Nguyễn Thị Kim Quê – Trần Mộng Nghi
Đại học Cần Thơ
Email: [email protected]
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng quyết liệt, yêu cầu đặt ra đối với giáo dục Việt Nam không chỉ là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn phải bồi dưỡng một lớp trí thức trẻ có bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia gắn với mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bài viết sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu lý luận kết hợp phân tích chính sách trên cơ sở vận dụng khung lý thuyết về phát triển con người, năng lực chủ thể, giáo dục công dân trong thời đại số và giáo dục phê phán. Từ việc hệ thống hóa các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chiến lược phát triển giáo dục, thanh niên, khoa học công nghệ và chuyển đổi số, bài viết phân tích thực trạng bồi dưỡng trí thức trẻ ở Việt Nam hiện nay trên ba phương diện nhận thức, chương trình giáo dục và môi trường thể chế. Kết quả cho thấy khoảng cách nổi bật nằm ở sự chưa đồng bộ giữa yêu cầu chính trị tư tưởng với thiết kế chương trình, giữa mục tiêu đào tạo nhân lực với mục tiêu bồi dưỡng chủ thể kiến tạo phát triển, và giữa chuyển đổi số với năng lực sàng lọc, phản biện và cống hiến của người học. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp về nhận thức, nội dung chương trình, phương pháp tổ chức và cơ chế chính sách, qua đó góp phần làm rõ cơ sở khoa học cho việc xây dựng thế hệ trí thức trẻ Việt Nam vừa hồng vừa chuyên trong điều kiện phát triển mới của đất nước.
Từ khóa: Trí thức trẻ Việt Nam, tư duy chiến lược, trách nhiệm quốc gia, giáo dục chính trị tư tưởng, chuyển đổi số, chủ nghĩa xã hội
1. Đặt vấn đề
Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, giáo dục không còn được nhìn nhận đơn thuần như một thiết chế truyền thụ tri thức mà đã trở thành một không gian kiến tạo năng lực quốc gia, định hình chất lượng công dân và bồi đắp sức mạnh mềm của dân tộc. Trong điều kiện toàn cầu hóa sâu rộng, sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo, truyền thông số và kinh tế tri thức đang làm thay đổi cấu trúc nghề nghiệp, hình thái lao động, phương thức tham gia xã hội và cả hệ giá trị của thế hệ trẻ. OECD nhấn mạnh rằng giáo dục tương lai phải hướng tới việc hình thành cho người học không chỉ tri thức và kỹ năng mà còn cả thái độ, giá trị, năng lực chủ thể và hành động có trách nhiệm. UNESCO đồng thời khẳng định giáo dục công dân trong thời đại số có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành những công dân có hiểu biết, có trách nhiệm và có khả năng tham gia tích cực vào đời sống xã hội.
Đối với Việt Nam, yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết khi đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số và xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, hiện đại, công bằng, chất lượng. Nghị quyết số 29 của Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng đối với giáo dục. Sau hơn mười năm triển khai, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 91 nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết 29 trong bối cảnh mới, đồng thời Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng thúc đẩy triển khai Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với các nhóm nhiệm vụ nhấn mạnh đổi mới nội dung, phương pháp, quản trị, chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế. Song hành với đó, Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, trong đó nhân lực chất lượng cao là một trụ cột cốt lõi.
Tuy nhiên, giữa yêu cầu chiến lược của đất nước và thực tiễn bồi dưỡng trí thức trẻ vẫn còn một số khoảng trống đáng chú ý. Trong lý luận, khái niệm trí thức trẻ thường được tiếp cận theo hướng nhấn mạnh trình độ chuyên môn hoặc vai trò lực lượng xã hội, trong khi chiều cạnh tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia gắn với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội chưa được phát triển thành một khung phân tích hoàn chỉnh trong giáo dục chính trị tư tưởng. Trong thực tiễn, nhiều chương trình giáo dục vẫn thiên về truyền đạt nội dung theo tuyến kiến thức tách rời, chưa tích hợp hiệu quả giữa tri thức chuyên môn, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, năng lực công dân số, ý thức phụng sự và khả năng tham gia giải quyết các vấn đề phát triển quốc gia. Không ít nơi, giáo dục chính trị tư tưởng còn mang tính tuyến tính, nặng thông tin, nhẹ trải nghiệm, trong khi môi trường số lại liên tục sản xuất những luồng thông tin đa chiều, thậm chí sai lệch, có thể làm suy giảm tính bền vững của niềm tin và lý tưởng nếu người học thiếu năng lực phản biện, chọn lọc và tự định vị giá trị.
Từ thực tế đó, bài viết đặt ra mục tiêu làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở chính sách của việc bồi dưỡng trí thức trẻ Việt Nam với tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phân tích thực trạng và cơ chế tác động của quá trình này trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp khả thi theo hướng nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng gắn với phát triển con người toàn diện, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc cho quốc gia trong giai đoạn mới. Ý nghĩa của nghiên cứu không chỉ nằm ở việc bổ sung một tiếp cận lý luận liên ngành giữa giáo dục chính trị tư tưởng, khoa học chính sách và khoa học xã hội mà còn ở khả năng cung cấp gợi ý vận dụng cho các cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý và tổ chức thanh niên trong quá trình thiết kế chương trình, mô hình và cơ chế bồi dưỡng trí thức trẻ Việt Nam hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận và khung phân tích
Trước hết cần làm rõ khái niệm trung tâm của nghiên cứu. Trí thức trẻ Việt Nam trong bài viết này được hiểu là bộ phận thanh niên có trình độ học vấn, chuyên môn, năng lực tiếp nhận và sáng tạo tri thức, đang hoặc sẽ tham gia trực tiếp vào các lĩnh vực nghiên cứu, quản lý, sản xuất, dịch vụ, giáo dục, công nghệ và đời sống xã hội. Đây không chỉ là một nhóm nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp cao mà còn là một lực lượng xã hội mang tiềm năng dẫn dắt đổi mới, lan tỏa giá trị và tham gia kiến tạo tương lai quốc gia. Khi đặt trong định hướng xã hội chủ nghĩa, trí thức trẻ không chỉ được kỳ vọng giỏi chuyên môn mà còn phải có bản lĩnh chính trị, đạo đức công dân, năng lực nhận thức đúng lợi ích quốc gia dân tộc, khả năng gắn sự phát triển bản thân với sự phát triển của cộng đồng và đất nước.
Tư duy chiến lược có thể được hiểu là năng lực nhận diện xu thế lớn, dự báo biến động, kết nối mục tiêu ngắn hạn với mục tiêu dài hạn, nhìn thấy mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, tổ chức và quốc gia, từ đó chủ động lựa chọn hành động phù hợp với định hướng phát triển bền vững. Đối với trí thức trẻ, tư duy chiến lược không đồng nhất với kỹ năng quản trị cấp cao mà là khả năng nhận thức vấn đề trong tầm nhìn dài hạn, có hệ quy chiếu quốc gia, có ý thức hệ giá trị và biết chuyển hóa tri thức thành đóng góp xã hội. Trong điều kiện kinh tế tri thức và chuyển đổi số, tư duy chiến lược còn gắn với năng lực xử lý thông tin phức hợp, làm việc liên ngành, đánh giá hệ quả xã hội của công nghệ và chủ động tham gia vào việc giải quyết các thách thức phát triển.
Trách nhiệm quốc gia là một phạm trù vừa mang tính chính trị, đạo đức, pháp lý, vừa mang tính văn hóa công dân. Đó là sự thống nhất giữa nhận thức về vị trí của bản thân trong cộng đồng dân tộc, niềm tin vào con đường phát triển của đất nước, ý thức tôn trọng pháp luật, trách nhiệm phụng sự xã hội và tinh thần dấn thân vì lợi ích chung. Nếu coi lòng yêu nước là nền cảm xúc giá trị thì trách nhiệm quốc gia là sự thể chế hóa và hành động hóa tình cảm ấy trong học tập, lao động, nghiên cứu, sáng tạo, bảo vệ chủ quyền, giữ gìn bản sắc văn hóa và xây dựng trật tự xã hội tiến bộ. Trong môi trường số, trách nhiệm quốc gia còn bao gồm trách nhiệm thông tin, trách nhiệm phát ngôn, trách nhiệm ứng xử trên không gian mạng và trách nhiệm bảo vệ môi trường dữ liệu, văn hóa và an ninh nhận thức của cộng đồng.
Về nền tảng lý thuyết, bài viết vận dụng bốn lớp tiếp cận bổ trợ cho nhau.
Thứ nhất là tiếp cận phát triển con người và năng lực chủ thể. OECD nhấn mạnh vai trò của agency, tức năng lực chủ động tạo ảnh hưởng và định hướng hành động của người học trong một thế giới bất định. Đây là gợi ý quan trọng để nhìn nhận trí thức trẻ không chỉ là đối tượng tiếp nhận giáo dục mà còn là chủ thể kiến tạo xã hội.
