ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TRƯỜNG HỌC ĐẾN Ý ĐỊNH DU HỌC CỦA SINH VIÊN - NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Khuất Thị Mùi - Trường Quản trị và Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội Email: [email protected] Trần Thế Liêm - Công ty CP&TM dịch vụ KVN Nguyễn Hoàng Anh - Công ty tài chính TNHH MTV lotte Việt Nam Tóm tắt: Văn hóa đại học được định nghĩa là những giá trị và niềm tin được chia sẻ trong một trường đại học, phản ánh cách các thành viên phản ứng với môi trường bên ngoài. Trong xu hướng hội nhập hiện nay, du học được xem là chìa khóa thành công cho giới trẻ. Học tập trong văn hóa đại học có thể hìn
12:33 | 17/09/2025

Khuất Thị Mùi -

Trường Quản trị và Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội

Email: [email protected]

Trần Thế Liêm - Công ty CP&TM dịch vụ KVN

Nguyễn Hoàng Anh - Công ty tài chính TNHH MTV lotte Việt Nam

Tóm tắt: Văn hóa đại học được định nghĩa là những giá trị và niềm tin được chia sẻ trong một trường đại học, phản ánh cách các thành viên phản ứng với môi trường bên ngoài. Trong xu hướng hội nhập hiện nay, du học được xem là chìa khóa thành công cho giới trẻ. Học tập trong văn hóa đại học có thể hình thành ý định du học dựa trên thái độ học tập đúng đắn. Bài viết đề xuất các giả thuyết nghiên cứu để kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa đại học đến thái độ học tập và ý định du học của sinh viên tại Đại học Quốc gia Hà Nội, một trường đại học được đánh giá là hàng đầu về giáo dục đại học cả nước. Sử dụng phương pháp khảo sát với 481 sinh viên bằng bảng câu hỏi trên thang đo Likert 7 điểm, kết quả nghiên cứu của bài viết cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa văn hóa đại học và thái độ học tập, và thái độ học tập có tác động đến ý định du học của sinh viên trong tương lai. Từ kết quả phân tích, bài viết đưa ra một số khuyến nghị phù hợp cho Đại học Quốc gia Hà Nội trong việc xây dựng và chia sẻ các giá trị văn hóa nhà trường, thúc đẩy thái độ học tập và hình thành ý định du học cho sinh viên.

Từ khóa: Văn hóa, du học, thái độ học tập, đại học

Nhận bài: 10/9/2025; Biên tập: 15/9/2025; Duyệt đăng: 16/9/2025

1. Mở đầu

Văn hoá tổ chức được nhìn nhận là một trong những chủ đề nghiên cứu quan trọng trong những năm gần đây, khi được nhìn nhận là một trong những yếu tố cơ bản nhất để hiểu cấu trúc xã hội của tổ chức, có ảnh hưởng tới nhiều các lĩnh vực khác nhau như nhân chủng học, xã hội học, tâm lý học và quản lý. Văn hoá tổ chức được định nghĩa là các triết lý, hệ tư tưởng, giá trị, niềm tin, giả định, thái độ và chuẩn mực chung được chia sẻ bởi các thành viên cuả tổ chức (Özdemir và Ipek, 2020). Những yếu tố tạo nên văn hoá tổ chức phản ánh đặc trưng độc đáo của tổ chức cũng như tạo ra sự gắn kết và hình thành thái độ, suy nghĩ ở mỗi thành viên trong tổ chức. Được nhìn nhận như một tổ chức xã hội, các trường đại học đã và đang quan tâm, xây dựng và phát triển văn hoá tổ chức hướng tới việc hình thành mạng lưới liên kết và chuẩn mực gắn kết các thành viên, cũng như chia sẻ được các giá trị trong quá trình phát triển nhân cách và hành vi của mỗi thành viên trong trường học, đặc biệt hướng tới người học (Higgins-D’Alessandro và Sadh, 1998). Theo Başer et al. (2025), văn hoá trường học có ý nghĩa quan trọng trong định hướng các hoạt động trong trường học dựa trên các giả định và giá trị cơ bản, cũng như cho phép trường học có thể cải thiện chất lượng các hoạt động đào tạo, nâng cao hiệu quả của giáo dục chuyên nghiệp. Kết quả của nhiều nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố của văn hoá trường học như làm việc nhóm, trách nhiệm đạo đức, hình mẫu được truyền thông và chia sẻ hiệu quả giữa các thành viên trong trường học có mối quan hệ chặt chẽ với nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường môi trường học tập, và hỗ trợ hình thành các định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Theo đó, có thể thấy văn hoá trường học có tác động mạnh lên thái độ của các thành viên trong trường học, đặc biệt là với các sinh viên đang theo học trong nhà trường, định hình họ trong việc học tập và lên kế hoạch cho tương lai sau này.

Quá trình quốc tế hoá giáo dục hiện nay đã thúc đẩy làn sóng hội nhập, hợp tác giữa các trường đại học trong đào tạo và nghiên cứu khoa học ở cả phạm vi khu vực và thế giới. Điều này đã dẫn đến sự tăng cường quá trình hợp tác xuyên biên giới của các trường đại học, cũng như nỗ lực tìm kiếm cơ hội du học quốc tế từ phía sinh viên. Trải nghiệm du học giúp người học cải thiện kỹ năng liên văn hoá và ngôn ngữ, cũng như giúp phát triển cả về kỹ năng học tập và xã hội của cá nhân, tăng cơ hội việc làm trong tương lai (Butkovic et al., 2024). Theo Apply Board (2025), ước tính năm 2024, khoảng 150.000 sinh viên Việt Nam hiện đang theo học các chương trình du học nước ngoài từ bậc đại học trở lên. Các quốc gia điểm đến trong lựa chọn du học của sinh viên Việt vẫn chủ yếu tập trung vào các nền giáo dục lớn như Mỹ, Australia, Nhật Bản và Hàn Quốc, chỉ tính riêng tại Mỹ đã có khoảng 22.066 sinh viên Việt Nam đang theo học. Trong dòng chảy hội nhập này, Đại học Quốc gia Hà Nội với sự cấu thành của nhiều trường đại học trực thuộc, với những hoạt động hợp tác và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, đã và đang chứng kiến sự dịch chuyển sinh viên theo học các chương trình du học quốc tế. Điều này đặt ra câu hỏi nghiên cứu liệu rằng những giá trị văn hoá trường học hiện nay của trường có ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên, từ đó có ảnh hưởng tới ý định du học của sinh viên hay không? Theo đó, bài viết được thực hiện nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của văn hóa trường học đến thái độ học tập của sinh viên, từ đó đánh giá ảnh hưởng của thái độ học tập đến ý định du học của sinh viên trong trường.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Cơ sở lí luận và giả thuyết

- Văn hoá trường học: Văn hoá tổ chức được định nghĩa là một tập hợp các giá trị, niềm tin và chuẩn mực, được chia sẻ bởi các thành viên của một tổ chức, mô tả cách thức các hoạt động được thực hiện trong tổ chức để giải quyết các vấn đề bên trong và bên ngoài tổ chức đó (Claver et al., 2001). Việc xem xét trường học là một tổ chức xã hội được sự chấp nhận ở nhiều các quốc gia, các nhà nghiên cứu. Theo đó, văn hoá trường học được xác định là môi trường văn hoá trong nhà trường (Đặng Thành Hưng, 2016). Vì vậy, có thể hiểu văn hoá nhà trường là văn hoá tổ chức gắn liền với sứ mạng và hoạt động của nhà trường, bao gồm những giá trị, nguyên tắc và truyền thống gắn kết mọi thành viên với nhau, được mọi người hiểu biết, muốn sở hữu và chia sẻ, tạo nên sự khác biệt cho nhà trường (Đặng Thành Hưng, 2016). Văn hoá trường học tốt cho phép trường học đạt được nhiều lợi ích lớn như môi trường thân thiện và đối xử hoà nhã với nhau, khuynh hướng hợp tác cao, phát triển những kỹ năng quản lý và tự đánh giá, các giá trị được chia sẻ cởi mở và công khai. Xây dựng và chia sẻ văn hoá trường học có nhiều điểu kiện thuận lợi hơn so với các tổ chức xã hội khác nhờ vào khả năng kiểm soát lịch trình làm việc, sự linh hoạt trong các hoạt động, nhờ đó tăng cường sự ảnh hưởng đến ý thức của các thành viên trong trường học. Cùng với đó, các nỗ lực của giáo viên trong tạo dựng mối quan hệ tích cực với sinh viên và người học, các hoạt động trong lớp học, đặc biệt là các chương trình hợp tác học tập, thúc đẩy sự tham gia xây dựng và chia sẻ các giá trị văn hoá trường học. Dựa trên các nghiên cứu trước về văn hoá trường học, Higgins-D’Alessandro và Sadh (1998) đã nhận định có bốn khía cạnh định hình văn hoá trường học gồm: (1) mức độ tồn tại của các kỳ vọng quy chuẩn, (2) chất lượng mối quan hệ của học sinh với giáo viên và nhà trường, (3) chất lượng mối quan hệ của học sinh với nhau, và (4) mức độ mà học sinh nhận thấy cơ hội giáo dục được cung cấp từ nhà trường.

