Đinh Trần Kim Ngân
Nghiên cứu sinh khoa 6, Trường Đại học Đồng Tháp
Nguyễn Thị Ngọc Trinh
Giảng viên, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
Email: [email protected], SĐT: 0907920691
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc dạy học tiếng Anh chuyên ngành ở bậc đại học trở thành nhu cầu tất yếu, vừa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa là cầu nối quan trọng về kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam và thế giới. Bài viết này tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành, qua đó cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng mô hình tiếp cận CIPO (Context – Input – Process – Output) trong giảng dạy. Kết quả tổng quan góp phần định hướng cho các nghiên cứu chuyên sâu, đồng thời gợi mở giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành trong các cơ sở giáo dục đại học.
Từ khóa: tiếng Anh chuyên ngành, hội nhập quốc tế, phát triển giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực.
Nhận bài: 17/9/2025; Biên tập: 18/9/2025; Duyệt đăng: 18/9/2025
NỘI DUNG BÀI VIẾT
- Đặt vấn đề
Dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là một yếu tố cực kì quan trọng trong tiến trình mở cửa hội, nhập khu vực, quốc tế, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, ngoại ngữ trở thành công cụ then chốt giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực và thúc đẩy giao lưu, hợp tác quốc tế. Tiếng Anh chuyên ngành không chỉ trang bị cho người học vốn kiến thức ngôn ngữ thông thường mà còn cung cấp năng lực sử dụng tiếng Anh trong bối cảnh nghề nghiệp cụ thể. Đối với sinh viên đại học, đặc biệt trong các lĩnh vực kỹ thuật, kinh tế, du lịch, dịch vụ, năng lực tiếng Anh chuyên ngành là điều kiện để tiếp cận tri thức, công nghệ mới, thực hiện nghiên cứu khoa học và nâng cao cơ hội việc làm. Dạy học tiếng Anh chuyên ngành là một quá trình kết hợp dạy ngoại ngữ, kiến thức môn học, chuyên ngành với nghề nghiệp tương lai và trong đời sống xã hội. Việc dạy học ngoại ngữ chuyên ngành ở bậc đại học trở thành nhu cầu tất yếu, khách quan, là chiếc cầu nối kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam với thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa. Điều này đã được thể hiện rõ trong đề án Dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017-2025 với mục tiêu đến năm 2025: “100% các ngành đào tạo chuyên ngoại ngữ thực hiện chương trình ngoại ngữ theo chuẩn đầu ra và ngành đào tạo. Các trường rà soát lại việc đào tạo ngoại ngữ theo chuyên ngành, đồng thời tiếp tục xây dựng ngoại ngữ chuyên ngành để có thể dạy các môn chuyên ngành bằng ngoại ngữ, chủ yếu bằng tiếng Anh”[1]. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, Chính phủ đã ban hành Quyết định 131/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2030 [2], và các quy định về chuẩn đầu ra ngoại ngữ đối với các chương trình đào tạo. Các văn bản này tạo hành lang pháp lý thúc đẩy việc dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh chuyên ngành nói riêng, đồng thời đặt ra yêu cầu cho các cơ sở đào tạo phải đổi mới quản lý, bảo đảm chất lượng và đáp ứng chuẩn đầu ra.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành
2.1.1. Nghiên cứu ngoài nước
Ở thế kỷ XIX, nhiều nhà ngôn ngữ học như Jean Manesca, Heinrich Gottfried (1803–1865), Henry Sweet (1845–1912), Otto Jespersen (1860–1943) và Harold Palmer (1877–1949) đã thiết lập những nguyên tắc, phương pháp dạy học ngôn ngữ dựa trên cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học và tâm lý học sư phạm. Các công trình này để lại nhiều tri thức quý giá, tạo tiền đề quan trọng cho thế hệ sau tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng trong giảng dạy.
Từ thế kỷ 20 đến nay, cùng với sự mở rộng quan hệ, giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế và tác động mạnh mẽ của Cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là Cách mạng công nghiệp 4.0, nhiều mô hình dạy học đa dạng đã ra đời như: dạy học dựa vào chuẩn đầu ra (OBE), dạy học dựa vào năng lực (CBE), dạy học trong môi trường ảo, và gần đây là xu thế ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học ngoại ngữ. Các công trình nghiên cứu về dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng được tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau. Các tác giả chỉ ra những nguyên nhân người học ít sử dụng tiếng Anh trong lớp, từ đó đề xuất biện pháp phù hợp nhằm giúp người học phát huy khả năng giao tiếp tiếng Anh.
Trong tác phẩm Teaching and Learning English, Lindsay, C. & Knight nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo điều kiện để người học thực hành, nói và sử dụng tiếng Anh trong quá trình học tập [3].
Ngoài ra, nghiên cứu Management in English Language Teaching của Ron White, Mervyn Martin, Mike Stimson và Robert Hodge cho rằng quản lý trong dạy học tiếng Anh cần được cải tiến đồng bộ ở nhiều khía cạnh như mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học. Điều này nhấn mạnh vai trò then chốt của quản lý giáo dục trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ, bảo đảm sự liên kết giữa lý thuyết, phương pháp và thực tiễn triển khai [4].
2.1.2. Nghiên cứu trong nước
Bài viết “Dạy và học ngoại ngữ ở Trường Đại học Chính trị: Hiệu quả từ sự phù hợp” của Phạm Xuân Thông đã nhấn mạnh nét độc đáo trong việc học tập tiếng Anh ở nhà trường là tính linh hoạt, sáng tạo, phù hợp và mang tính phổ biến cao. Theo tác giả, việc học tiếng Anh được lồng ghép trong mọi hoạt động của nhà trường [5]. Đây là minh chứng cho một mô hình gắn kết ngoại ngữ với các hoạt động giáo dục tổng thể, từ đó khẳng định tiếng Anh không chỉ là môn học độc lập mà còn là công cụ phục vụ nhiều mục tiêu đào tạo.
Tác giả Trương Bạch Lê, trong đề tài “Xác định nhu cầu phát triển nghiệp vụ giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành trong các trường Cao đẳng và Đại học ở Huế”, đã khảo sát và nhận định phần lớn giảng viên tiếng Anh có nhu cầu được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Theo tác giả, để nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh chuyên ngành, yếu tố then chốt là cần phát triển năng lực chuyên môn thông qua hoạt động bồi dưỡng [6]. Kết quả này cho thấy sự thiếu hụt về năng lực nghiệp vụ của giảng viên và cũng phản ánh một nhu cầu khách quan trong đào tạo hiện nay: phát triển giảng viên không chỉ ở tri thức mà còn ở năng lực giảng dạy chuyên ngành.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy “Đổi mới và nâng cao kiến thức, vai trò của giáo viên khi áp dụng phương pháp Học cộng tác trong giảng dạy tiếng Anh tại một trường đại học Việt Nam” đã khẳng định đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy tiếng Anh là nhiệm vụ cấp thiết. Tác giả đề xuất rằng, để áp dụng thành công phương pháp Học cộng tác, cần nâng cao kiến thức, năng lực và vai trò của giáo viên [7]. Điều này không chỉ bổ sung cho quan điểm của Trương Bạch Lê (2016) về bồi dưỡng nghiệp vụ, mà còn cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển đội ngũ giảng viên và đổi mới phương pháp dạy học.
Trong nghiên cứu “Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy của giáo viên khoa tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại Ngữ – Đại học Đà Nẵng: Thực trạng và Giải pháp” của Phạm Thị Tố Như đã chỉ ra hạn chế trong việc ứng dụng CNTT và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực công nghệ cho giảng viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp 4.0, nghiên cứu này mang tính thời sự cao, gợi mở yêu cầu giảng viên tiếng Anh cần vừa giỏi chuyên môn, vừa làm chủ công nghệ để nâng cao chất lượng dạy học [8].
Các nghiên cứu về quản lý dạy học tiếng Anh cũng được triển khai rộng rãi. Luận án của Nguyễn Thị Hạnh (2023) về “Quản lý dạy học tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ theo tiếp cận năng lực” đã làm rõ thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hiệu quả [9]. Trong khi đó, Nguyễn Bích Ngọc (2023) trong luận án “Một số biện pháp quản lý đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các trường sĩ quan quân đội” khẳng định đánh giá là khâu then chốt trong đổi mới dạy học [10]. Tiếp đó, Đỗ Mạnh Quyền (2024) với luận án “Quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các trường sĩ quan quân đội đáp ứng chuẩn đầu ra” đã tập trung nghiên cứu từ khâu tổ chức, chỉ đạo, bồi dưỡng đội ngũ đến xây dựng chương trình, phương pháp, môi trường học tập [11]. Nguyễn Bích Ngọc (2024) cũng tiếp tục đào sâu khía cạnh đánh giá năng lực ngoại ngữ, phân tích hạn chế và đề xuất giải pháp phản ánh đúng năng lực người học. Như vậy, nhóm nghiên cứu trong khối quân đội đã làm rõ một chuỗi liên hoàn từ quản lý giảng dạy – bồi dưỡng – tổ chức – đánh giá, khẳng định quản lý là yếu tố quyết định để bảo đảm chuẩn đầu ra.
Ở bậc phổ thông và đại học, Nguyễn Thị Thu Phương (2018) với luận án “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh các trường THPT theo tiếp cận năng lực” [12] và Đỗ Thanh Tú (2024) với luận án “Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giảng viên tiếng Anh các trường đại học không chuyên ngữ” [13] đều khẳng định sự cần thiết của quản lý bồi dưỡng giáo viên. Điểm khác biệt là Thu Phương tập trung vào giáo viên THPT, trong khi Đỗ Thanh Tú chú trọng đội ngũ giảng viên đại học, qua đó cho thấy một sự tiếp nối từ phổ thông đến đại học trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngoại ngữ.
Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên, ta thấy mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh quan trọng của dạy và học tiếng Anh như: đổi mới phương pháp, phát triển năng lực và bồi dưỡng giảng viên, ứng dụng công nghệ thông tin, hay quản lý hoạt động giảng dạy và đánh giá kết quả học tập nhưng các công trình này vẫn tồn tại những khoảng trống nhất định. Thứ nhất, phần lớn các nghiên cứu mới tập trung vào giảng dạy tiếng Anh nói chung hoặc tiếng Anh không chuyên, trong khi lĩnh vực tiếng Anh chuyên ngành ở bậc đại học chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống. Thứ hai, các nghiên cứu quản lý hiện nay chủ yếu dừng lại ở quản lý đơn lẻ từng khâu (bồi dưỡng giáo viên, đổi mới phương pháp, đánh giá kết quả, ứng dụng công nghệ thông tin), thiếu sự tích hợp để hình thành một khung quản lý thống nhất bao quát cả quá trình dạy học. Thứ ba, chưa có nhiều công trình làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học, hội nhập quốc tế và tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0. Chính những khoảng trống này đặt ra yêu cầu cần có một nghiên cứu chuyên sâu nhằm hệ thống hóa lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành tại các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ, dạy học tiếng Anh chuyên ngành theo mô hình CIPO
2.1.1. Nghiên cứu ngoài nước
Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model) của Devkota (2019) đã chỉ ra những yếu tố cơ bản để đánh giá chất lượng đào tạo, trong đó đầu vào bao gồm: người học, đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, các quy chế – quy định và nguồn tài chính. Đây là những yếu tố nền tảng quyết định sự hình thành và phát triển của quá trình đào tạo, tạo tiền đề để nâng cao chất lượng đầu ra [14].
Trên quan điểm chất lượng đào tạo là một quá trình, UNESCO đã đề xuất mô hình CIPO (Context – Input – Process – Output). Mô hình này có tính bao quát và kiểm soát toàn diện quá trình đào tạo, nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa yếu tố đầu vào (Input), yếu tố quá trình (Process) và yếu tố đầu ra (Output) dưới sự tác động của bối cảnh (Context) (Scheerens, 2004) [15]. Điểm nổi bật của CIPO là coi chất lượng đào tạo không chỉ được quyết định ở đầu ra mà còn phụ thuộc vào mức độ phù hợp, hiệu quả của đầu vào và quá trình. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong giáo dục đại học và dạy học ngoại ngữ, nơi mà chất lượng sinh viên sau tốt nghiệp phản ánh trực tiếp chất lượng đội ngũ giảng viên, chương trình, cơ sở vật chất và phương pháp quản lý đào tạo.
Ngoài ra, nghiên cứu của F. Heyworth (2013) về “Ứng dụng quản lý chất lượng trong dạy học ngoại ngữ” đã khẳng định sự cần thiết phải xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng cho từng khâu của quá trình đào tạo: chương trình, tài liệu, phương pháp dạy học, đánh giá kết quả học tập và chuẩn đầu ra. Điều này cho thấy, để đảm bảo hiệu quả của hoạt động dạy học ngoại ngữ, cần một hệ thống quản lý chất lượng đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết – phương pháp – tổ chức và đánh giá [16].
