Về miền đất cổ

Ngày 30/3/2023 đoàn cán bộ và phóng viên, biên tập viên của Tạp chí Giáo chức Việt Nam về thăm miền đất cổ Bắc Giang với các địa danh nổi tiếng: Chùa Bổ Đề (xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên), thành cổ Xương Giang (Tp. Bắc Giang).

Ngày 30/3/2023 đoàn cán bộ và phóng viên, biên tập viên của Tạp chí Giáo chức Việt Nam về thăm miền đất cổ Bắc Giang với các địa danh nổi tiếng: Chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên), thành cổ Xương Giang (Tp. Bắc Giang).

Về miền đất cổ

Về miền đất cổ

Tạp chí Giáo chức Việt Nam thăm chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn,huyện Việt Yên)

Chùa Bổ Đà, còn được gọi là chùa Bổ, chùa Tam Giáo, còn có tên chữ là Tứ Ân tự (四恩寺) là một ngôi chùa toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), bờ tả dòng sông Cầu, thuộc địa phận thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (thời phong kiến là xã Tiên Lát, tổng Tiên Lát, huyện Yên Việt, phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc xưa). Chùa nằm cách trung tâm thị trấn Bích Động khoảng 10 km về phía Tây, Chùa Bổ Đà là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất vùng đất Kinh Bắc, là trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Chùa đã được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2016 và bộ kinh phật khắc trên gỗ thị lưu giữ trong chùa được đánh giá là cổ nhất của dòng thiền Lâm Tế,...

Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ. Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam, nhiều cổ vật có giá trị và kho tàng di sản Hán - Nôm phong phú. Đây cũng là nơi sơn thủy giao hòa, nhìn sông tựa núi, cảnh sắc, không gian nhuốm màu huyền thoại, xung quanh là đồi núi xóm làng bao bọc. Chùa thờ Tam giáo, trong đó có Quán Thế Âm Bồ Tát, Trúc Lâm Tam tổ (gồm Trần Nhân Tông, Pháp LoaHuyền Quang), Khổng Tử... Các cuốn sách bằng tre, đá để lại vẫn lưu truyền đào tạo những người gia nhập phái Lâm Tế (Sơn Môn Bồ Đà) theo phong tục cũ. Quần thể chùa Bổ Đà là một tập hợp di tích gồm: chùa cổ có tên là Bổ Đà sơn (gọi tắt là chùa Bổ Đà, chùa Bổ; còn gọi là chùa Quán Âm), chùa chính Tứ Ân, Am Tam Đức (xây dựng sau, vào thời Hậu Lê). Ngoài ra trên núi Bổ Đà còn có đền thờ Thạch tướng quân (tức Thạch Tướng Đại Vương - có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm)

Về miền đất cổ

Về miền đất cổ

Quảng cáo

Đoàn Tạp chí Giáo chức Việt Nam thăm thành cổ Xương Giang (Tp. Bắc Giang).

Thành Xương Giang: Thành nằm bên Quốc lộ 1A cũ (nay có tên là đường Xương Giang) và đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng. Trước kia thành thuộc địa phận xã Đông Nham (còn gọi là làng Thành), huyện Bảo Lộc, tổng Thọ Xương, phủ Lạng Giang; nay thuộc phường Xương Giang ở phía đông bắc thành phố Bắc Giang.

Theo các sử liệu, sau khi chiếm được Đại Ngu vào năm 1407, nhà Minh lập các sở vệ và cho xây đắp các thành lũy ở các nơi xung yếu để phòng thủ. Thành Xương Giang cũng được xây dựng trong khoảng thời gian này, khi nhà Minh thành lập Xương Giang vệ. Đây là trụ sở của phủ Lạng Giang và là thành lũy kiên cố nhất của quân Minh án ngữ đường liên lạc từ Đông Quan (Hà Nội) đến biên giới. Tòa thành có quy mô khá lớn, được xây dựng trên một khu đất cao ráo gần sông Thương.

