Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp mới bắt đầu. Đảng ta mới trở thành đảng cầm quyền hơn hai năm. Sự nghiệp cách mạng đang đứng trước nhiều thử thách. Thực tiễn đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền non trẻ, trong hàng ngũ cán bộ cách mạng đã bộc lộ những khuyết điểm, sai sót trong phương thức, lề lối làm việc, nếu chậm khắc phục sẽ ảnh hưởng tới uy tín của Đảng và sự nghiệp cách mạng.
Nhằm vạch ra những sai lầm khuyết điểm, hạn chế, đồng thời kịp thời chấn chỉnh lại nhận thức tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận, chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm này.
“Sửa đổi lối làm việc” là một tác phẩm rất quan trọng, nội dung tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề lớn, vừa có tính lý luận, tính nguyên tắc, vừa có tính chỉ đạo thực tiễn sâu sắc về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhằm xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân và ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ. Một trong những nội dung được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong tác phẩm đó là việc nêu cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước nhân dân, điều này liên quan rất mật thiết với việc nêu cao tinh thần dám nghĩ, dám làm hiện nay của cán bộ, đảng viên hiện nay.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[1], “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”.[2] “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”[3]
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”[4]; Kết luận của Hội nghị Trung ương 9 khóa X một lần nữa khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”[5]. Hội nghị Trung ương 7 khóa XII khi bàn về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, tiếp tục khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Thực tiễn sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh rất rõ vấn đề này.
Vai trò của cán bộ được thể hiện thông qua những mối quan hệ chủ yếu sau:
Một là, trong quan hệ với đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật (bao gồm Cương lĩnh, Chiến lược, nghị quyết của Đảng; Hiến pháp, các chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ trương, nghị quyết, kế hoạch công tác của cấp ủy và cơ quan chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị...), cán bộ là người tham gia xây dựng, hoàn thiện và giữ vai trò quyết định trong tổ chức thực hiện.
Hai là, trong quan hệ với công việc, cán bộ là người tổ chức thực hiện công việc; trực tiếp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình công tác; nêu gương về chất lượng, hiệu quả thực hiện công việc.
Ba là, trong quan hệ với tổ chức (bao gồm cấp ủy, tổ chức đảng; tập thể lãnh đạo chính quyền, chuyên môn, cơ quan, đơn vị, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội...), cán bộ là thành viên chủ chốt của tổ chức, đồng thời là người tham gia vào việc sắp xếp, kiện toàn và nâng cao chất lượng của tổ chức.
Bốn là, trong quan hệ với nhân dân, cán bộ là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước, các tổ chức với nhân dân; là người làm công tác tư tưởng và công tác dân vận.

Ảnh: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đã cho thấy, có những thời điểm Đảng ta rơi vào tình thế khó khăn, hiểm nguy, thậm chí là “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng cuối cùng Đảng ta vẫn vươn lên và vượt qua những tình thế đó, lãnh đạo nhân dân ta dành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những thắng lợi đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, lý do khác nhau, trong đó có nguyên nhân đến từ những cống hiến, đóng góp của đội ngũ cán bộ, đảng viên, những con người dám dẫn thân, đương đầu với những hiểm nguy, thậm chí đánh đổi bằng chính cả mạng sống của mình để dành được độc lập cho dân tộc. Những người dám nghĩ, dám làm quả thật là những người đi ở tuyến đầu và dẫn dắt, là những người đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Chúng ta phải thừa nhận một điều rằng, nếu không có những người dám nghĩ, dám làm thì làm sao chúng ta có cách mạng. Cách mạng sinh ra dám lật đổ một chế độ, một bộ máy khổng lồ của phong kiến, đế quốc. Đó có phải là những người dám nghĩ, dám làm không? Rõ ràng trước hết đó là những người dám nghĩ, dám làm, dám dẫn thân và đánh đổi bằng chính mạng sống của họ, nếu không có những người như họ thì làm sao chúng ta có được đất nước như ngày hôm nay.
Tuy nhiên, trong đội ngũ cán bộ cán bộ hiện nay đã và đang xuất hiện tình trạng một bộ phận cán bộ không dám nghĩ, dám làm, sợ sai, né tránh, đùn đẩy công việc, trách nhiệm, thậm chí cái gì có lợi cho mình thì vơ vào, cái gì khó khăn thì đẩy cho tổ chức, cho người dân, doanh nghiệp. Nếu nhìn nhận ở góc độ đạo đức của người cán bộ, đảng viên, rõ ràng đây chính là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, là một loại “tự diễn biến”, điều này làm cản trở rất lớn đến sự phát triển chung của xã hội. Vậy, lý do tại sao lại xuất hiện tình trạng này, lý giải một cách cặn kẽ cho thực trạng này chúng ta có thể nhìn thấy 4 nguyên nhân lớn.
Thứ nhất, hiện nay một bộ phận không nhỏ cán bộ không đáp ứng được yêu cầu của công việc, do thiếu hiểu biết về chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, nên không biết đâu là đúng, đâu là sai nên sợ sai dẫn đến không làm. Trong số này, có một bộ phận mặc dù năng lực, trình độ yếu kém nhưng lại được cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm nhờ có mối quan hệ thân quen, thậm chí là chạy chức, chạy quyền dẫn đến “ngồi nhầm ghế” và không làm được việc.
Thứ hai, dường như có một thói quen đã xuất hiện từ lâu trong tâm lý của một bộ phận cán bộ, đó là phải có lợi ích mới làm, nếu không có lợi ích thì không làm. Những người này chọn cách tham mưu cầm chừng, làm cầm chừng hoặc không làm, thậm chí còn đòi “hoa hồng”, “bôi trơn” mới chịu làm.
Thứ ba, do cách đối đãi đối với cán bộ hiện nay chưa đúng, chưa minh bạch, không dân chủ, khách quan, tạo nên sự bất bình đẳng cho đội ngũ cán bộ. Cách đối đãi ở đây chúng ta có thể nhìn nhận ở hai góc độ, thứ nhất là về mặt tinh thần, thứ hai là về mặt vật chất.
Về tinh thần, trong lịch sử đã có những người tiên phong đi trước đã phải chịu thiệt thòi về mình. Có những cán bộ đưa ra ý tưởng, cách làm mới, tiên phong và được thừa nhận nhưng cũng có những người không được thừa nhận, mà mãi về sau này mới trở thành cái tất yếu. Họ là những người đã hy sinh cho “chân lý chưa đến”. Như đã nói ở trên, những người dám nghĩ, dám làm là những người tiên phong, những người đi ở tuyến đầu, những người cực kỳ quan trọng, nếu không có họ thì làm sao có cách mạng, không có cách mạng chúng ta sẽ không có đất nước như ngày hôm nay. Với tinh thần đó, với những người dám nghĩ, dám làm ngày hôm nay, chúng ta cũng cần phải trân trọng họ như vậy.
Về vật chất, ở đây chính là chính sách đãi ngộ về tiền lương, cán bộ, công chức, viên chức là nhóm đối tượng thuộc hệ thống các cơ quan quyền lực có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội do vị trí việc làm và tính chất lao động đặc thù của loại lao động này quy định. Tuy nhiên, hiện nay tiền lương dành để chi trả cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhìn chung vẫn chưa thỏa đáng, chưa thật sự tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ phát huy hết khả năng, dành hết tâm, sức cho công việc. Thu nhập từ việc làm hay tiền lương là một trong những yếu tố quan trọng nhất nhằm tạo động lực và khuyến khích người lao động làm việc. Đáng chú ý, hiện nay còn tình trạng chênh lệch thu nhập tiền lương giữa các nhóm ngành nghề trong khu vực nhà nước, giữa khu vực nhà nước với khu vực tư nhân, giữa một bộ phận cán bộ trong hệ thống với nhau, vẫn còn tình trạng đặc quyền, đặc lợi…từ đây dẫn đến tâm lý cào bằng, làm cầm chừng, thậm chí không muốn làm hết sức.
Thứ tư, lý do đến từ thể chế chưa đồng bộ, còn có sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật hiện hành, dẫn đến khó áp dụng, thực hiện trong thực tế
Thực tế cho thấy pháp luật của chúng ta ngày càng được quan tâm và đổi mới, tuy nhiên so với đòi hỏi của thực tiễn thì pháp luật, quy định hiện hành vẫn chưa theo kịp. Thời gian qua, cùng với việc Đảng ta đang rất quyết tâm làm trong sạch bộ máy, hàng loạt cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương để xảy ra sai phạm, bị xử lý kỷ luật, thậm chí bị xử lý hình sự. Thực tế cho thấy, chính sách của chúng ta mặt nào đó vẫn chưa theo kịp so với đòi hỏi của thực tiễn nên quá trình vận hành chính sách chắc chắn sẽ nảy sinh những khó khăn, bất cập. Điều này là nguyên nhân chính dẫn đến tâm lý “co mình” lại, sợ sai không dám làm ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Thậm chí có bộ phận cho rằng “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn phải đứng trước hội đồng xét xử”
Thực trạng này sẽ dẫn đến những hậu quả như đã thấy: Thứ nhất, việc cải cách, đổi mới không được thúc đẩy, làm chậm quá trình triển khai thực hiện các công việc, nhất là các công việc cần sự khẩn trương, kịp thời, làm chậm sự phát triển xã hội. Chính điều này sẽ không tạo môi trường cho những tư duy mang tính đột phá xuất hiện. Thứ hai, điều này sẽ là mảnh đất màu mỡ cho sự hình thành một tâm lý chờ đợi, đùn đẩy, nhìn nhau khiến cho bầu không khí làm việc trì trệ. Tình trạng an toàn để “giữ ghế”, tâm lý co cụm, làm việc cầm chừng. Như vậy, chắc chắn năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ sẽ không được thể hiện một cách toàn diện, trong khi đó người dân và doanh nghiệp lại rất khó khăn.
Trong bối cảnh hiện nay, để thực hiện thành công đường lối đổi mới và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Từ rất sớm, khi nói về vấn đề khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến nhiều giải pháp, nhất là trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
Một là, phải giáo dục cho cán bộ để cán bộ hiểu được bổn phận, trách nhiệm của mình đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân từ đó tự giác thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra vấn đề này đối với cán bộ, đảng viên rằng: “Nếu chúng ta hỏi cán bộ: Việc đó, làm cho ai? Đối với ai mà phụ trách? chắc chắn cán bộ sẽ trả lời: “Làm cho Chính phủ hoặc Đảng, phụ trách trước cấp trên”. Câu trả lời đó chỉ đúng một nửa. Nếu chúng ta lại hỏi: “Chính phủ và Đảng vì ai mà làm việc đó? Và phụ trách với ai?” thì e nhiều cán bộ không trả lời được. Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”[6].
Đó là một lẽ rất giản đơn, rõ ràng. Nhưng nhiều cán bộ chưa hiểu, cho nên trong lúc làm việc, thường sai lầm; đến nỗi chia cán bộ Chính phủ và Đảng ra làm một phía, quần chúng ra một phía. Chính phủ và Đảng chẳng những làm những việc trực tiếp lợi cho nhân dân, mà cũng có khi làm những việc mới xem qua như là hại đến nhân dân.
Vì cán bộ và đảng viên không hiểu rõ hai lẽ: vì ai mà làm, đối ai phụ trách, khi gặp mỗi công việc không biết tìm đủ cách giải thích cho nhân dân hiểu, không làm cho nhân dân.
Hơn nữa, hiện nay, một bộ phận cán bộ còn mắc bệnh chủ quan, coi thường lý luận, không vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nên không biết đâu là đúng, đâu là sai vì vậy vậy dẫn đến tình trạng sợ sai, không dám làm. Về vấn đề này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”[7]. Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng đã và đang đặt ra nhiều mục tiêu chính trị rất lớn, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng ngày càng cao, khó khăn, có phần nặng nề và phức tạp, điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ và đảng viên phải nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn. Mặt khác, người còn nhấn mạnh: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”.[8] Nói tóm lại, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông. “Cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Cố nhiên việc hay hay dở, một phần do cán bộ đủ năng lực hay không”[9].
Hai là, quan tâm đến cách lãnh đạo, phải khéo dung cán bộ, từ đó phát huy tốt sự chủ động của cấp dưới, nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái của cán bộ, đảng viên.
Nếu cán bộ có ý hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức, hoặc công tác không hợp, chắc không thành công được. Vì vậy, muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc. “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Người lãnh đạo muốn biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của mình, muốn biết công tác của mình tốt hay xấu, không gì bằng khuyên cán bộ mình mạnh bạo đề ra ý kiến và phê bình”.[10]
Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hoá ra oán ghét, chán nản. Như vậy, sẽ không thể đòi hỏi cán bộ công tác tốt được.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ các cấp trong bộ máy của chúng ta ở nhiều nơi vẫn còn nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại, không dám quyết, không dám làm, tính năng động, sáng tạo còn hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do cách lãnh đạo chưa đúng. Vấn đề dân chủ thực hiện chưa tốt, thậm chí có nơi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền còn để xảy ra tình trạng vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Những vấn đề đã quyết định rồi, thả cho họ làm, khuyên gắng họ cứ cả gan mà làm. Cũng như trong quân đội, khi chiến lược chiến thuật và nhiệm vụ đã quyết định rồi, vị Tổng tư lệnh không cần nhúng vào những vấn đề lặt vặt. Phải để cho các cấp chỉ huy có quyền "tuỳ cơ ứng biến", mới có thể phát triển tài năng của họ. Việc gì cấp trên cũng nhúng vào, cán bộ cũng như một cái máy, việc gì cũng chờ mệnh lệnh, sinh ra ỷ lại, mất hết sáng kiến”.[11] “Cách lãnh đạo của ta không được dân chủ, cách công tác của ta không được tích cực. Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế. Đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”.[12] Từ đó, dẫn đến tình trạng cấp trên và cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, trên thì tưởng bên dưới cái gì cũng tốt, cũng đẹp, dưới thì có gì cũng không giám nói ra. Không dám nói ra ở đây không phải vì họ không biết, không có ý kiến, mà vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là khác. Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói "không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng", trong tổ chức không nói, nhưng ra ngoài tổ chức lại nói, thói "thậm thà thậm thụt" và những thói xấu khác cũng từ đó mà ra.
Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái, “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”.[13]
Ba là, phải quan tâm, giúp đỡ cán bộ, đỗi đãi với cán bộ cho đúng.
Cách đối với cán bộ là một điều trọng yếu trong sự tổ chức công việc. Cách đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc: Vấn đề cán bộ quyết định mọi việc.
Những người dám nghĩ, dám làm là những đi tiên phong, đi ở tuyến đầu, họ dám đối đầu với những khó khăn, thách thức, là những người dám dẫn thân, nếu không có họ thì làm sao có cách mạng và những thành quả như hôm nay. Chính vì thế, với tinh thần đó, ngày hôm nay, chúng ta cũng cần phải trân trọng họ như vậy. Có như vậy, chúng ta mới phát huy được tinh thần dám nghĩ, dám làm, mới bỏ được tình trạng “Cái không hợp cũng không dám sửa bỏ, cái cần thiết cũng không dám đặt mới”[14].
Mặt khác, đối với những người mắc sai lầm Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ bị sai lầm, ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế, mà công kích họ. Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế, sẽ có hại đến công việc thế nào? Làm thế nào mà sửa chữa? Tóm lại, phải phê bình cho đúng”[15]. Sự sửa đổi khuyết điểm, một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó. Nhưng một phần cũng là trách nhiệm của người lãnh đạo.
Về vấn đề đối đãi vật chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Khi họ đau ốm, phải có thuốc thang. Tùy theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng”. Việc giúp đỡ cán bộ nâng cao đời sống, để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc mà tổ chức giao, đây là công việc phải được quan tâm đầu tiên. Một khi tiền lương, phụ cấp cho cán bộ chưa đáp ứng được đời sống cho cán bộ, gia đình cán bộ thì lúc đó họ còn phải suy nghĩ, họ còn bị chi phối, thậm chí đây còn là nguyên nhân dẫn đến những tiêu cực trong quá trình thực thi công vụ.
Thứ tư, cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu cao tinh thần phụ trách trước Đảng và Nhân dân.
Như đã nói ở trên, một trong những lý do dẫn đến tình trạng không dám nghĩ, dám làm của một bộ phận cán bộ hiện nay là do vướng mắc, chồng chéo về thể chế, để góp phần khắc phục vấn đề này, mỗi cán bộ đảng viên cũng cần phải mạnh dạn đề xuất ý kiến, thay đổi cách làm sao cho phù hợp với thực tế, mang lại hiệu quả trong quá trình tổ chức, thực hiện. “Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng, vì cần cho quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp lý với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc. Đằng này cán bộ ta chỉ biết khư khư giữ nếp cũ. Cái không hợp cũng không dám sửa bỏ, cái cần thiết cũng không dám đặt mới. Đó là vì thói không phụ trách "quá hữu", gặp sao hay vậy. Song lại có thái độ xa quần chúng, thói không phụ trách "quá tả" là không suy nghĩ chín chắn, so sánh kỹ càng, hôm nay đặt ra cái này, hôm sau sửa lại cái khác, làm cho quần chúng hoang mang”[16].
Trong tình hình hiện nay, cần phải có những cách làm thiết thực, hiệu quả để khắc phục tình trạng trên, ngoài việc tiến hành sơ kết, tổng kết, xem xét báo cáo của cấp dưới, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền cấp trên cần đẩy mạnh hoạt động đối thoại, tiếp xúc trực tiếp đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân cấp dưới, nhất là cấp cơ sở để nắm bắt thông tin, kịp thời đưa ra những chủ trương, chính sách, cách làm hiệu quả, khắc phục tình trạng cấp trên cách biệt cấp dưới, đảng viên, cán bộ cách biệt tổ chức.
Với tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết luận: “Đảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang. Nhưng, nếu mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, thì thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa. Cán bộ, đảng viên làm việc không đúng, không khéo thì còn nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm nhiều thì thành tích ít. Khuyết điểm ít thì thành tích nhiều. Đó là lẽ tất nhiên. Vì vậy, ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng giống như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy cơ đến tính mệnh”[17]./.
[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2011, tr.309.
[2] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.280.
[3] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.309.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.CTQGST, H.2015, tập 56, tr.332.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.CTQGST, H.2018, tập 68, tr.224.
[6] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.285.
[7] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.274.
[8] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.274.
[9] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.320.
[10] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.319.
[11] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.320.
[12] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.283.
[13] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.284.
[14] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.286.
[15] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.323.
[16] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.286.
[17] Sđd, tập 5, Nxb CTQGST, H.2011, tr.272.