2.1.2. Nghiên cứu trong nước
Quản lý chất lượng đào tạo được hiểu là quá trình tổ chức, điều hành và thực hiện có hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ hoạt động đào tạo nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, bảo đảm “sản phẩm” sau đào tạo đáp ứng tốt yêu cầu của bên sử dụng lao động cũng như của xã hội trong bối cảnh hội nhập [17]. Để đạt được mục tiêu này, nhiều nhà khoa học đã xây dựng và vận dụng các mô hình tiếp cận quản lý khác nhau, qua đó cho thấy quản lý chất lượng đào tạo không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn mang tính chiến lược đối với sự phát triển bền vững của các cơ sở giáo dục.
Trong luận án “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo của trường cao đẳng kỹ thuật với doanh nghiệp” của Nguyễn Ngọc Phương đã mô tả mô hình liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, trong đó các nội dung liên kết tập trung vào quản lý toàn bộ quá trình đào tạo từ đầu vào, quá trình đến đầu ra. Công trình này nhấn mạnh vai trò thiết yếu của mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực [18].
Ở cấp độ rộng hơn, Trần Thị Quỳnh Loan và Nguyễn Xuân Thức trong nghiên cứu “Vận dụng tiếp cận CIPO vào quản lý dạy học ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên theo hướng xây dựng xã hội học tập” đã chứng minh rằng mô hình CIPO có thể áp dụng hiệu quả để quản lý đồng bộ chất lượng các yếu tố: đầu vào, quá trình, đầu ra, cũng như điều tiết bối cảnh. Nghiên cứu này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn định hướng cho việc hình thành xã hội học tập, nơi người học sau tốt nghiệp được trang bị năng lực nghề nghiệp phù hợp, có thể tham gia ổn định vào thị trường lao động [19].
Trong đề tài “Vận dụng mô hình CIPO vào quản lý đào tạo ở Trường Trung cấp nghề Giao thông Công chính Hà Nội theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội”, Đào Duy Phong đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc khảo sát và đánh giá thực trạng yếu tố của quá trình quản lý đào tạo không chỉ dừng lại ở ba thành tố đầu vào – quá trình – đầu ra mà còn mở rộng đến nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số trong dạy – học. Tác giả cũng chỉ ra rằng năng lực điều tiết, khả năng thích ứng linh hoạt của nhà quản lý trước tác động của bối cảnh hiện nay (như biến đổi công nghệ, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế) là yếu tố mang tính quyết định để duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo [20].
Trong khi đó, Nguyễn Xuân Tạo (2023), với luận án “Quản lý đào tạo nghề theo tiếp cận CIPO tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ”, đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc về quản lý đào tạo nghề theo CIPO. Tác giả phân tích ưu điểm của mô hình CIPO là khả năng bao quát đầy đủ đầu vào, quá trình, đầu ra, đồng thời tính đến tác động của bối cảnh xã hội. Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, luận án đã chỉ ra những mặt mạnh, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ, chia thành ba nhóm tương ứng với ba yếu tố cốt lõi của mô hình. Đặc biệt, tác giả đã tiến hành khảo nghiệm tính cấp thiết, khả thi và thử nghiệm giải pháp tại một số cơ sở, qua đó góp phần khẳng định tính ứng dụng và hiệu quả của mô hình trong nâng cao chất lượng nhân lực, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động cả khu vực và quốc gia [21].
Đối với lĩnh vực ngoại ngữ, luận án của Nguyễn Tuấn Khanh (2022) “Quản lý dạy học tiếng Anh tại các trung tâm ngoại ngữ tư thục thành phố Hà Nội trong bối cảnh hội nhập” đã bước đầu vận dụng mô hình CIPO trong dạy học tiếng Anh. Công trình này làm rõ đặc trưng quản lý trong các trung tâm ngoại ngữ tư thục, khảo sát thực trạng, chỉ ra hạn chế và đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng. Quan trọng hơn, nghiên cứu đã bổ sung cơ sở lý luận về quản lý dạy học tiếng Anh theo CIPO, đồng thời nhấn mạnh vai trò của các yếu tố bối cảnh (hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa giáo dục, sự cạnh tranh thị trường đào tạo ngoại ngữ) trong việc định hình nội dung và phương thức quản lý [22].
Nhìn chung, các nghiên cứu trên, dù tiếp cận ở các cấp độ, lĩnh vực khác nhau (giáo dục nghề nghiệp, trung cấp, đại học hay trung tâm ngoại ngữ), đều khẳng định tính ưu việt và khả năng thích ứng của mô hình CIPO trong quản lý chất lượng đào tạo. Chúng đã góp phần chứng minh xu thế đổi mới quản lý dạy học theo tiếp cận CIPO là tất yếu trong thời đại công nghệ số, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của quản lý trong việc bảo đảm chất lượng đầu ra, đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Qua đó, chúng ta thấy rõ rằng các nghiên cứu hiện nay mới chủ yếu tập trung vào quản lý dạy học ngoại ngữ nói chung hoặc đào tạo nghề, chưa có công trình nào đi sâu, đầy đủ và có hệ thống về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành trong các trường đại học theo tiếp cận CIPO. Trong khi đó, tiếng Anh chuyên ngành có tính đặc thù cao, vừa là môn học công cụ, vừa gắn chặt với chuyên môn nghề nghiệp của người học, đóng vai trò then chốt trong việc hình thành năng lực chuyên môn toàn diện, đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo đại học.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu quản lý hoạt động dạy và học tiếng Anh chuyên ngành theo tiếp cận CIPO tại các trường đại học ở Việt Nam là một hướng đi mới, có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Nghiên cứu này không chỉ nhằm đánh giá thực trạng quản lý, phân tích những hạn chế, nguyên nhân, mà quan trọng hơn còn đề xuất hệ thống giải pháp quản lý khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức dạy và học tiếng Anh chuyên ngành. Đồng thời, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các cơ sở giáo dục đại học trong việc hoạch định chính sách, điều chỉnh và cải tiến hoạt động quản lý, từ đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng và cách mạng công nghiệp 4.0.
- Kết luận
Việc nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành theo tiếp cận CIPO cho ta thấy rằng quản lý chất lượng đào tạo, đặc biệt trong dạy học ngoại ngữ, đã được tiếp cận từ nhiều góc độ: đổi mới phương pháp, phát triển đội ngũ, chuẩn hóa năng lực ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ và quản lý theo các mô hình chất lượng. Mô hình CIPO, với ưu thế xem xét đồng bộ các yếu tố đầu vào – quá trình – đầu ra – bối cảnh, đã chứng minh tính hiệu quả trong quản lý đào tạo nói chung và dạy học ngoại ngữ nói riêng.
Tuy nhiên, các công trình hiện có chủ yếu tập trung vào tiếng Anh không chuyên hoặc đào tạo nghề, trong khi lĩnh vực tiếng Anh chuyên ngành ở các trường đại học chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống. Khoảng trống này đặt ra nhu cầu cấp thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu, nhằm xây dựng cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành theo tiếp cận CIPO.
Kết quả nghiên cứu trong hướng tiếp cận này không chỉ có ý nghĩa khoa học khi góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về quản lý đào tạo, mà còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc. Đây sẽ là cơ sở tham khảo quan trọng cho các trường đại học trong việc nâng cao hiệu quả quản lý, cải thiện chất lượng dạy học tiếng Anh chuyên ngành, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
- Thủ tướng Chính phủ. (2017). Quyết định số 2080/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Đề án dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017-2025.
- Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2030.
- Cora Lindsay và Paul Knight (2006). Learning and teaching English: A course for teachers. Vol. 11, Oxford University Press New York.
- Ron White, Mervyn Martin, Mike Stimson, và Robert Hodge (1991). Management in English language teaching. Nxb Cambridge University press.
- Phạm Xuân Thông (2017). Dạy và học ngoại ngữ ở Trường Đại học Chính trị: Hiệu quả từ sự phù hợp. Tạp chí Khoa học Chính trị Quân sự, số 3.
- Trương Bạch Lê. (2016). Xác định nhu cầu phát triển nghiệp vụ giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành trong các trường Cao đẳng và Đại học ở Huế. Tạp chí Khoa học Giáo dục, Số 132 - tháng 9/2016.