Thành Xương Giang có hình chữ nhật, chiều dài theo hướng đông tây khoảng 600 m, chiều rộng theo hướng bắc nam khoảng 450 m. Diện tích của thành khoảng 27 ha, tương đương 70 mẫu Bắc Bộ. Tường thành đắp bằng đất cao và dày, bốn góc đắp bốn pháo đài cao hơn mặt thành khoảng 4 m, phía ngoài thành có hào sâu bao bọc. Trong thành phân chia thành từng khu vực: sở chỉ huy, doanh trại, nhà giam, kho lương thực. Tại đây có khoảng 2.000 quân Minh dưới sự điều hành của đô chỉ huy Lý Nhậm, tri phủ Lưu Tử Phụ, và các tướng Kim Dận, Cố Phúc, Phùng Chí, Lưu Thuận. Sở chỉ huy được đặt trên một khu đất cao ở khoảng giữa thành.

Đây cũng là tòa thành trên đường tiếp viện của quân Minh đến Đông Quan mà nghĩa quân Lam Sơn mất nhiều thời gian nhất để đánh hạ, trong khi các thành khác trên tuyến như Điêu Diêu, Thị Cầu đã lần lượt đầu hàng. Ngày 28 tháng 9 năm 1427 (mồng 8 tháng 9 năm Đinh Mùi), nghĩa quân Lam Sơn mới hạ được thành sau nhiều tháng vây hãm. Sau khi nước Đại Việt giành lại được độc lập, trị sở của phủ Lạng Giang tiếp tục đặt tại thành Xương Giang vào thời Lê–Mạc trước khi được chuyển về địa phận xã Châu Triền, huyện Phượng Nhãn vào thời Nguyễn.

Sau nhiều thế kỷ, các công trình tại thành đã bị phá hủy phần lớn. Tuy nhiên chân thành phía đông bắc vẫn còn rộng đến 25 m, mặt thành còn lại có chỗ rộng đến 20 m và cao hơn mặt ruộng tới 4 m, riêng bờ thành phía tây hầu như bị san lấp hoàn toàn. Dãy hào bao bọc quanh thành hiện mặc dù đã bị san lấp làm ruộng gần hết nhưng dấu vết còn lại vẫn rộng đến 15 m và sâu đến 1 m. Thành gồm bốn cửa trông theo 4 hướng, trong đó cửa chính trông về hướng tây nhưng nay chỉ còn lại của phía đông. Ở mỗi cửa có một ruộng tròn, rộng tới hơn 1 sào, sâu đến ngang vai, dân vẫn gọi là "đấu đong quân". Đường thoát nước của thành chảy qua cửa phía nam và cửa phía tây.

Trong khu nội thành hiện nay vẫn còn lại nhiều gò đất cao thấp khác nhau, nổi bật trong số đó là khu "đồi quân Ngô" nằm hơi chếch về phía đông bắc với chu vi khoảng 30 m thuộc đất của làng Hà Vị được chia sau khi giải phóng thành. Các kho lương thực, vũ khí, trại quân được xây dựng quanh khu này, sát bờ thành phía bắc. Quá trình canh tác, người dân đào được nhiều thóc gạo cháy đen, chân đá tảng lớn, đạn đá các loại với nhiều kích thước, đường kính 3–12 cm. Các hiện vật đang được bảo tàng địa phương lưu giữ. Đạn đá được tìm thấy nhiều nhất ở góc đông bắc và tây bắc thành, lẫn trong đám than tro ngay cạnh chân thành. Bên cạnh đó còn phát hiện nhiều hòn kê chân cột cũng bằng đá, cụ thể là bằng đá muối hoặc đá vôi, xếp thành hàng lối với nhiều loại to nhỏ khác nhau. Ngoài ra, trong thành còn khá nhiều hiện vật bằng đất nung như gạch, ngói, sành, sứ thuộc thời , Trần, .

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với Viện Khảo cổ học tổ chức hai đợt khai quật khảo cổ tại thành Xương Giang vào các năm 2008 và 2011–2012. Riêng trong đợt khai quật năm 2012, các nhà khảo cổ còn thu được xương động vật.

Ngày nay, cả hai địa điểm du lịch nổi tiếng trên là di tích đặc biệt để tham quan du lịch, trải nghiệm hấp dẫn, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc với mọi người nói chung nhất là với thế hệ trẻ, với HS phổ thông nói riêng.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm