Tóm tắt
Bài viết đi từ việc phân tích chính sách quốc tế, quốc gia và những điều kiện, phương thức thực hiện đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ khuyết tật nói chung (tập trung vào trẻ khuyế tật tiểu học); một vài con số thực tế để thấy được những cố gắng, nỗ lực giáo dục đã đạt được trong những năm qua và những thách thức trong thời gian tới. Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị và cách thức giải quyết giáo dục tiểu học bắt buộc cho nhóm trẻ khuyết tật đặc biệt nặng và nặng.
1. Các khái niệm và thuật ngữ
Trẻ em khuyết tật là trẻ em có những khiếm khuyết về cấu trúc, suy giảm về chức năng cơ thể dẫn tới những hạn chế trong các hoạt động cá nhân, xã hội và học tập. Đây là một trong những nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất trong xã hội vì những hạn chế trong tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục và thường bị phân biệt đối xử, không được tham gia các hoạt động xã hội (UNICEF, 2018). Tuy nhiên, càng ngày thì quyền của trẻ em khuyết tật, trong đó quyền được tiếp cận giáo dục đã ngày càng được các quốc gia ghi nhận và cam kết thực hiện. Năm 1989, Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em được 196 quốc gia phê chuẩn; trong đó Điều 23 của Công ước quy định “đảm bảo rằng trẻ em khuyết tật được nhận sự giáo dục, đào tạo, các dịch vụ y tế và dịch vụ phục hồi chức năng… theo cách thức có lợi cho việc trẻ em có thể hòa nhập tối đa vào xã hội…”.
Tiếp cận giáo dục bao gồm việc tuyển sinh đúng độ tuổi và sự tiến bộ theo lịch trình của người học ở độ tuổi thích hợp; tình trạng đi học thường xuyên; kết quả học tập phù hợp với các tiêu chí thành tích quốc gia; môi trường học tập đủ an toàn cho việc học; và các cơ hội học tập được phân bổ công bằng (Lewin, 2015: 29). Hiểu một cách cơ bản, quyền tiếp cận giáo dục là quyền được học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân - là một trong những quyền quan trọng và cơ bản của con người (Thanh Giang, 2022).
Công bằng trong giáo dục: Chỉ mức độ mà ở đó sự tiếp cận giáo dục và cơ hội học tập cho trẻ em và người lớn là công bằng và phù hợp. Điều này hàm ý giảm sự chênh lệch, khác biệt dựa trên giới tính, nghèo đói, cư trú, dân tộc, ngôn ngữ và các đặc điểm khác.
Giáo dục chuyên biệt: Là phương thức giáo dục tách biệt trẻ em có các dạng khuyết tật khác nhau vào các cơ sở giáo dục riêng. Đây là mô hình giáo dục xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục trẻ khuyết tật. Nó được thực hiện từ những năm đầu thế kỷ 11 tại các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha và một số nước châu Âu khác. Mỗi loại khuyết tật lại được chia thành những loại nặng nhẹ khác nhau (rất nặng, nặng, trung bình, nhẹ) được dạy trong những lớp học, những trường riêng theo những nội dung, phương pháp riêng tách biệt với hệ thống giáo dục quốc dân.
Giáo dục hòa nhập: Mô hình này lần đầu tiên xuất hiện ở một số nước châu Âu như Bắc Mỹ, New Zealand với ý tưởng tôn trọng giá trị và bình đẳng cho mọi người. Với mục tiêu giúp trẻ khuyết tật hòa nhập với cộng đồng, tư tưởng giáo dục hòa nhập sớm được cộng đồng quốc tế ủng hộ. Mô hình giáo dục hòa nhập tôn trọng tính đa dạng, nhu cầu và khả năng của mỗi trẻ khuyết tật. Trẻ được theo học trong các trường phổ thông ngay tại nơi sinh sống. Nội dung chương trình và phương pháp dạy học được điều chỉnh nhằm phát huy tối đa những khả năng của trẻ.
.jpg?md5=p7G7uY02bwnNvrfNTrnChg&expires=1784998181)
Lãnh đạo Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục thăm, tặng quà cho trẻ khuyết tật tại Hải Phòng
2. Các văn bản luật và dưới luật liên quan đến tiếp cận giáo dục cho trẻ em khuyết tật
Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách, chương trình nhằm thúc đẩy quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em khuyết tật. Chính phủ Việt Nam cam kết tạo mọi điều kiện cần thiết để mọi công dân, trong đó bao gồm cả trẻ khuyết tật, đều được bình đẳng về cơ hội học tập và Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Sau khi phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vào năm 1991. Đây được xem là văn bản pháp luật quốc gia đầu tiên của nước ta đề cập trực tiếp đến các quyền của trẻ em, trong đó có quyền được học tập của trẻ em khuyết tật như thể hiện trong Điều 6 của Luật “Trẻ em tàn tật, trẻ em có khuyết tật được Nhà nước và xã hội giúp đỡ trong việc điều trị, phục hồi chức năng để hòa nhập vào cuộc sống xã hội; được thu nhận và các trường, lớp đặc biệt”. Hiến pháp năm 1992 cũng lần đầu đề cập tới quyền học tập của trẻ em khuyết tật, cụ thể ở Điều 59 “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hóa và học nghề phù hợp”. Các văn bản pháp luật sau đó như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 2004), Luật Giáo dục (2009), Luật Người khuyết tật (2010), Luật Trẻ em (2016) lần lượt khẳng định và làm rõ hơn các quyền của trẻ em nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng. Cụ thể, Điều 13, Luật Giáo dục (2019) nhấn mạnh về quyền bình đẳng được tiếp cận giáo dục của mọi công dân và ưu tiên phân bổ nguồn lực như giáo viên, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và ngân sách cho các trường, lớp dạy học sinh khuyết tật. Năm 2010, Quốc hội thông qua Luật Người khuyết tật - đây là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo quyền bình đẳng và cơ hội giáo dục đầy đủ cho người khuyết tật ở Việt Nam. Những quy định cụ thể về giáo dục đối với người khuyết tật được nói rõ hơn trong các điều từ Điều 27 đến Điều 32 của Luật này. Căn cứ Luật Người khuyết tật năm 2010 và Luật Trẻ em năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1438/QĐ-TTg ngày 29 tháng 10 năm 2018 “Phê duyệt Đề án hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tại cộng đồng giai đoạn 2018 - 2025”. Ngày 28 tháng 05 năm 2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1463/QĐ-BGDĐT về ban hành kế hoạch thực hiện “Đề án hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tại cộng đồng giai đoạn 2018 - 2025”, bao gồm các nhiệm vụ liên quan tới khảo sát thực trạng và nghiên cứu các mô hình giáo dục phù hợp cho trẻ em khuyết tật tại Việt Nam; và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021 - 2030 trong đó phấn đấu đến năm 2030 xây dựng chương trình, sách giáo khoa cho trẻ em khuyết tật. Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành các văn bản quy định về các chính sách hỗ trợ tiếp cận giáo dục cho trẻ em khuyết tật như Nghị định số 86/2015/NĐ-CP và Nghị định số 81/2021/NĐ- CP có nội dung về miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho trẻ em khuyết tật... Có thể nói rằng, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống khung pháp lý, các quy định pháp luật, chính sách khá chặt chẽ bảo đảm và thúc đẩy quyền của trẻ em khuyết tật trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó giáo dục luôn được xem là quyền cơ bản và quan trọng (UNICEF, 2018).
3. Các chính sách giáo dục hòa nhập
3.1. Ưu tiên trong nhập học và tuyển sinh
Ưu tiên trong nhập học: Trẻ khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định chung là 3.
Ưu tiên trong tuyển sinh: Đối với cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông, trẻ khuyết tật được hưởng chế độ tuyển thẳng vào trung học phổ thông như đối với học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú và học sinh là người dân tộc ít người.
3.2. Chính sách khi tham gia các chương trình giáo dục
3.2.1. Miễn giảm một số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục.
Trẻ khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập: Người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định điều chỉnh, miễn, giảm, thay thế một số nội dung môn học hoặc một số môn học, hoạt động giáo dục cho phù hợp và được thể hiện trong kế hoạch giáo dục cá nhân.
Trẻ khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục chuyên biệt: Chương trình học phù hợp với từng dạng khuyết tật. Trường hợp trẻ không đáp ứng được chương trình thì người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định điều chỉnh, miễn, giảm, thay thế một số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục cho phù hợp và được thể hiện trong Kế hoạch giáo dục cá nhân.
3.2.2. Đánh giá kết quả học tập
Nguyên tắc đánh giá: Động viên, khuyến khích sự nỗ lực và tiến bộ của người học.