Thứ hai là tiếp cận giáo dục công dân và công dân số. UNESCO cho rằng giáo dục công dân trong thời đại số cần bồi dưỡng con người có hiểu biết, có trách nhiệm, biết tham gia, biết hợp tác và hành xử có đạo đức trong môi trường số. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu giáo dục trí thức trẻ Việt Nam trong bối cảnh không gian mạng trở thành nơi diễn ra cạnh tranh giá trị, lan truyền tri thức, tác động nhận thức và tổ chức hành động xã hội.
Thứ ba là tiếp cận giáo dục phê phán của Paulo Freire. Tư tưởng của Freire nhấn mạnh giáo dục đối thoại, giải phóng và hình thành ý thức phê phán, chống lại kiểu giáo dục áp đặt chỉ coi người học như nơi lưu trữ thông tin. Vận dụng theo tinh thần chọn lọc, tiếp cận này giúp làm sâu sắc yêu cầu đổi mới giáo dục chính trị tư tưởng ở Việt Nam theo hướng không chỉ truyền đạt chân lý mà còn tạo điều kiện để người học tự chiếm lĩnh chân lý bằng lý trí, trải nghiệm và dấn thân xã hội.
Thứ tư là tiếp cận chính sách phát triển quốc gia. Trong khung này, giáo dục trí thức trẻ được xem là một mắt xích của hệ sinh thái phát triển gồm Đảng, Nhà nước, cơ sở giáo dục, thị trường lao động, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp khoa học công nghệ và không gian công cộng số. Điều đó có nghĩa chất lượng bồi dưỡng tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia không chỉ phụ thuộc vào môn học lý luận chính trị mà còn phụ thuộc vào cấu trúc chương trình đào tạo, phương thức quản trị nhà trường, cơ chế trọng dụng nhân tài, chính sách thanh niên, chính sách khoa học công nghệ và môi trường văn hóa xã hội.
Từ các nền tảng trên, bài viết đề xuất một khung phân tích gồm bốn hợp phần liên thông. Hợp phần thứ nhất là đầu vào giá trị, gồm hệ tư tưởng, mục tiêu phát triển quốc gia, truyền thống dân tộc, yêu cầu hội nhập và chuyển đổi số. Hợp phần thứ hai là quá trình giáo dục, gồm nội dung chương trình, phương pháp sư phạm, môi trường trải nghiệm, tổ chức Đoàn Hội và nền tảng số học tập. Hợp phần thứ ba là cơ chế chuyển hóa, gồm năng lực phản biện, đối thoại, thực hành xã hội, tự giáo dục, động cơ cống hiến và cơ hội tham gia giải quyết vấn đề công. Hợp phần thứ tư là đầu ra phát triển, gồm bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược, trách nhiệm quốc gia, năng lực đổi mới sáng tạo và cam kết phụng sự đất nước. Khung này cho phép nhìn nhận giáo dục chính trị tư tưởng như một quá trình chuyển hóa từ nhận thức thành giá trị, từ giá trị thành hành vi, từ hành vi thành năng lực phát triển quốc gia.
2.2. Cơ sở chính sách và định hướng chính trị tư tưởng
Việc bồi dưỡng trí thức trẻ Việt Nam với tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia có nền tảng chính sách khá rõ trong hệ thống văn kiện hiện hành. Nghị quyết số 29 xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Sau mười năm triển khai, Kết luận số 91 tiếp tục nhấn mạnh việc nhận diện các vấn đề mới đặt ra, khắc phục hạn chế và đẩy mạnh đổi mới toàn diện giáo dục. Đây là căn cứ chính trị quan trọng để chuyển giáo dục từ nặng truyền đạt sang phát triển phẩm chất, năng lực và bản lĩnh của người học.
Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nêu rõ mười nhóm nhiệm vụ giải pháp, trong đó nổi bật là đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, phát triển đội ngũ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, tăng cường nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế. Những định hướng này không chỉ phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo nói chung mà còn tạo hành lang để tái cấu trúc giáo dục chính trị tư tưởng theo hướng hiện đại, liên ngành và gắn thực tiễn.
Luật Giáo dục năm 2019 và các định hướng triển khai của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt ra yêu cầu phát triển con người Việt Nam toàn diện, có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp và ý thức công dân. Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021 đến 2030 tiếp tục khẳng định thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chương trình tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng giai đoạn 2021 đến 2030 cho thấy giáo dục giá trị, lý tưởng và khát vọng phát triển không phải là hoạt động phụ trợ mà là một nhiệm vụ có tính chiến lược.
Đặc biệt, Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị và Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 đến 2025, định hướng đến năm 2030 cho thấy giáo dục hiện nay không thể tách khỏi yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu số. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số năm 2025 và tổ chức các hội nghị chuyển đổi số trong giáo dục để đánh giá kết quả giai đoạn 2022 đến 2025 và định hướng giai đoạn 2026 đến 2030. Những chính sách này tạo nên bối cảnh mới cho giáo dục trí thức trẻ, trong đó người học vừa là chủ thể tiếp nhận tri thức số vừa là lực lượng sản xuất tri thức, sáng tạo công nghệ và tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng.
Có thể thấy hệ thống chính sách hiện nay đã hình thành một trục khá rõ gồm đổi mới giáo dục, phát triển thanh niên, chuyển đổi số, khoa học công nghệ và bồi dưỡng lý tưởng cách mạng. Vấn đề còn lại là làm thế nào chuyển các định hướng đó thành một mô hình giáo dục nhất quán để tạo ra lớp trí thức trẻ không chỉ thích ứng với thị trường lao động mà còn có khả năng góp phần định hướng sự phát triển quốc gia theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2.3. Thực trạng bồi dưỡng trí thức trẻ Việt Nam hiện nay
Nhìn tổng quát, công tác bồi dưỡng trí thức trẻ Việt Nam trong thời gian qua đã đạt một số kết quả quan trọng. Về nhận thức chính trị xã hội, phần lớn thanh niên, học sinh, sinh viên có tinh thần yêu nước, ý thức vươn lên, sẵn sàng tham gia hoạt động cộng đồng, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tình nguyện vì xã hội. Các chương trình giáo dục lý tưởng cách mạng, hoạt động Đoàn Hội, phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học, chương trình chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo trong trường học đã tạo ra nhiều không gian để người trẻ thể hiện năng lực và trách nhiệm. Về thể chế, Việt Nam đã có nhiều văn bản chính sách liên quan trực tiếp đến thanh niên, giáo dục, chuyển đổi số và khoa học công nghệ. Về môi trường đào tạo, nhiều cơ sở giáo dục đã quan tâm hơn đến đổi mới phương pháp giảng dạy, kết nối doanh nghiệp, thúc đẩy học tập trải nghiệm và nâng cao năng lực số.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với mục tiêu bồi dưỡng trí thức trẻ có tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia, thực trạng vẫn bộc lộ nhiều giới hạn.
Thứ nhất là giới hạn trong nhận thức về mục tiêu giáo dục trí thức trẻ. Ở không ít nơi, giáo dục vẫn chủ yếu được nhìn theo logic cung ứng nhân lực và thành tích học tập, trong khi nhiệm vụ hình thành bản lĩnh chính trị, tầm nhìn phát triển quốc gia và trách nhiệm xã hội chưa được tích hợp thành một triết lý vận hành xuyên suốt. Điều này dẫn đến tình trạng người học có thể giỏi kỹ năng chuyên môn nhưng chưa thật sự gắn việc học với sứ mệnh phụng sự đất nước. Nói cách khác, mục tiêu đào tạo nhân lực chưa luôn đồng thời là mục tiêu đào tạo công dân chiến lược.
Thứ hai là giới hạn trong cấu trúc chương trình. Chương trình giáo dục chính trị tư tưởng ở nhiều cấp học đã có đổi mới nhưng nhìn chung vẫn còn xu hướng tách rời giữa môn lý luận chính trị với các học phần chuyên môn, giữa nội dung giáo dục lý tưởng với vấn đề phát triển cụ thể của đất nước như an ninh phi truyền thống, chủ quyền số, bất bình đẳng số, đạo đức trí tuệ nhân tạo, phát triển bền vững, khoa học công nghệ chiến lược hoặc quản trị quốc gia trong môi trường số. Khi nội dung chưa đủ gần với các vấn đề lớn mà thế hệ trẻ đang đối diện, khả năng hấp thụ và chuyển hóa thành niềm tin hành động sẽ hạn chế.
Thứ ba là giới hạn trong phương pháp tổ chức giáo dục. Cách dạy học một chiều, nặng diễn giải vẫn hiện diện trong một bộ phận cơ sở đào tạo. Trong khi đó, tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia chỉ có thể hình thành bền vững khi người học được tham gia đối thoại, tranh biện, giải quyết tình huống thực tiễn, nghiên cứu chính sách, thực hành dự án cộng đồng và trải nghiệm không gian công dân số. Nếu giáo dục chính trị tư tưởng chỉ dừng ở học thuộc kết luận đúng thì khó tạo ra chủ thể có khả năng bảo vệ cái đúng trong bối cảnh xuất hiện nhiều thông tin sai lệch, diễn ngôn cực đoan và áp lực đồng thuận ảo trên mạng xã hội. Các nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy môi trường số tác động mạnh đến quá trình xã hội hóa chính trị của thanh niên, vừa mở rộng khả năng tham gia, vừa đặt ra nguy cơ phân mảnh nhận thức và hành động bột phát nếu thiếu nền tảng phản biện và định hướng giá trị.
Thứ tư là giới hạn trong cơ chế kết nối giữa nhà trường, tổ chức xã hội và hệ thống chính sách. Công tác bồi dưỡng trí thức trẻ nhiều nơi vẫn chưa được thiết kế như một hệ sinh thái liên thông. Nhà trường dạy kiến thức, Đoàn Hội tổ chức phong trào, doanh nghiệp tuyển dụng, cơ quan quản lý ban hành chính sách nhưng sự phối hợp để cùng hình thành một hành trình phát triển cho người trẻ còn thiếu chiều sâu. Bởi vậy, không ít sinh viên tham gia nhiều hoạt động nhưng chưa có cơ chế để tích lũy thành hồ sơ năng lực công dân, hồ sơ cống hiến hay lộ trình phát triển lãnh đạo trẻ.
Thứ năm là giới hạn của môi trường số và truyền thông xã hội. Chuyển đổi số trong giáo dục mở ra điều kiện rất lớn cho việc học tập, kết nối và sáng tạo. Nhưng cùng với đó là những thách thức về tin giả, thao túng cảm xúc, chủ nghĩa vị kỷ số, tâm lý thể hiện bản thân quá mức, tiêu dùng thông tin bề mặt và xu hướng đánh giá mọi giá trị qua thước đo ngắn hạn. Nếu giáo dục chính trị tư tưởng không theo kịp những biến đổi này thì rất dễ xảy ra tình trạng khoảng cách giữa diễn ngôn chính thống với thế giới trải nghiệm số của người học. UNESCO và OECD đều cho rằng giáo dục công dân và giáo dục tương lai phải đặc biệt chú ý tới đạo đức, trách nhiệm, sự tham gia có ý nghĩa và khả năng hành động đúng đắn trong bối cảnh xã hội số.
Từ các hạn chế trên có thể rút ra một nhận định quan trọng. Vấn đề hiện nay không phải là Việt Nam thiếu chủ trương chính trị hay thiếu mục tiêu giáo dục đúng đắn, mà là sự chuyển hóa từ chủ trương thành năng lực thực chất của trí thức trẻ còn chưa đồng đều, chưa đủ mạnh và chưa thật sự tương thích với cấu trúc xã hội số, kinh tế tri thức và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
2.4. Cơ chế tác động và điều kiện chuyển hóa
Để bồi dưỡng trí thức trẻ có tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia, cần nhìn rõ cơ chế tác động của giáo dục chính trị tư tưởng trong điều kiện mới. Cơ chế thứ nhất là cơ chế nhận thức giá trị. Người học phải hiểu được vì sao con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ là lựa chọn chính trị lịch sử mà còn là phương án phát triển nhằm bảo đảm độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, công bằng và phát triển con người. Nếu thiếu lớp nền nhận thức này, trách nhiệm quốc gia dễ bị giản lược thành nghĩa vụ hình thức hoặc khẩu hiệu đạo đức.
Cơ chế thứ hai là cơ chế đồng nhất hóa mục tiêu cá nhân với mục tiêu quốc gia. Người trẻ chỉ thật sự hành động khi thấy tương lai của mình có thể được thực hiện trong tương lai của đất nước. Bởi vậy, giáo dục cần giúp trí thức trẻ nhận ra rằng học tập, nghiên cứu, khởi nghiệp, sáng tạo công nghệ, tham gia quản trị cộng đồng hay bảo vệ chủ quyền số đều là những con đường cụ thể để phụng sự Tổ quốc. Khi lợi ích cá nhân và lý tưởng xã hội được nối kết hợp lý, động cơ cống hiến sẽ bền hơn, ít phụ thuộc vào huy động ngắn hạn.
Cơ chế thứ ba là cơ chế trải nghiệm và thực hành xã hội. Giá trị chỉ trở thành phẩm chất khi được trải nghiệm, thử thách và lặp lại trong hành động. Vì thế, không thể bồi dưỡng tư duy chiến lược chỉ bằng thuyết giảng. Người học cần được tham gia nghiên cứu tình huống chính sách, phân tích các vấn đề phát triển của địa phương và đất nước, thực hiện dự án cộng đồng, thực tập trong cơ quan công quyền, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức xã hội và các chương trình phục vụ cộng đồng. Chính quá trình giải quyết việc thực mới làm rõ ý nghĩa của trách nhiệm quốc gia.
Cơ chế thứ tư là cơ chế đối thoại và phản biện. Trong thời đại số, niềm tin không thể được duy trì lâu dài bằng áp đặt thông tin một chiều. Trí thức trẻ cần được trao không gian để đặt câu hỏi, so sánh, tranh luận, phản biện trên nền tảng khoa học và định hướng giá trị đúng đắn. Tiếp cận của Freire về giáo dục đối thoại gợi mở rằng quá trình hình thành ý thức xã hội bền vững phải gắn với việc người học chủ động khám phá thế giới và tự xác lập lập trường của mình. Vận dụng trong bối cảnh Việt Nam, điều này không làm suy yếu tính chính trị tư tưởng mà ngược lại giúp làm sâu sắc năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng bằng lý lẽ, tri thức và trải nghiệm.
Cơ chế thứ năm là cơ chế thể chế hóa cơ hội cống hiến. Nhiều người trẻ có khát vọng nhưng thiếu không gian và động lực để chuyển thành hành động. Muốn trách nhiệm quốc gia trở thành động lực bền vững, Nhà nước và nhà trường cần tạo cơ chế phát hiện, trọng dụng, đặt hàng nghiên cứu, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, tuyển chọn cán bộ trẻ, công nhận đóng góp xã hội và mở rộng kênh tham gia chính sách cho trí thức trẻ. Khi cống hiến được nhìn nhận, đo lường và tưởng thưởng công bằng, năng lực phụng sự mới được duy trì lâu dài.
Từ đây có thể xác định các điều kiện chuyển hóa cơ bản gồm một nền giáo dục có triết lý phát triển con người toàn diện, một chương trình tích hợp giữa chuyên môn và công dân, một môi trường số lành mạnh, một hệ thống chính sách đồng bộ, đội ngũ giảng viên và cán bộ Đoàn Hội đủ năng lực mới, cùng một thiết kế đánh giá coi trọng phẩm chất và năng lực hành động xã hội. Thiếu một trong các điều kiện đó, quá trình bồi dưỡng trí thức trẻ rất dễ rơi vào trạng thái tách rời giữa nội dung giáo dục và đời sống thực.
2.5. Các nhóm giải pháp
Từ các phân tích trên, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp có tính khả thi.
Trước hết là nhóm giải pháp về nhận thức. Cần chuyển mạnh từ tư duy đào tạo người học như lao động tương lai sang tư duy bồi dưỡng trí thức trẻ như chủ thể phát triển quốc gia. Đây là chuyển dịch có ý nghĩa nền tảng. Trong nhận thức quản lý giáo dục, cần quán triệt rằng tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia không phải nội dung phụ thêm sau chuyên môn mà là thành tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực trong thời đại mới. Trong nhận thức của cơ sở giáo dục, giáo dục chính trị tư tưởng cần được xem như chức năng xuyên suốt của toàn bộ hoạt động nhà trường chứ không chỉ gói trong một số môn học. Trong nhận thức của người học, cần làm rõ rằng cống hiến cho đất nước không đối lập với phát triển bản thân mà chính là phương thức phát triển bản thân ở tầm cao hơn, bền vững hơn và có ý nghĩa xã hội hơn. Muốn vậy, công tác truyền thông giáo dục phải đổi mới ngôn ngữ, tăng tính thuyết phục bằng các câu chuyện thật, tấm gương thật, vấn đề thật và thành tựu thật của đất nước trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị và hội nhập quốc tế.
Hai là nhóm giải pháp về nội dung chương trình. Chương trình bồi dưỡng trí thức trẻ cần được thiết kế theo hướng tích hợp ba lớp nội dung. Lớp thứ nhất là nền tảng lý luận chính trị, lịch sử dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm phát triển của Đảng và Nhà nước, bảo đảm người học có cơ sở thế giới quan và phương pháp luận đúng. Lớp thứ hai là tri thức liên ngành về các vấn đề phát triển đương đại như kinh tế số, chủ quyền số, trí tuệ nhân tạo, đạo đức công nghệ, an ninh phi truyền thống, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, truyền thông xã hội, bất bình đẳng cơ hội và văn hóa công dân số. Lớp thứ ba là học phần ứng dụng gắn với địa phương và ngành đào tạo, giúp người học giải quyết những vấn đề cụ thể của cộng đồng, doanh nghiệp, cơ quan công quyền và đời sống xã hội. Cấu trúc này giúp kết nối lý tưởng với năng lực, kết nối chính trị tư tưởng với phát triển quốc gia cụ thể. Đồng thời, cần xây dựng các chuyên đề riêng về tư duy chiến lược, phân tích chính sách công, đạo đức nghề nghiệp công dân, trách nhiệm tri thức trong xã hội số và văn hóa phụng sự. Những nội dung như vậy phù hợp với định hướng đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục và chuyển đổi số trong Chiến lược phát triển giáo dục 2030 cũng như yêu cầu của OECD và UNESCO về hình thành người học có agency, giá trị và hành động có trách nhiệm.
Ba là nhóm giải pháp về phương pháp tổ chức. Cần đổi mới căn bản phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng theo hướng đối thoại, nêu vấn đề, dự án, trải nghiệm và số hóa thông minh. Trên lớp, cần tăng cường phương pháp seminar, phân tích tình huống, tranh biện chính sách, phản biện xã hội có định hướng, mô phỏng nghị trường, mô phỏng quản trị địa phương, thảo luận các vấn đề thời sự của đất nước và thế giới trên nền tảng khoa học. Ngoài lớp học, cần mở rộng học tập phục vụ cộng đồng, thực tập xã hội, chiến dịch nghiên cứu tại địa phương, các phòng thí nghiệm chính sách trẻ, diễn đàn công dân số và dự án đổi mới sáng tạo vì cộng đồng. Trên môi trường số, cần phát triển học liệu mở, nền tảng học tập tương tác, kênh truyền thông ngắn gọn nhưng có chiều sâu, hệ thống đánh giá liên tục và các cộng đồng học tập số nhằm giúp người học luyện tập năng lực sàng lọc thông tin, phản biện và phát biểu có trách nhiệm. Việc tổ chức giáo dục như vậy sẽ làm cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa được tiếp cận không phải như tập hợp mệnh đề khô cứng mà như một hệ giá trị sống động có thể soi sáng hành động nghề nghiệp và hành động công dân. Đồng thời, đây cũng là hướng đi phù hợp với thực tiễn chuyển đổi số giáo dục mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thúc đẩy.
Bốn là nhóm giải pháp về cơ chế chính sách. Trước hết cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển trí thức trẻ theo hướng cân bằng giữa thành tích học thuật, năng lực đổi mới sáng tạo, phẩm chất công dân, đóng góp cộng đồng và bản lĩnh chính trị. Thứ hai cần hình thành cơ chế liên thông giữa nhà trường, tổ chức Đoàn Hội, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và viện nghiên cứu để tạo hành trình phát triển cho người trẻ từ học tập đến thực hành và cống hiến. Thứ ba cần có các quỹ hỗ trợ nghiên cứu, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, dự án cộng đồng, đặc biệt ưu tiên các sáng kiến giải quyết vấn đề phát triển quốc gia và địa phương. Thứ tư cần mở rộng cơ chế tuyển chọn, trọng dụng và sử dụng trí thức trẻ trong khu vực công, trong các chương trình khoa học công nghệ chiến lược, chuyển đổi số quốc gia và quản trị xã hội. Thứ năm cần đầu tư phát triển đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, cán bộ công tác học sinh sinh viên, cán bộ Đoàn Hội và chuyên gia thiết kế học liệu số theo hướng liên ngành, hiện đại, có năng lực dẫn dắt đối thoại và định hướng tư tưởng trong bối cảnh truyền thông mới. Cuối cùng cần tăng cường cơ chế phối hợp chính sách giữa giáo dục, nội vụ, khoa học công nghệ, thông tin truyền thông, lao động và tổ chức thanh niên để tránh tình trạng mỗi ngành thực hiện một phần, thiếu đầu mối chiến lược chung. Những định hướng này thống nhất với tinh thần của Chiến lược phát triển thanh niên 2021 đến 2030, Chiến lược phát triển giáo dục 2030 và Nghị quyết 57 về lấy thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ làm trọng tâm.
Nhìn sâu hơn, bốn nhóm giải pháp trên cần được triển khai theo nguyên tắc đồng bộ. Nếu chỉ đổi mới nội dung mà không đổi mới phương pháp, người học vẫn khó chuyển hóa giá trị thành hành động. Nếu chỉ đổi mới phương pháp mà không có cơ chế chính sách hỗ trợ, hoạt động sẽ mang tính phong trào. Nếu chỉ nhấn mạnh nhận thức mà thiếu cơ hội cống hiến cụ thể, trách nhiệm quốc gia sẽ dễ bị trừu tượng hóa. Bởi vậy, thành công của quá trình bồi dưỡng trí thức trẻ phụ thuộc vào việc hình thành một hệ sinh thái giáo dục chính trị tư tưởng hiện đại, đối thoại, số hóa và gắn phát triển cá nhân với phát triển đất nước.
3. Kết luận và kiến nghị
Bồi dưỡng trí thức trẻ Việt Nam với tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một yêu cầu vừa có tính quy luật của phát triển giáo dục, vừa có tính cấp bách của thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Từ góc độ lý luận, bài viết khẳng định rằng trí thức trẻ không nên chỉ được tiếp cận như một lực lượng lao động tri thức mà phải được nhìn nhận như chủ thể phát triển quốc gia, nơi thống nhất giữa năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và tinh thần phụng sự cộng đồng. Từ góc độ chính sách, hệ thống văn kiện hiện hành của Đảng và Nhà nước đã tạo ra nền tảng khá rõ cho việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, phát triển thanh niên, chuyển đổi số và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Vấn đề trọng tâm hiện nay là nâng cao chất lượng chuyển hóa từ chủ trương đúng thành năng lực thực chất của thế hệ trẻ.
Phân tích thực trạng cho thấy những hạn chế chủ yếu nằm ở sự chưa đồng bộ giữa triết lý đào tạo và mục tiêu phát triển con người toàn diện, giữa nội dung giáo dục chính trị tư tưởng với các vấn đề phát triển đương đại, giữa phương pháp truyền đạt với yêu cầu đối thoại và trải nghiệm, và giữa môi trường số với năng lực tự bảo vệ và định hướng hành động của người học. Từ đó, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp theo hướng đổi mới nhận thức, tích hợp nội dung chương trình, đổi mới phương pháp tổ chức và hoàn thiện cơ chế chính sách. Giá trị lý luận của nghiên cứu là góp phần xây dựng một khung phân tích liên ngành cho vấn đề bồi dưỡng trí thức trẻ trong điều kiện mới. Giá trị thực tiễn là cung cấp cơ sở tham khảo cho các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở đào tạo và tổ chức thanh niên trong thiết kế chương trình và mô hình hành động.
Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn có một số hạn chế. Đây là nghiên cứu lý luận kết hợp phân tích chính sách, chưa triển khai khảo sát định lượng hoặc nghiên cứu trường hợp sâu tại các cơ sở giáo dục, địa phương hay nhóm ngành cụ thể. Do đó, mức độ khác biệt giữa các vùng, loại hình cơ sở đào tạo và nhóm trí thức trẻ chưa được phản ánh đầy đủ. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu theo hướng đo lường thực chứng mức độ hình thành tư duy chiến lược và trách nhiệm quốc gia ở sinh viên, học viên cao học, giảng viên trẻ, nhà khoa học trẻ và cán bộ trẻ trong các ngành trọng điểm. Đồng thời cần đánh giá tác động của môi trường số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo và chính sách trọng dụng nhân tài đối với quá trình hình thành bản lĩnh chính trị và động cơ cống hiến của trí thức trẻ Việt Nam. Chỉ trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa lý luận, chính sách và bằng chứng thực nghiệm mới có thể xây dựng được một chiến lược bồi dưỡng trí thức trẻ đủ tầm cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
2. Bộ Chính trị. (2024). Kết luận số 91-KL/TW ngày 12 tháng 8 năm 2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
3. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Chính phủ. (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25 tháng 1 năm 2022 phê duyệt đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2025, định hướng đến năm 2030.
5. Freire, P. (1970). Pedagogy of the oppressed. Continuum.
6. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD). (2025). The future of education and skills 2030/2040. OECD Publishing.
7. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD). (2025). Civic education as a pathway to inclusive societies. OECD Publishing.
8. UNESCO. (2023). Global citizenship education in a digital age: Teacher guidelines. UNESCO.
9. UNESCO Institute for Information Technologies in Education. (2023). Advancing artificial intelligence supported global digital citizenship education. UNESCO IITE.
10. Shin, S., Lee, J., & Kim, Y. (2023). Investigating university students’ digital citizenship development through digital literacy practices in social media. The Internet and Higher Education, 56, 100894.
11. Reißmann, W., Hoffmann, C. P., & Krotz, F. (2024). The socialization relevance of digital media practices in adolescence. Studies in Communication and Media, 13(1), 1–22.