- Thái độ học tập: thái độ gần đây đã nhận được sự chú ý ngày càng tăng từ phía các học giả, khi được nhận định là một phần không thể thiếu trong học tập. Thái độ học tập được hiểu là sự sẵn sàng đáp ứng tích cực hay tiêu cực đến một đối tượng (Đỗ Thị Mỹ Trang và cộng sự, 2019). Tình cảm được xem là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến thái độ học tập, và yếu tố này đề cập đến các khía cạnh giá trị, niềm tin, sự quan tâm và kỳ vọng (Saracaloglu, 1992). Theo đó, những giá trị, niềm tin được chia sẻ trong văn hoá trường học có tác động đến nhận thức của sinh viên, từ đó ảnh hưởng lớn đến cảm xúc và thái độ của họ, cũng như sự sẵn sàng tham gia vào các hoạt động học tập.

Theo đó, giả thuyết được đặt ra là:

H1. Kỳ vọng chuẩn mực có ảnh hưởng tích cực đến thái độ học tập của sinh viên.

H2. Mối quan hệ giữa sinh viên – giáo viên – nhà trường có ảnh hưởng tích cực đến thái độ học tập của sinh viên.

H3. Mối quan hệ giữa sinh viên có ảnh hưởng tích cực đến thái độ học tập của sinh viên.

Quảng cáo

H4. Cơ hội giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến thái độ học tập của sinh viên

- Ý định du học của sinh viên: Theo Lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen và Fishbein, hành vi thực tế của cá nhân được xác định bởi ý định thực hiện của cá nhân đó. Ý định biểu thị tính sẵn sàng của mỗi người khi thực hiện hành vi đã xác định, và được xem là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi. Theo Ajzen và Fishibein (1980), có thể nhận định ý định du học của sinh viên là khả năng mà sinh viên nghĩ sẽ theo học các chương trình giáo dục nước ngoài. Ý định du học của sinh viên được hình thành trong giai đoạn đánh giá các phương án theo những tiêu chí đánh giá được cá nhân lựa chọn, vì vậy ý định có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều các yếu tố khác nhau.) Nhìn chung, theo lý thuyết TPB, ý định chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi niềm tin và thái độ (Zhuang et al., 2016). Hiện nay, tồn tại niềm tin phổ biến rằng việc du học giúp nâng cao kiến thức, là chìa khoá thành công trong nhiều lĩnh vực, có thể thấy ý định du học của sinh viên chịu ảnh hưởng nhiều từ thái độ học tập, mong muốn được tiếp cận với các kiến thức quốc tế chuyên sâu hơn. Theo Getie (2020), thái độ học tập có ảnh hưởng đến tâm trạng và những nhận định bên trong cá nhân người học, dẫn đến những tác động đối với các hành vi trong học tập như đọc sách, giao tiếp chuyên môn, tìm hiểu cơ hội nghề nghiệp và du học. Theo đó, giả thuyết được đặt ra là: H5. Thái độ học tập có ảnh hưởng đến ý định du học của sinh viên.

ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TRƯỜNG HỌC ĐẾN Ý ĐỊNH DU HỌC CỦA SINH VIÊN - NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Hình 1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

2.2. Phương pháp khảo sát

2.2.1. Thang đo khảo sát

Trong bối cảnh Đại học Quốc gia đang có nhiều những thay đổi lớn trong phát triển đào tạo và hợp tác quốc tế, bài viết đã kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu của Higgins-D’Alessandro & Sadh (1998), Chaniotakis el al. (2010), Schnusenberg & Jong (2012) để hình thành thang đo văn hoá trường học, nắm bắt các khía cạnh của văn hoá trường học, đáp ứng được độ tin cậy, phù hợp nhất với thực tiễn tại Việt Nam. Tất cả các tiêu chí được đo lường theo thang đo Likert 7 điểm, với (1) là Rất không đồng ý, đến (7) là Rất đồng ý.

Bảng 1. Thang đo các biến trong nghiên cứu

Biến

Thang đo

Nguồn

Kỳ vọng chuẩn mực

Rất ít xảy ra bạo lực học đường về thể xác và tinh thần

Higgins-D’Alessandro & Sadh (1998).

Rất ít xảy ra trốn tiết hoặc trốn học

Rất ít xảy ra tệ nạn xã hội (trộm cắp, chất gây nghiện, rượu bia)

Rất ít gây hư hại tài sản của trường

Rất ít gian lận

Mối quan hệ giữa sinh viên - giáo viên - nhà trường

Sinh viên và giảng viên tin tưởng lẫn nhau

Higgins-D’Alessandro & Sadh (1998).

Giảng viên thường đối xử với học sinh một cách tôn trọng và công bằng

Giảng viên thực sự quan tâm đến học sinh và muốn giúp đỡ

Sinh viên và giảng viên cởi mở thảo luận các vấn đề

Giáo viên cho học sinh có tiếng nói trong việc quyết định các quy tắc của trường

Một số quy tắc được đưa ra bằng cách bỏ phiếu từ cả học sinh và giáo viên

Mối quan hệ giữa sinh viên

Học sinh thường đối xử với nhau một cách tôn trọng và công bằng

Higgins-D’Alessandro & Sadh (1998).

Học sinh giúp đỡ lẫn nhau ngay cả khi không phải là bạn bè

Học sinh thuộc các nhóm khác nhau đều thân thiện

Học sinh tin tưởng lẫn nhau

Cơ hội giáo dục

Được hưởng một môi trường giáo dục tốt, học hỏi được nhiều điều

Higgins-D’Alessandro & Sadh (1998).

Trở nên có trách nhiệm hơn và quan tâm đến người khác

Học cách lắng nghe ý kiến, suy nghĩ, và bày tỏ quan điểm tốt hơn

Có được hy vọng và cơ hội cho một tương lai tốt đẹp hơn

Thái độ học tập

Các chương trình học tập xứng đáng với số tiền bỏ ra

Chaniotakis el al. (2010)

Nỗ lực học tập giúp phát triển các kĩ năng cá nhân

Tham gia vào các hoạt động học tập sẽ mang lại nhiều lợi ích cho bản thân

Nỗ lực học tập là ưu tiên hàng đầu của cá nhân

Tôi thường xuyên tìm kiếm các thông tin về chương trình học tập

Ý định du học

Tôi có kế hoạch du học từ trước

Schnusenberg & Jong (2012)

Tôi dự định sẽ đi du học trong tương lai

Tôi mong đợi được du học trong tương lai

Tôi sẽ tham gia một chương trình du học trong thời gian gần

Tôi quyết tâm tham gia một chương trình du học

Tôi thấy thích thú khi học tập tại nước ngoài

2.2.2. Mẫu khảo sát

Đối tượng nghiên cứu trong bài viết là các sinh viên đang theo học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Các đối tượng khảo sát được lấy mẫu ngẫu nhiên để đảm bảo tính khách quan của người tham gia vào quá trình điều tra. Việc khảo sát được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức điều tra trực tiếp và một phần thông qua các nhóm facebook lớp hành chính do sinh viên Đại học Quốc gia tự lập trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2025. Tổng cộng có 600 khảo sát đã được thực hiện theo cả hình thức, trong đó có 430 phần trả lời đến từ điều tra trực tiếp và 170 phiếu phản hồi bảng hỏi trực tuyến. Qua quá trình làm sạch dữ liệu, 119 phần trả lời không phù hợp được loại trừ, do cung cấp những đáp án một mức độ, hoặc không hoàn thành bảng hỏi. Do đó, mẫu được phân tích ở đây bao gồm 481 người (254 nữ, 227 nam). Thống kê theo năm học, 16,2% là sinh viên năm đầu tiên, 23,5% là sinh viên năm hai, 26,4% sinh viên năm ba, 33,9% sinh viên năm tư. Với mẫu nghiên cứu là 481 người là đủ tốt và phù hợp với nhận định của Sekaran và Bougie (2016), đảm bảo tính tin cậy của kết quả phân tích.

2.2.3. Xử lí dữ liệu

Bài viết sử dụng kĩ thuật SEM dựa trên bình phương tối thiểu từng phần (PLS), theo 02 giai đoạn để phân tích dữ liệu: (1) Phân tích mô hình đo lường được đánh giá để xem xét mối quan hệ giữa các biến tiềm ẩn và xác định độ tin cậy của thang đo, tính giá trị, sự phân biệt của các biến (Hair Jr et al., 2021); (2) Phân tích mô hình cấu trúc để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến và kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu.

2.3. Kết quả khảo sát

2.3.1. Đánh giá mô hình đo lường

Để đánh giá mô hình đo lường, tính hội tụ, tính phân biệt và độ tin cậy tổng hợp được thực hiện kiểm định. Trước hết là kiểm định tính hội tụ, kết quả từ bảng 2 cho thấy, hệ số tải ngoài của các thang đo đều > 0,70 (Hair Jr et al., 2021), và giá trị AVE trong khoảng từ 0,705 – 0,815 (Fornell & Larcker, 1981). Như vậy các thang đo đều đảm bảo tính hội tụ.

Bảng 2. Hệ số tải ngoài nhân tố, Cronbach's alpha, CR, và AVE (Nguồn: Kết quả xử lí từ SmartPLS 4)

Giá trị Cronbach's Alpha của các biến nằm trong khoảng 0,895-0,954; hệ số CR của các khái niệm trong mô hình đạt giá trị trong khoảng 0,896 – 0,955, lớn hơn so với mức tham chiếu 0,7. Như vậy, các thang đo trong mô hình đảm bảo tính hội tụ và độ tin cậy cao.

Kết quả từ bảng 3 thể hiện giá trị HTM của các thang đo trong mô hình nghiên cứu đều có giá trị < 0,8, do đó đảm bảo giá trị phân biệt, theo khuyến nghị của Henseler et al. (2015).

CM

SGN

SV

CH

TD

YD

CM

SGN

0,503

SV

0,357

0,427

CH

0,480

0,416

0,327

TD

0,511

0,622

0,495

0,512

YD

0,501

0,535

0,412

0,454

0,554

Bảng 3. Hệ số HTMT (Nguồn: Kết quả xử lí từ SmartPLS 4)

2.3.2. Đánh giá mô hình cấu trúc

Sử dụng kĩ thuật Bootstrap với hệ số phóng đại 5000 mẫu và mức ý nghĩa 5% để đánh giá mô hình cấu trúc. Các bước đánh giá mô hình cấu trúc gồm: kiểm tra đa cộng tuyến (VIF), hệ số xác định (R2), và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (Hair Jr et al., 2021).

Hình 2. Kết quả ước tính mô hình PLS

(Nguồn: Kết quả xử lí từ SmartPLS 4)

TD

YD

Hệ số R2

R2 hiệu chỉnh

CM

1,436

SGN

1,451

SV

1,243

CH

1,328

TD

1,000

0,451

0,447

YD

0,258

0,256

Bảng 4. Hệ số VIF và hệ số xác định của mô hình (R2)

(Nguồn: Kết quả xử lí từ SmartPLS 4)

- Kiểm tra đa cộng tuyến và hệ số xác định của mô hình: Các thang đo trong mô hình có giá trị VIF (Bảng 4) nằm trong khoảng từ 1,000-1,451, nhỏ hơn 5 theo khuyến nghị của Hair Jr et al. (2021). Điều này thể hiện mô hình không bị hiện tượng đa cộng tuyến. Bảng 4 cho thấy hệ số R2 hiệu chỉnh của các biến TD và YD đạt giá trị lần lượt là 0,447 và 0,256, tương ứng với mức ảnh hưởng vừa phải của 4 biến độc lập (CM, SGN, SV, CH) tới biến TD (giải thích được 44,7% sự biến thiên của biến TD); đồng thời biến TD giải thích được 25,6% sự biến thiên của biến YD của sinh viên.