Đối với học sinh tiểu học:
+ Học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục hòa nhập: Đánh giá như đối với học sinh không khuyết tật có điều chỉnh yêu cầu hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
+ Học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục chuyên biệt: Đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
3.2.3. Xét lên lớp và cấp bằng tốt nghiệp
Đối với giáo dục phổ thông: Căn cứ kết quả học tập các môn học, hoạt động giáo dục của người khuyết tật trong từng chương trình giáo dục, người có thẩm quyền (người đứng đầu cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục) quyết định xác nhận hoặc cấp bằng tốt nghiệp hoàn thành chương trình tiểu học, cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
3.3. Chính sách ưu đãi đối với trẻ khuyết tật trong việc miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập
3.3.1. Đối tượng được miễn, giảm học phí
Đối tượng không phải đóng học phí:
Học sinh tiểu học.
Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên khuyết tật thuộc diện hộ nghèo hoặc cận nghèo.
Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo.
Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân.
3.3.2. Hỗ trợ chi phí học tập
Đối tượng: Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông mồ côi cả cha lẫn mẹ; Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông khuyết tật thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo; Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo.
Mức hỗ trợ: 100.000 đồng/học sinh/tháng để mua sách vở và đồ dùng khác.
Thời gian được hưởng: Theo thời gian học thực tế và không quá 09 tháng/năm học.
4. Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trẻ khuyết tật

Lãnh đạo Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục gặp gỡ động viên cán bộ, giáo viên Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật tại Hải Phòng
4.1. Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trực tiếp giảng dạy, quản lý trẻ khuyết tật theo phương thức giáo dục chuyên biệt
4.1.1. Đối tượng áp dụng
Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trực tiếp giảng dạy, quản lý trẻ khuyết tật theo phương thức giáo dục chuyên biệt trong cơ sở giáo dục chuyên biệt, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập;
Nhà giáo trực tiếp giảng dạy trẻ khuyết tật theo phương thức giáo dục chuyên biệt trong các cơ sở giáo dục khác.
4.1.2. Phụ cấp, trợ cấp được hưởng
Trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Hỗ trợ 100% tiền học phí, phụ cấp đi lại, nhà ở và hỗ trợ tiền mua tài liệu học tập cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác tại các trường chuyên biệt khi được cử đi học bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ.
Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của năm học được nhà nước cấp kinh phí tạo điều kiện đi tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm với các đơn vị trong nước mỗi năm ít nhất 1 lần..
4.1.3. Phụ cấp ưu đãi
Mức phụ cấp 70% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại trường, lớp dành cho trẻ khuyết tật.
4.1.4. Phụ cấp trách nhiệm và các chế độ khác
Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được hưởng hệ số phụ cấp trách nhiệm 0,3 so với mức lương cơ sở.
Chính sách đối với nhà giáo trực tiếp giảng dạy, quản lý trẻ khuyết tật theo phương thức giáo dục hòa nhập: Phụ cấp ưu đãi giảng dạy trẻ khuyết tật = Tiền lương 01 giờ dạy của giáo viên x 0,2 x Tổng số giờ thực tế giảng dạy ở lớp có trẻ khuyết tật.
Được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng đáp ứng nhu cầu về giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Được tính giảm định mức giờ chuẩn hoặc trợ cấp giảng dạy tùy theo điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục. Giáo viên, giảng viên có thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục hòa nhập được khen thưởng.
5. Thực trạng tiếp cận giáo dục của trẻ khuyết tật
Báo cáo kết quả điều tra cấp quốc gia về người khuyết tật của Tổng cục Thống kê (2018) cho thấy, trẻ em khuyết tật ít có cơ hội tiếp cận trường học so với trẻ em không khuyết tật và sự chênh lệch này càng tăng lên ở các cấp học cao hơn.
Bảng 1. Tỷ lệ trẻ em, thanh thiếu niên khuyết tật hòa nhập ở các cơ sở giáo dục phổ thông
|
HS phổ thông |
Tiểu học |
THCS |
THPT |
|||
|
Đúng độ tuổi (%) |
Tổng (%) |
Đúng độ tuổi (%) |
Tổng (%) |
Đúng độ tuổi (%) |
Tổng (%) |
|
|
Tổng học sinh |
95,59 |
99 |
88,01 |
93,78 |
68,01 |
75,17 |
|
HS khuyết tật |
81,69 |
88 |
67,43 |
74,68 |
33,56 |
39,35 |
|
HS không khuyết tật |
96,05 |
100 |
88,59 |
94,32 |
68,65 |
75,83 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2018)
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 nêu rõ, “Đến năm 2020, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở tiểu học là 99%, THCS là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT và tương đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học.”. Trong khi tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp tiểu học (97,3%) và THCS (92,1%) và trung học phổ thông (72%) của trẻ em và thanh thiếu niên không khuyết tật đang tiến rất gần với mục tiêu đặt ra thì con số này ở nhóm trẻ em và thanh thiếu niên có khuyết tật lại khá khiêm tốn.
