Nguyễn Thị Hải Vân -
Phó Hiệu trưởng, Trường Mầm non Ban Mai, phường Hà Đông, Hà Nội
Email: [email protected]
Tóm tắt: Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại các trường mầm non có vai trò rất quan trong, là một bộ phận không thể tách rời trong quá trình giáo dục trẻ, nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và hành vi xã hội. Đồng thời, đảm bảo điều kiện dinh dưỡng, vệ sinh, sức khoẻ, an toàn và hỗ trợ tâm lý - xã hội cho trẻ, đáp ứng yêu cầu giáo dục ở cấp mầm non, đảm bảo điều kiện cho trẻ sẵn sàng bước vào lớp 1.
Từ khoá: Chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ; Trường mầm non tư thục; Thành phố Hà Nội.
Nhận bài: 3/10/2025; Biên tập:5/10/2025; Duyệt đăng:7/10/2025
1. Đặt vấn đề
Hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng (CS,ND) trẻ tại trường mầm non (TMN) là quá trình tổ chức có kế hoạch, thường xuyên và phù hợp với độ tuổi, nhằm đảm bảo các điều kiện về dinh dưỡng, vệ sinh, y tế, an toàn và hỗ trợ tinh thần cho trẻ trong môi trường giáo dục. Đây là hoạt động mang tính tích hợp giữa chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, giáo viên, nhân viên y tế và phụ huynh nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện cho trẻ. Để thực hiện tốt vấn đề này, các chủ thể cần thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp quản lý trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại các TMN hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
Quản lý hoạt động CS,ND trẻ tại TMN là quá trình tổ chức, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh toàn diện của các chủ thể quản lý đến các hoạt động CS,ND theo hướng hệ thống, có kế hoạch, đồng thời đảm bảo phối hợp hiệu quả giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm đạt được mục đích, yêu cầu, nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đã xác định. Mục tiêu CS,ND tại các TMN nhằm phát triển thể chất, phát triển tình cảm và xã hội, phát triển trí tuệ và nhận thức,… cho trẻ. Ban giám hiệu, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, phụ huynh có vai trò rất quan trọng và thường xuyên đối với quản lý hoạt động CS,ND trẻ tại các TMN; trong đó, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất trong tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường.
Thực tế thời gian qua, hoạt động CS,ND trẻ tại các TMN, trong đó có các TMN tư thục bên cạnh những ưu điểm là cơ bản, còn có những hạn chế, bất cập cần khắc phục, như: nhận thức về mục tiêu chăm sóc, nuôi dưỡng của một bộ phận CBQL, giáo viên, nhân viên, phụ huynh chưa thật đầy đủ và sâu sắc; hoạt động CS,ND trẻ ở một số TMN có thời điểm chất lượng còn hạn chế; cơ sở vật chất và điều kiện đảm bảo cho hoạt động CS,ND trẻ còn thiếu, chưa đồng bộ; trình độ, năng lực, kỹ năng CS,ND trẻ của CBQL, giáo viên, nhân viên có mặt còn hạn chế; một số trục quản trị còn thiếu minh chứng định lượng và cơ chế chuẩn hoá tới trẻ - gia đình ở một số TMN. Những hạn chế đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và kết quả quản lý hoạt động CS,ND trẻ tại các TMN, trong đó có các TMN tư thục. Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động CS, ND trẻ tại các trường mầm non tư thục, thành phố Hà Nội hiện nay, các chủ thể quản lý cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau:
Một là, tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các chủ thể quản lý về quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại các trường mầm non tư thục
Biện pháp này nhằm nâng cao nhận thức toàn diện của CBQL, giáo viên, nhân viên và phụ huynh về vai trò, ý nghĩa và mục tiêu của hoạt động và quản lý hoạ động CS,ND trẻ tại các TMN tư thục hiện nay; đồng thời, tuyên truyền làm cho các lực lượng xã hội, cơ quan y tế, an toàn thực phẩm, tổ dân phố,… đều thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc phối hợp cùng các TMN tư thục và gia đình trong quản lý hoạt động CS,ND trẻ. Nội dung cần tập trung tuyên tuyền về khung mục tiêu chăm sóc, nuôi dưỡng toàn diện, bao gồm phát triển thể chất, dinh dưỡng hợp lý, kỹ năng xã hội, tình cảm - nhân cách và đặc biệt là kỹ năng tự phục vụ; phổ biến quy trình CS,ND trẻ theo yêu cầu chuẩn hoá và kiến thức về phòng chống dịch bệnh, an toàn thương tích, và thói quen sinh hoạt khoa học. Cùng với đó, lồng ghép tuyên truyền về giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh vào hoạt động thường ngày của trẻ ở trường và ở nhà; nguy cơ suy dinh dưỡng hoặc thừa cân đối với trẻ.
Ban giám hiệu và CBQL các TMN tư thục cần xây dựng kế hoạch truyền thông cụ thể theo năm học, xác định nội dung, hình thức truyền thông phù hợp, hiệu quả, nhấn mạnh kỹ năng chăm sóc trẻ tại gia đình, cũng như sự đồng hành và hỗ trợ của cộng đồng. Tiến hành tuyên truyền thông qua: họp phụ huynh, toạ đàm, hội thảo, sử dụng công nghệ số...; phối hợp với các cơ quan y tế, an toàn thực phẩm và các chuyên gia dinh dưỡng để tổ chức tập huấn, hội thảo chuyên đề…
Hai là, bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng CS,ND trẻ cho CBQL, giáo viên, nhân viên trực tiếp thực hiện hoạt động CS,ND trẻ tại các TMN tư thục.
Thực hiện tốt biện pháp này nhằm giúp đội ngũ nắm vững kiến thức khoa học về dinh dưỡng, vệ sinh, y tế học đường; thành thạo các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng; có khả năng tổ chức bữa ăn, giấc ngủ, vệ sinh và chăm sóc sức khoẻ cho trẻ một cách khoa học, an toàn. Đồng thời, nâng cao kỹ năng xử lý linh hoạt các tình huống khẩn cấp, biết cách lồng ghép giáo dục kỹ năng sống và giá trị văn hoá vào hoạt động CS,ND trẻ cho đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên.
Nội dung bồi dưỡng cần tập trung trang bị kiến thức và kỹ năng về dinh dưỡng, vệ sinh và y tế học đường cho CBQL, giáo viên, nhân viên, như: nguyên tắc xây dựng khẩu phần ăn cân đối theo lứa tuổi; biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng, thừa cân, dị ứng thực phẩm; quy trình bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo chuẩn hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn trong an toàn thực phẩm (HACCP); các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trong môi trường tại các TMN tư thục; kỹ năng tổ chức đa dạng hình thức bữa ăn và giáo dục thông qua bữa ăn cho trẻ. Ban giám hiệu các TMN tư thục xây dựng kế hoạch bồi dưỡng hằng năm khao học, phù hợp, cụ thể, sát thực tiễn, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ. Các TMN tư thục nghiên cứu, tổ chức bồi dưỡng thông qua các hình thức tổ chức như: bữa ăn hộp bento, bữa ăn gia đình, tiệc buffet mini, tiệc trà chiều, bữa ăn theo chủ đề lễ hội,... cho trẻ, nhằm đa dạng hoá trải nghiệm dinh dưỡng, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng xã hội cho trẻ; đồng thời, nâng cao năng lực, kỹ năng CS,ND trẻ cho đọi ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên trong nhà trường.
Các TMN tư thục chú trọng chuẩn hoá quy trình CS,ND trẻ bao gồm: quy trình bếp ăn một chiều; quy trình tổ chức bữa ăn; quy trình xử lý ngộ độc thực phẩm; quy trình sơ cấp cứu ban đầu. Các quy trình này cần được đưa vào thực hành thông qua diễn tập tình huống giả định nhằm nâng cao năng lự, kỹ năng xử lý và ứng phó với các tình huống trong quá trình CS,ND trẻ cho đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên. Mặt khác, cần bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng quan sát và cá nhân hoá CS,ND trẻ cho đội ngũ; lập hồ sơ dinh dưỡng, biểu đồ tăng trưởng, kế hoạch chăm sóc cá nhân (ICP) cho trẻ có nhu cầu đặc biệt; tăng cường ứng dụng công nghệ số nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động CS,ND trẻ tại các TMN tư thục. Gắn kết bồi dưỡng với chính sách, như: cơ chế khen thưởng gắn với kết quả bồi dưỡng; hỗ trợ kinh phí tập huấn; có lộ trình phát triển, danh hiệu thi đua; quan tâm đến quyền lợi bảo hiểm, chế độ nghỉ ngơi, phúc lợi tập thể,... để CBQL, giáo viên, nhân viên yên tâm công tác và cống hiến; có động lực học tập, phát triển nghề nghiệp và gắn bó lâu dài với nhà trường.
Tiến hành bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng CS,ND trẻ cho CBQL, giáo viên, nhân viên thông qua các hình thức, như: mời chuyên gia từ bệnh viện nhi, viện dinh dưỡng, trường đào tạo ẩm thực hoặc cơ quan chức năng đến tập huấn định kỳ; tập huấn chuyên đề, lớp học kết hợp lý thuyết và thực hành, diễn tập tình huống khẩn cấp, sinh hoạt chuyên môn, dự giờ, chia sẻ kinh nghiệm; khuyến khích đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên tích cực, chủ động tự học tập, tự bồi dưỡng; thông qua tham gia các khoá học trực tuyến, nghiên cứu tài liệu, hoặc sử dụng ngân hàng video tình huống để rèn luyện kỹ năng CS,ND trẻ.
Ba là, tham mưu xây dựng và hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên các TMN tư thục.
Các TMN tư thục tự chủ về tài chính, đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên vừa là lực lượng trực tiếp thực hiện công tác CS,ND, vừa là yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ giáo dục. Vì vậy, việc thường xuyên tham mưu của ban giám hiệu, CBQL, giáo viên, nhân viên, phụ huynh về xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách đãi ngộ hợp lý, công bằng, đúng quy định với chủ đầu tư là rất quan trọng, nhằm tạo động lực nghề nghiệp, khuyến khích tinh thần gắn bó lâu dài, nâng cao chất lượng và sự ổn định trong hoạt động CS,ND trẻ; góp phần khẳng định uy tín, thương hiệu và năng lực cạnh tranh của các TMN tư thục hiện nay.
Thực hiện biện pháp này, các TMN tư thực cần thực hiện tốt những nội dung gồm: đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho CBQL, giáo viên, nhân viên thông qua thu nhập ổn định, công bằng và phù hợp với công sức, trình độ chuyên môn; hoàn thiện các chế độ lương, phụ cấp, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết kịp thời những vướng mắc, đảm bảo tính minh bạch và niềm tin của đội ngũ; xây dựng chính sách khuyến khích học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, hỗ trợ chi phí đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng CS,ND trẻ; tạo dựng môi trường làm việc an toàn, thân thiện, tôn trọng, nhằm phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, ý thức và đạo đức nghề nghiệp của CBQL, giáo viên và nhân viên.
Các TMN tư thục cần xây dựng hệ thống chính sách đãi ngộ, gắn với đặc thù tự chủ tài chính và yêu cầu cạnh tranh của mô hình ngoài công lập. Từng TMN tư thục cần có chính sách khen thưởng định kỳ, có thể theo quý hoặc năm học; đảm bảo tính minh bạch, với tiêu chí cụ thể và được công khai trong tập thể, nhằm vinh danh và động viên kịp thời các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác CS,ND trẻ, tạo động lực và lan toả tinh thần cống hiến cho CBQL, giáo viên, nhân viên. Đồng thời, xây dựng bản mô tả công việc rõ ràng cho từng vị trí công việc, giúp xác định đúng vai trò, trách nhiệm và lộ trình phát triển nghề nghiệp, cũng như đánh giá chính xác kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng CBQL, giáo viên, nhân viên.
Ngoài nguồn tài chính từ học phí, các TMN tư thục cần huy động nguồn lực xã hội hoá từ phụ huynh, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, hoặc các quỹ hỗ trợ giáo dục để giảm gánh nặng chi phí, đồng thời mở rộng phúc lợi cho đội ngũ. Mọi chính sách cần được công khai, lấy ý kiến góp ý của CBQL, giáo viên, nhân viên trước khi ban hành để tạo niềm tin và sự gắn kết nội bộ.
Bốn là, đảm bảo môi trường và điều kiện cơ sở vật chất cho hoạt động CS,ND trẻ tại các TMN tư thục.
Thực hiện tốt biện pháp này nhằm giúp cho trẻ được thụ hưởng điều kiện sinh hoạt, vui chơi, học tập tối ưu trong giai đoạn đầu đời; đồng thời, khích lệ tinh thần và nâng cao hiệu suất làm việc của đội ngũ giáo viên, nhân viên, giúp họ yên tâm công tác, gắn bó với nhà trường; tạo dựng niềm tin với phụ huynh và khẳng định thương hiệu của từng TMN tư thục trên địa bàn Thủ đô hiện nay.
Các TMN thục cần xây dựng kế hoạch ngân sách hằng năm dành riêng cho cơ sở vật chất, trong đó phân định rõ ba hạng mục: sửa chữa định kỳ, thay thế hoặc đổi mới khi hỏng hóc, đầu tư mới nhằm mở rộng hoặc hiện đại hoá; hoàn thiện quy trình báo hỏng - sửa chữa - đầu tư mới, kịp thời xử lý khắc phục những vấn đề nảy sinh trong quá trình CS,ND, giáo dục trẻ. Ban giám hiệu các TMN cần xây dựng ban hành quy định quản lý tài sản và kế hoạch bảo dưỡng định kỳ, gắn trách nhiệm quản lý đến từng lớp, từng phòng chức năng và nâng cao ý thức trong sử dụng; gắn việc quản lý cơ sở vật chất với tiêu chuẩn môi trường - sức khoẻ - an toàn (EHS), bao gồm: đảm bảo chất lượng nước, hệ thống thông gió và ánh sáng, kiểm định thiết bị sân chơi và phòng cháy, chữa cháy, quản lý vệ sinh môi trường và chất thải, nhằm bảo đảm an toàn và thân thiện với trẻ. Từng TMN tư thục cần duy trì kênh tiếp nhận phản hồi từ giáo viên, nhân viên, phụ huynh về việc đảm bảo điều kiện, môi trường, cơ sở vật chất của nhà trường; nghiên cứu thực tiễn và kịp thời điều chỉnh, bổ sung cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng CS,ND trẻ. Mặt khác, các TMN tư thục cần tăng cường xã hội hoá, huy động sự tham gia của phụ huynh và cộng đồng ửng hộ, đongs góp cơ sở vật chất nahừm đảm bảo cho hoạt động CS,ND, giáo dục trẻ ngày càng tốt hơn. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá việc sử dụng, quản lý hệ thống cơ sở vật chất trong nhà trường. Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích tốt trong quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở vật chất.
Năm là, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động CS,ND trẻ tại các TMN tư thục.
Các TMN tư thục cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá toàn diện và công khai: chế độ dinh dưỡng, bữa ăn, giấc ngủ, vệ sinh cá nhân, sức khoẻ thể chất, an toàn trong trường học, sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường,… trong quá trình CS,ND trẻ; tăng cường kiểm tra phòng ngừa và giám sát thường xuyên trong quá trình CS,ND trẻ . Đặc biệt, Các TMN tư thục cần xây dựng bộ tiêu chí riêng cho những nhóm trẻ đặc thù, như: trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, có dị ứng thực phẩm, hoặc cần hỗ trợ y tế đặc biệt, góp phần nâng cao chất lượng CS,ND trẻ trong GDMN hiện nay.
Tăng cường ứng dụng công nghệ số trong kiểm tra, đánh giá kết quả CS,ND trẻ tại các TMN tư thục, như: triển khai phần mềm số hóa quản lý hoạt động CS,ND, giáo dục trẻ; hệ thống nhập liệu điện tử; bảng đánh giá trực tuyến; camera giám sát để thu thập dữ liệu chính xác, minh bạch. Mặt khác, công tác kiểm tra, đánh giá cần gắn liền với sự phối hợp đa chiều: giữa giáo viên, nhân viên và phụ huynh, giữa nhà trường với cơ quan y tế, cơ quan an toàn vệ sinh thực phẩm và chính quyền địa phương, nhằm để tạo ra cơ chế kiểm tra chéo, tạo sự đồng bộ trong CS,ND trẻ.
Để biện pháp kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động CS,ND trẻ tại các TMN tư thục đạt hiệu quả cao, các TMN tư thục cần triển khai theo một quy trình khoa học, thống nhất, có sự kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, giám sát thường xuyên, ứng dụng công nghệ và cải tiến liên tục. Quy trình đó cần được cụ thể hoá qua 4 bước gồm: lập kế hoạch (planning); bồi dưỡng (training); giám sát (moniter); đánh giá và cải tiến (evaluation and improvement). Ngoài ra, để tăng cường hiệu quả, các TMN cần ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ quá trình: sử dụng phần mềm quản lý, bảng biểu điện tử, hệ thống lưu trữ dữ liệu và báo cáo trực tuyến. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với cơ quan y tế, an toàn vệ sinh thực phẩm và chính quyền địa phương trong quá trình kiểm tra, giám sát, đánh giá, đảm bảo khách quan, minh bạch. Kết quả kiểm tra cần được tổng hợp nhanh chóng, trực quan hoá bằng biểu đồ, báo cáo số liệu, kịp thời chia sẻ với CBQL, giáo viên, nhân viên, phụ huynh; qua đó tạo sự tin tưởng và đồng thuận từ gia đình, xã hội.
3. Kết luận
Quản lý hoạt động CS,ND trẻ tại các TMN tư thục, thành phố Hà Nội là vấn đề rất quan trọng hiện nay. Để thực hiện tốt điều đó, các nhà trường cần tiến hành đồng bộ, hiệu quả các biện pháp trên, không xem nhẹ biện pháp nào; trong đó, đcặ biệt chú trọng các biện pháp: bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng CS,ND trẻ cho CBQL, giáo viên, nhân viên và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động CS,ND trẻ; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả CS,ND, giáo dục trẻ tại các TMN tư thục trên địa bàn Thủ Đô hiện nay.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, Hà Nội, 2020.
2. Lê Thu Hà và cộng sự, “Thực trạng tình hình dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ mầm non 3-5 tuổi tại Hà Nội”, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, Số 16 (3)/2020, tr. 65 - 74.
3. Đặng Thị Thanh Huyền (Chủ biên, 2022), Quản trị hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở cơ sở giáo dục mầm non tự chủ và trách nhiệm giải trình, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2022.
4. Luật Giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019.
5. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 02/QĐ-TTg ban hành Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2021 - 2030, Hà Nội, 2022.