- Kiểm định giả thuyết nghiên cứu: Các giả thuyết H1, H2, H3, H4 dữ liệu nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng thuận chiều của các biến “kỳ vọng chuẩn mực”, “mối quan hệ giữa sinh viên, giảng viên, nhà trường”, “mối quan hệ giữa sinh viên” và “cơ hội giáo dục” đến “thái độ học tập” của sinh viên trường đại học Quốc gia Hà Nội, do đó cả 4 giả thuyết đều được chấp nhận. Trong đó, yếu tố “mối quan hệ giữa sinh viên, giảng viên, nhà trường” có tác động mạnh nhất đến “thái độ học tập” (β =0,348; P=0.000). Điều này phản ánh sự hợp tác và cởi mở trong các vấn đề học tập, cũng như những định hướng quan trọng từ phía giáo viên, các điều kiện thuận lợi được cung câp từ phía nhà trường đã hình thành, hỗ trợ và phát triển thái độ học tập của sinh viên. Cơ hội giáo dục là yếu tố tác động mạnh thứ hai đến thái độ học tập (β =0,208; P=0.000), thể hiện cho việc các chương trình trao đổi và môi trường học thuật trong Đại học Hà Nội mang tới cho sinh viên những trải nghiệm và cảm nhận đáng chú ý, qua đó kích thích thái độ học tập của sinh viên.

Bảng 5. Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết

Hệ số đường dẫn (β)

Độ lệch chuẩn

Giá trị T

Giá trị P

Khoảng tin cậy (CI)

Kết quả

LL

UL

H1: CM -> TD

0,141

0,037

3,811

0,000

0,069

0,214

Chấp nhận

H2: SGN -> TD

0,348

0,041

8,550

0,000

0,267

0,427

Chấp nhận

H3: SV -> TD

0,201

0,035

5,815

0,000

0,132

0,268

Chấp nhận

H4: CH-> TD

0,208

0,037

5,565

0,000

0,135

0,280

Chấp nhận

H5: TD -> YD

0,508

0,033

15,209

0,000

0,439

0,568

Chấp nhận

(Nguồn: Kết quả xử lí từ SmartPLS 4)

Đối với giả thuyết H5, kết quả kiểm định cho thấy có ảnh hưởng thuận chiều ở đây khi giá trị β=0.508 và P=0.000, do đó giả thuyết H5 được chấp nhận. Thái độ học tập tích cực cho thấy mức độ sẵn sàng của sinh viên đối với các hoạt động và kế hoạch trong tương lai. Với niềm tin du học mang lại những cơ hội nghề nghiệp mới, hoàn thiện bản thân, trau dồi các kĩ năng sống, sinh viên với thái độ tốt có xu hướng tìm kiềm các cơ hội dịch chuyển hoạt động học tập ra các quốc gia tiên tiến và xác lập ý định du học của mình trong tương lai.

3. Kết luận

Nghiên cứu đã cho thấy những chứng cứ tin cậy được về ảnh hưởng của văn hoá trường hoá đến thái độ học tập và qua đó tác động đến ý định du học của sinh viên trong trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Các giả thuyết được đặt ra đều được xác nhận từ dữ liệu khảo sát thu thập được. Theo đó, có sự tác động thuận chiều giữa các yếu tố của văn hoá trường học bao gồm kỳ vọng chuẩn mực, mối quan hệ giữa sinh viên – giảng viên – nhà trường, mối quan hệ giữa sinh viên, cơ hội giáo dục đến thái độ học tập, và thái độ học tập tác động đến ý định du học của sinh viên.