So sánh tỷ lệ trẻ nam, nữ có khuyết tật tiếp cận với giáo dục cho thấy, không có sự khác biệt lớn ở cấp tiểu học. Tỷ lệ trẻ nữ có khuyết tật tiếp cận giáo dục giảm mạnh ở cấp THCS và THPT. Trẻ nữ có khuyết tật khó tiếp cận giáo dục ở các cấp học cao.
Trong số trẻ khuyết tật đang đi học, có tới 93,96% trẻ tham gia phương thức giáo dục hòa nhập; 6,04% trẻ tham gia phương thức giáo dục chuyên biệt. Số liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo thu được từ các Sở Giáo dục và Đào tạo hằng năm cho thấy: Từ năm 2015 đến năm 2020, trong khi số lượng trẻ khuyết tật tham gia học hòa nhập tăng đều từng năm thì số lượng trẻ khuyết tật học tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt khá ổn định.
Như vậy, có thể thấy rằng: Số trẻ khuyết tật đi học và đi học đúng độ tuổi ở tất cả các cấp học ít hơn nhiều so với trẻ em không khuyết tật. Tình trạng chênh lệch về cơ hội đến trường càng đáng lo ngại hơn ở các cấp học cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trẻ khuyết tật nặng, đặc biệt nặng, trẻ khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt hoặc sinh sống ở những khu vực khó khăn và trẻ khuyết tật nữ là đối tượng khó tiếp cận giáo dục hơn. Có sự chênh lệch rất lớn về tỷ lệ trẻ khuyết tật tham gia các phương thức giáo dục khác nhau. Đến cuối năm 2020, mục tiêu 70% trẻ khuyết tật được đi học chưa đạt được.
Các cơ sở giáo dục vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu học tập của trẻ khuyết tật trong thực tiễn. Theo báo cáo về hỗ trợ người khuyết tật trong giai đoạn 2012 - 2020, cả nước chỉ có khoảng 2,9% trường có thiết kế phù hợp với trẻ em khuyết tật, 8,1% cơ sở giáo dục có lối đi riêng biệt dành cho người khuyết tật. Nhiều trường vẫn không có đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị phù hợp để cung cấp dịch vụ giáo dục cho trẻ em khuyết tật; giáo viên dạy và hỗ trợ trẻ em khuyết tật còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng; các thiết bị trợ giúp và tài liệu dạy và học cho học sinh khuyết tật hầu như rất ít (UNICEF, 2018). Gần ¾ trường học trên khắp cả nước thiếu giáo viên giảng dạy học sinh khuyết tật, chỉ có 14,1% giáo viên bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở được đào tạo để dạy cho học sinh khuyết tật (UNICEF Việt Nam, 2021). Tính đến tháng 12/2020, Việt Nam đã hình thành hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục cấp tỉnh và cấp huyện ở 20 tỉnh/thành phố; đã có 17 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập cấp tỉnh, và cấp huyện, 7 trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật, 105 cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập. Trong số 105 trường chuyên biệt công lập dành cho trẻ khuyết tật, có tới 96 trường chuyên biệt cấp tiểu học, 3 trường chuyên biệt cấp THCS và chỉ có 03 trường liên cấp (cấp 1, cấp 2, cấp 3).
Về chương trình sách giáo khoa và học liệu dành cho trẻ khuyết tật, Báo cáo giám sát công tác giáo dục người khuyết tật của Ban Chỉ đạo giáo dục trẻ khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn chỉ rõ: 100% các cơ sở giáo dục công lập, có học sinh khuyết tật tham gia học tập, thiếu trang thiết bị và đồ dùng dạy học.
Về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên tham gia giáo dục trẻ khuyết tật, Luật Người khuyết tật 2010 chỉ rõ: Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục chủ yếu đối với người khuyết tật. Giáo dục bán hòa nhập và giáo dục chuyên biệt được thực hiện trong trường hợp chưa đủ điều kiện để người khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập. Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tham gia giáo dục người khuyết tật, nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng đáp ứng nhu cầu giáo dục người khuyết tật.