- Nguyễn Thị Bích Thủy (2020). Đổi mới và nâng cao kiến thức, vai trò của giáo viên khi áp dụng phương pháp Học cộng tác trong giảng dạy tiếng Anh tại một trường đại học Việt Nam. Tạp chí Khoa học giáo dục Việt Nam, số 36 tháng 12/2020, trang 6-12.
- Phạm Thị Tố Như (2014). Năng lực ứng dụng Công Nghệ Thông Tin trong giảng dạy của giáo viên Khoa Tiếng Anh, trường Đại Học Ngoại Ngữ, Đại Học Đà Nẵng- Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 10 (83) 2014, tr 24-27
- Nguyễn Thị Hạnh (2023). Quản lý dạy học tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ theo tiếp cận năng lực. Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam.
- Nguyễn Bích Ngọc (2023). Một số biện pháp quản lý đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các trường sĩ quan quân đội. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, Tập. 228 Số. 04 (2023), tr 140-147.
- Đỗ Mạnh Quyền (2024). Quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các trường sĩ quan quân đội đáp ứng chuẩn đầu ra. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thu Phương (2018). Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh các trường trung học phổ thông theo tiếp cận phát triển năng lực. Journal of Education Management, 2018, Vol. 10, No. 1, pp. 39-47
- Đỗ Thanh Tú (2024). Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giảng viên tiếng Anh các trường đại học không chuyên ngoại ngữ. Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục.
- Devkota P. (2019). Front End Analysis Tool: Roger Kaufman’s Organizational Elements Model. Truy cập từ: https://pdevkota.expressions.syr.edu/wp-content/uploads/2019/07/FEA-tool-final_v2.pdf
- Scheerens, J. (2004). Review of school and instructional effectiveness research. Paper commissioned for the EFA Global Monitoring Report 2005, The Quality Imperative. Truy cập từ: http://unesdoc.unesco.org/images/0014/001466/146695e.pdf.
- F.Heyworth (2013). Applications of quality management in language education. Language Teaching, vol. 46, pp. 281-315.
- Trần Khánh Đức. (2009). Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam.
- Nguyễn Ngọc Phương. (2017). Quản lý hoạt động liên kết đào tạo của trường cao đẳng kỹ thuật với doanh nghiệp. Luận án Quản lý Giáo dục, Trường Đại học Vinh, Nghệ An.
- Trần Thị Quỳnh Loan và Nguyễn Xuân Thức (2018). Vận dụng tiếp cận CIPO vào quản lý dạy học ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên theo hướng xây dựng xã hội học tập. Tạp chí Giáo dục, Số 422 (Kì 2 - 1/2018), tr 8-11.
- Đào Duy Phong. (2020). Vận dụng mô hình CIPO vào quản lý đào tạo ở trường trung cấp nghề giao thông công chính Hà Nội theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội. Tạp chí Khoa học Xã hội, số (42), 97-108.
- Nguyễn Xuân Tạo. (2023). Quản lý đào tạo nghề theo tiếp cận CIPO tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục. Trường đại học Đồng Tháp. Đồng Tháp.
- Nguyễn Tuấn Khanh. (2022). Quản lý dạy học tiếng Anh tại các trung tâm ngoại ngữ tư thục thành phố Hà Nội trong bối cảnh hội nhập. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục. Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.
AN OVERVIEW OF RESEARCH ON ENGLISH FOR SPECIFIC PURPOSES TEACHING ACTIVITIES BASED ON THE CIPO APPROACH
Đinh Tran Kim Ngan - PhD Candidate, Cohort 6, Dong Thap University
Nguyen Thi Ngoc Trinh - Lecturers, Vinh Long University of Technology Education
Email: [email protected], Phone: 0907920691
Abstract:
In the context of globalization, teaching English for Specific Purposes (ESP) at the university level has become an inevitable necessity. It not only meets the requirements of training high-quality human resources but also acts as a vital bridge for economic and cultural exchange between Vietnam and the world. This paper reviews previous studies on ESP teaching, thereby providing theoretical and practical foundations for further research and the application of the CIPO model (Context – Input – Process – Output) in language education. The review results contribute to orienting more in-depth studies and suggest solutions to enhance the effectiveness of ESP instruction in higher education institutions
Keywords: English for Specific Purposes, international integration, educational development, human resource quality