Từ những kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị có thể được Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tăng cường và phát triển văn hoá nhà trường, nâng cao hơn nữa thái độ học tập và hình thành ý định du học nhiều hơn ở sinh viên. Trước hết, mối quan hệ giữa sinh viên – giáo viên – nhà trường cần được tăng cường hơn nữa theo hướng gắn kết và cởi mở. Điều này đòi hỏi đội ngũ giảng viên và cán bộ nhân viên trong nhà trường cần phải có được kỹ năng giao tiếp, thấu hiểu, cũng như trình độ, năng lực phải thực sự được nâng cao. Các cố vấn học tập cũng hỗ trợ tích cực hơn trong việc tư vấn chương trình, định hướng nghề nghiệp và kết nối với các trung tâm, doanh nghiệp để tạo thái độ học tập tích cực ở người học, từ đó tác động tới ý định du học của sinh viên. Giảng viên và nhà trường có thể ứng dụng một số các phương pháp đổi mởi giảng dạy, làm việc, nâng cao hơn nữa chất lượng mối quan hệ, từ đó tác động đến thái độ học tập, và định hướng ý định du học của sinh viên. Bên cạnh đó, việc tăng cường thêm các hoạt động nghiên cứu, trao đổi học thuật, hợp tác quốc tế, các hoạt động ngoại khoá về du học quốc tế giúp hình thành thêm các cơ hội giáo dục cho sinh viên, cũng như hình thành mối quan hệ tương tác tích cực giữa sinh viên với nhau, cởi mở hơn trong việc chia sẻ các định hướng tương lai.

Mặc dù nghiên cứu đã đạt được một số thành công nhất định, tuy nhiên vẫn còn một số những hạn chế: Một là, dữ liệu nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phạm vi trong một trường đại học với những yếu tố văn hoá đặc trưng của trường, mà chưa mở rộng ra được nghiên cứu sang các trường học khác; Hai là, mô hình đề xuất của nghiên cứu mới chỉ xem xét được tác động từ thái độ học tập, một yếu tố dẫn đến hành vi thực hiện, mà còn chưa xem xét được một cách cẩn trọng tác động từ hai yếu tố “chuẩn chủ quan” và “kiểm soát nhận thức” đến ý định du học. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo có thể hướng đến việc kiểm định mối quan hệ này trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

1. Apply Board (2025). Vietnamese students fuelling growth, stablity, and opportunity for ‘Big Four’ destinations, truy cập tại https://www.applyboard.com/applyinsights-article/vietnamese-students-fuelling-growth-stability-and-opportunity-for-big-four-destinations?utm

2. Başer, A., Sönmez, Ö. F., Kürklü Arpaçay, D., & Şahin, H. (2025). Adapting organizational culture scale into healthcare professional education: a scale validity and reliability analysis. Human Resources for Health, 23(1), 33.

3. Butkovic, A., Brkovic, I., Ines Buretic; The role of openness and cultural intelligence in students' intention to study abroad. Journal of Applied Research in Higher Education 2 January 2024; 16 (1): 236–245. https://doi.org/10.1108/JARHE-06-2022-0201

4. Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Evaluating structural equation models with unobservable variables and measurement error. Journal of Marketing Research, 18(1), 39-50. https://doi.org/10.1177/002224378101800104

5. Getie, A. S. (2020). Factors affecting the attitudes of students towards learning English as a foreign language. Cogent Education, 7(1). https://doi.org/10.1080/2331186X.2020.1738184

6. Hair Jr, J., Hair Jr, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C. M. & Sarstedt, M. (2021.) A primer on partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM). Sage publications.

7. Henseler, J., Ringle, C. M. & Sarstedt, M. (2015). A new criterion for assessing discriminant validity in variance-based structural equation modeling. Journal of the Academy of Marketing Science, 43, 115-135.

8. Higgins-D’Alessandro, A., & Sadh, D. (1998). The dimensions and measurement of school culture: Understanding school culture as the basis for school reform. International Journal of Educational Research, 27(7), 553-569.

9. Đặng Thành Hưng (2016), Văn hoá tổ chức và văn hoá nhà trường trong quản lý giáo dục, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, Số 124, tr 10 – 12.

10. Schnusenberg, O., Jong, P. (2010). Predicting Study Abroad Intentions Based on the Theory of Planned Behavior, Decision Sciences Journal of Innovative Education, Decision Sciences Institute, Vol 10 Number 3, pp 337 – 361.

11. Đỗ Thị Mỹ Trang, Đỗ Mạnh Cường, Đoàn Huệ Dung (2019). Đánh giá sự thay đổi thái độ học tập của sinh viên trường Đại học sư phạm kĩ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 64 (4), tr. 51 – 60.

12. Phan Anh Tú, Trịnh Thuý Hằng (2016). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định du học sau khi tốt nghiệp của sinh viên khoa Kinh tế Trường Đại học Cần Thơ, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 46d: 122 – 129.