Cùng với sự hạn chế về cơ sở hạ tầng, phương tiện, học liệu dạy học; thiếu ngân sách công dành cho giáo dục trẻ khuyết tật, thì thiếu giáo viên, nhân viên, cán bộ được đào tạo đầy đủ về giáo dục đặc biệt được xác định là khó khăn chính cản trở việc tiếp cận và công bằng giáo dục của trẻ khuyết tật. Vì thế, có thể thấy rằng, nếu không có những biện pháp và chính sách kịp thời trong thời gian tới thì hiện trạng thiếu giáo viên, nhân viên có chuyên môn dạy trẻ khuyết tật, là một thực tiễn mà ngành Giáo dục cần phải đối mặt.
6. Khuyến nghị
-Nhà nước cần rà soát và hoàn thiện khung pháp luật phù hợp hơn với bối cảnh và đặc điểm của trẻ em khuyết tật ở nước ta. Ví dụ: Xây dựng và ban hành Thông tư về Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm hỗ trợ và phát triển giáo dục hòa nhập.
-Xây dựng bộ dữ liệu quốc gia và địa phương về trẻ em khuyết tật với các dạng tật, mức độ khuyết tật, khả năng học tập... một cách có hệ thống làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách, chương trình hỗ trợ phù hợp hơn cho từng nhóm khuyết tật, từng địa phương và từng giai đoạn.
-Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cho giáo dục học sinh khuyết tật. Đảm bảo mọi sinh viên sư phạm đều được đào tạo các học phần cơ bản về giáo dục trẻ khuyết tật. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành mã ngành Đào tạo nhân viên Hỗ trợ giáo dục người khuyết tật, tuy nhiên, đây là mã ngành mới và hiện có ít cơ sở giáo dục tuyển sinh mã ngành này, vì thế, nhà nước cần có chế tài cụ thể để có thể cung cấp được nguồn nhân lực trong lĩnh vực này trong thời gian sớm nhất.
-Nâng cao nhận thức của gia đình và trẻ em khuyết tật về tầm quan trọng của giáo dục. Đặc biệt, các địa phương cần có chính sách, chương trình giúp trẻ em khuyết tật tăng tính tự tin và động lực đi học.
-Phối hợp với với Ủy ban nhân dân các tỉnh thúc đẩy thực hiện thống nhất chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo dạy người khuyết tật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng tinh thần Nghị định số 28/2012/NĐ-CP. Các địa phương và cơ sở giáo dục cần vận động và thu hút sự tham gia của các bên liên quan ở các cấp, lĩnh vực vào xây dựng và phát triển môi trường giáo dục thuận lợi và hiệu quả cho trẻ em khuyết tật.
-Riêng đối với việc đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục tiểu học bắt buộc cho học sinh khuyết tật: 1) Tập trung vào nhóm trẻ khuyết tật nặng: Cần có mục tiêu khác biệt cho nhóm trẻ này và có chương trình chuyên biệt, cũng như tổ chức học tập theo nhóm nhỏ tại nhà, cộng đồng hoặc trường tiểu học chuyên biệt. 2) Nhà nước, địa phương cần có ngân sách riêng để hỗ trợ nhóm trẻ này.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Báo cáo quốc gia về giáo dục cho mọi người 2015.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022), Báo cáo phân tích ngành Giáo dục.
3. Nguyễn Thị Hoàng Yến và Đào Thị Bích Thủy (2016), “Giáo dục hòa nhập Việt Nam: Đánh giá từ việc thực thi chính sách”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội, tr. 139 - 147.
4. Thanh Giang (2022), “Thúc đẩy quyền tiếp cận giáo dục”, Tạp chí Tuyên giáo (tuyengiao.vn)
5. Tổng cục Thống kê (2018), Điều tra quốc gia người khuyết tật năm 2016, NXB Thống kê, Hà Nội.
6. UNICEF (2018), Trẻ em khuyết tật ở Việt Nam: Kết quả điều tra quốc gia về người khuyết tật Việt Nam 2016 - 2017, Tổng cục Thống kê.
7. UNICEF Việt Nam (2021), “Mọi trẻ em đều có quyền tới trường và đi học”, www. unicef.org/vietnam/
8. Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam (2019), Báo cáo kết quả công tác về người khuyết tật năm 2019 - Phương hướng, nhiệm vụ năm 2020.
9. Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam (2020), Báo cáo kết quả thực hiện Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020 (Đề án 1019).