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu KT-XH của địa phương. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin, dự báo về thị trường lao động ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện GDHN cho HS. Nếu việc cập nhật thông tin một cách đầy đủ, chính xác thì hoạt động GDHN sẽ đảm bảo tính hiệu quả và thực tiễn cao, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường lao động. Tuy nhiên, nếu các thông tin thiếu tính chính xác, dự báo nhu cầu thị trường không đảm bảo tính khoa học thì việc tổ chức thực hiện GDHN cho HS sẽ thiếu tính định hướng, đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng thừa thiếu lao động cục bộ đang diễn ra hiện nay.

2.1.6. Định hướng, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và thông tin nghề nghiệp

Quảng cáo

Nhân lực có vai trò quyết định không chỉ cho sự phát triển KT-XH mà còn góp phần không nhỏ vào việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trong bối cảnh tác động của CMCN 4.0, hội nhập quốc tế ngày càng sâu của nước ta. Trong đó việc chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng hiện đại, sự xuất hiện những ngành, nghề, công việc mới... đang đặt ra những thách thức đối với chất lượng nguồn nhân lực nhằm đảm bảo một cơ cấu lao động được phân bố hợp lý và chất lượng cao. Các nguồn thông tin về ngành nghề, lao động, tình hình phát triển KT-XH và các định hướng phát triển nguồn nhân lực… và ĐNGV thực hiện GDHN cho HS có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Nếu thông tin không chính xác, không đảm bảo tính hệ thống và khoa học; hoạt động truyền thông về nguồn không được phổ biến sâu rộng thì công tác thực hiện GDHN cho HS sẽ không hiệu quả và không đáp ứng đúng yêu cầu thị trường lao động đặt ra. Vì vậy, việc xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và thông tin nghề nghiệp là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác thực hiện GDHN cho HS.

2.2. Yếu tố chủ quan

2.2.1. Uy tín, thương hiệu của cơ sở giáo dục

Uy tín, thương hiệu được các nhà trường quan tâm xây dựng. Uy tín càng lớn, mạnh càng thu hút GV, đặc biệt là GV có năng lực và tâm huyết cống hiến, theo đó, công tác phát triển ĐNGV cũng thuận lợi. Tâm tư chung của tất cả nhà giáo đều mong muốn công tác trong một tổ chức có uy tín, thương hiệu, được xã hội công nhận và nhiều người biết đến, đồng thời bản thân GV cũng lo sợ khi phải rời khỏi tổ chức đó nếu không đáp ứng yêu cầu.

Uy tín và thương hiệu nhà trường sẽ giúp nhà trường có ưu thế trong công tác tuyển sinh góp phần tăng thêm việc làm, thu nhập và các chính sách đãi ngộ GV được thực hiện tốt hơn. Uy tín và thương hiệu nhà trường vừa là động lực vừa là kỳ vọng khiến GV gắn bó với nhà trường, hết lòng, hết sức xây dựng nhà trường, là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng nhất định đến công tác phát triển ĐNGV của trường.

2.2.2. Môi trường sư phạm

Trong hoạt động giáo dục, môi trường sư phạm là môi trường chứa đựng những khuôn mẫu hình thành, phát triển nhân cách con người; tạo động lực thúc đẩy mọi tổ chức, cá nhân rèn luyện, phấn đấu góp phần xây dựng nhà trường phát triển vững mạnh toàn diện.

Xây dựng môi trường sư phạm là nội dung quan trọng, giúp các nhà lãnh đạo, quản lý hình thành lối sống, nếp sống chuẩn mực, là yếu tố nền tảng xây dựng văn hoá học đường, đồng thời phản ánh nền nếp kỷ cương, nếp sinh hoạt văn minh, giao tiếp lịch lãm của CBQL, GV và HS của nhà trường.

Từ đó cho thấy, môi trường sư phạm nhà trường tác động đến tình cảm, lí trí và hành vi của các thành viên trong nhà trường, và quan trọng hơn môi trường sư phạm cũng gây ảnh hưởng đến sự phát triển ĐNGV của nhà trường. Nói cách khác, bầu không khí làm việc trong nhà trường thân thiện, tích cực sẽ gắn kết các thành viên, thúc đẩy mọi hoạt động trong nhà trường, nhất là phát triển ĐNGV.

2.2.3. Phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường

Những năm gần đây, nhận thức được vai trò của cán bộ QLGD, toàn ngành đã rất quan tâm xây dựng đội ngũ này. Đội ngũ cán bộ QLGD có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý nhà trường nói chung, phát triển ĐNGV nói riêng. Để nâng cao chất lượng ĐNGV, tạo môi trường giáo dục tích cực, CBQL giáo dục nhà trường là những người đầu đàn, nòng cốt trong các hoạt động, nắm chắc và hiểu sâu sắc điều kiện nhà trường, mục tiêu, chương trình, nội dung giảng dạy, đổi mới phương pháp giáo dục, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động giáo dục có hiệu quả, là trung tâm của sự đoàn kết, thu hút ĐNGV, được đồng nghiệp đánh giá cao. Trách nhiệm chính của việc phát triển ĐNGV thuộc về cán bộ QLGD. Do vậy, đội ngũ cán bộ QLGD có tác động lớn đến phát triển ĐNGV các nhà trường.

2.2.4. Nhận thức về GDHN của ĐNGV tại các cơ sở giáo dục

Nhận thức của cộng đồng về “GDHN theo định hướng phát triển nhân lực” cũng được xem như một yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện GDHN và quản lý thực hiện GDHN. Theo Nguyễn Văn Lê, toàn xã hội, các ngành, các cấp cần có nhận thức rõ ràng về vai trò của NNL đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Mục tiêu đào tạo nhân lực phải là mục tiêu hàng đầu trong hệ thống mục tiêu của giáo dục và đào tạo. Nói cách khác, mọi gia đình, mọi cá nhân phải thấy được sự cần thiết và lợi ích của việc đánh giá đúng hoàn cảnh kinh tế, khả năng học tập của bản thân mà lựa chọn con đường học tập cho phù hợp. Cần làm cho toàn xã hội thấy rằng việc HN cho HS đi vào các hướng khác nhau là bình thường và hợp lý.

Ngoài ra, ở Việt Nam còn xuất hiện tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” do tâm lý trọng sự học và trọng bằng cấp đã ăn sâu trong văn hóa Việt Nam, xã hội thường trọng người “có chữ”, “có học”, thang đo giá trị con người là bằng cấp. Do đó, cán bộ quản lý giáo dục cần chỉ đạo giáo dục HS thay đổi dần nhận thức về nghề nghiệp, không có nghề nào là thấp kém, nghề nào cũng vinh quang, cũng giúp HS cống hiến cho sự phát triển của đất nước, gia đình và bản thân mình. Từ đó, cần xóa bỏ quan niệm “ĐH là con đường thành công duy nhất” để mạnh dạn theo học nghề và làm những nghề phù hợp với sở thích, năng lực và nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định.

Nhận thức của ĐNGV, nhân viên trong trường cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của thực hiện GDHN vì cần xem đây là nhiệm vụ của cả hội đồng sư phạm nhà trường chứ không phải của bất cứ cá nhân nào hoặc không phải của riêng Ban GDHN (nếu trường có thành lập). Sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ xuyên suốt, nhịp nhàng giữa các bộ phận, cá nhân trong trường THPT chính là một điểm cộng giúp cho việc thực hiện GDHN hiệu quả hơn, đặc biệt trong việc truyền lửa yêu lao động và giúp các em có thái độ đúng đắn đối với lao động.

2.2.5. Nhận thức của cha mẹ học sinh và xã hội về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

Việc QL hoạt động GDHN giúp HS THCS định hướng được NN trong tương lai một cách toàn diện là một quá trình lâu dài và liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan đến các mối quan hệ xã hội. Vì vậy QL hoạt động GDHN luôn đòi hỏi sự phối hợp, liên kết chặt chẽ của nhiều lực lượng xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm đúng cách của nhà trường, gia đình và các lực lượng trong xã hội, đặc biệt là chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nhằm giúp HS định hướng tốt hơn về NN và nhu cầu thị trường lao động. Gia đình và xã hội có những tác động tích cực cũng như tiêu cực vào nhận thức của HS, yếu tố này nếu thực hiện tốt sẽ khuyến khích, thúc đẩy các em chủ động tham gia tích cực vào hoạt động GDHN nhưng ngược lại cũng có thể gây cho các em tâm trạng nghi ngờ, dao động trong việc lựa chọn, định hướng NN khi thiếu sự phối hợp đúng đắn, thiếu sự thống nhất về tác động QLGD giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Do đó, sự thống nhất về tác động QL hoạt động GDHN từ nhà trường, gia đình và xã hội, nhận thức đúng đắn của các lực lượng này được xem là nhân tố đảm bảo cho hoạt động QL hoạt động GDHN trong trường THCS thành công. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội có thể diễn ra dưới nhiều hình thức. Vấn đề cơ bản hàng đầu là tất cả các lực lượng QLGD phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tạo ra những mối quan hệ phối hợp vì mục tiêu QL hoạt động GDHN. Như vậy, có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến QL hoạt động GDHN cho HS THCS. Mỗi yếu tố đều có sự ảnh hưởng nhất định, việc phân tích, dự báo để xác định mặt tích cực trong các yếu tố tác động đến hoạt động GDHN của các CBQL GD là hết sức quan trọng. Sự phân tích phải mang tính khách quan, có hệ thống, đảm bảo tối ưu nhất để sự ảnh hưởng có tính tích cực nhất đến QL hoạt động GDHN cho HS trong nhà trường.

3. Kết luận

Qua nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ĐNGV thực hiện GDHN cho HS các trường THPT vùng ĐBSCL cho thấy việc phát triển ĐNGV thực hiện GDHN chưa được các Ban, ngành, Sở, trường quan tâm, chú trọng đúng mức. Cán bộ, GV được phân công thực hiện GDHN các trường hầu hết chưa xây dựng kế hoạch cho công tác này, nhiều cán bộ, GV được phân công thực hiện GDHN chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về tầm quan trọng của GDHN. Kết quả khảo sát sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng để nhà trường có những định hướng nhằm nâng cao nhận thức cho HS về những đặc điểm, lợi ích quan trọng của GDHN trong lựa chọn ngành nghề phù hợp, giúp các em tránh được sai lầm bởi sự định hướng của các nền tảng hướng nghiệp trên mạng xã hội hiện nay.

Tài liệu tham khảo

[1]. Ado, A. I. (2018). Career guidance, participation of students and its implication for Kano, Nigeria. MOJES: Malaysian Online Journal of Educational Sciences, 1(3), 14-19.

[2]. Bộ GD-ĐT (2018). Hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BgDđT ngày 26/12/2018 của' Bộ 'trưởng Bọ GD-ĐT).

[3]. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025”, Quyết định số 522/QĐ-TTg ngày 14 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ

[4]. Bùi Việt Phú (2009), Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa, Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục. Hà Nội.

[5]. C. Dimmock và A. Walker (2005), Educational Leadership: Culture and Diversity, SAGE Publications.

[6]. Dang, H. V., Nguyen, T. H., Pham, V. S., & Ho, T. T. Le. (2022). Factors Affecting Career Guidance and Counselling Activities for Middle School Students in the North Central Region of Vietnam. American Journal of Educational Research, 10(9), 553-559.

[7]. Gati I., Gadassi R., & Mashiah-Cohen, R. (2012). Career decision-making protĩles vs. styles: Convergent and incremental validĩty. Journal of VocationalBehavior, 81(1), 2-16. https://doi.org/10.1016/jjvb.2012.03.004

[8]. Gu, X., Tang, M., Chen, S, & Montgomery, M. L. T. (2020). Effects of a Career Course on Chinese High School Students'Career Decision-MakingReadiness. https://doi.org/10.1002/cdq. 12233

[9]. Maslow, A. H. (1943). A theory of human motivation. Psychological Review, 50(4), 370-396.

ThS.Trần Phú Hào Giám đốc TT GDNN-GDTX

huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

Cùng chuyên mục:

Xem thêm