GS. TS Nguyễn Văn Tài -
Nguyên Phó GĐ Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Tóm tắt: Giáo dục giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của con người và tiến bộ xã hội. Tư tưởng của Mác – Lênin và Hồ Chí Minh đều khẳng định vị trí nền tảng của giáo dục trong xây dựng chế độ mới và phát triển con người toàn diện. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, gắn với từng giai đoạn cách mạng từ kháng chiến, thống nhất đất nước, Đổi mới, đến hội nhập quốc tế và thời đại chuyển đổi số. Quá trình phát triển này tuân theo những quy luật khách quan, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ, xã hội và con người: Thứ nhất, giáo dục gắn chặt với đường lối chính trị và mục tiêu phát triển đất nước, được cụ thể hóa qua các nghị quyết của Đảng và định hướng xây dựng con người mới. Thứ hai, giáo dục biến đổi theo nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, nhất là trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thứ ba, giáo dục chịu tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học – công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp 4.0. Thứ tư, giáo dục hướng tới phát triển con người Việt Nam toàn diện về phẩm chất và năng lực. Thứ năm, giáo dục gắn liền với quá trình xã hội hóa, huy động sự tham gia của toàn xã hội.
Việc nhận diện và vận dụng các quy luật này có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định chính sách và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong giai đoạn mới.
Từ khóa: quy luật, phát triển giáo dục, bối cảnh mới, xã hội hóa giáo dục
1. Mở đầu
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc thù, giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng. C. Mác từng khẳng định rằng trong bất kỳ xã hội nào, thế hệ trẻ luôn cần được giáo dục để tiếp thu toàn bộ những thành tựu mà loài người đã đạt được; Lênin nhấn mạnh “không có tri thức thì không thể có chủ nghĩa xã hội”, qua đó đặt giáo dục vào nền tảng của quá trình kiến tạo một chế độ xã hội mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp nối và phát triển những quan điểm này khi Người nhiều lần khẳng định: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, đồng thời chỉ ra rằng mục tiêu cao nhất của giáo dục là hình thành những con người có đức, có tài, biết phục vụ nhân dân và Tổ quốc.
Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn xác định giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, là động lực trọng yếu thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa và khoa học – công nghệ. Từ nền giáo dục cách mạng trong chiến tranh, đến giáo dục trong thời kỳ thống nhất, rồi giai đoạn Đổi mới và hội nhập quốc tế, và hiện nay là thời đại chuyển đổi số cùng Cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục Việt Nam luôn vận động theo những quy luật khách quan. Việc nhận diện đúng các quy luật này trở thành yêu cầu quan trọng về lý luận và thực tiễn nhằm định hướng hoạch định chính sách, đổi mới quản trị và phát triển giáo dục trong bối cảnh mới.
2. Các quy luật phát triển giáo dục
Có thể nhận thấy năm quy luật cơ bản của sự phát triển giáo dục Việt Nam như sau:
Thứ nhất, sự phát triển giáo dục luôn gắn với đường lối chính trị và mục tiêu phát triển đất nước.
Theo Mác – Lênin, nhà nước và hệ thống chính trị đóng vai trò định hướng sự vận động của các thiết chế xã hội, trong đó có giáo dục. Lênin coi giáo dục là “vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội”, cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa chính trị và giáo dục. Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh nhất quán coi giáo dục là một nhiệm vụ chiến lược, hướng đến mục tiêu học để phục vụ Tổ quốc, nhân dân và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, giàu mạnh. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, giáo dục tập trung vào nhiệm vụ “kháng chiến, kiến quốc”, mở rộng các lớp bình dân học vụ và trường kháng chiến nhằm nâng cao dân trí, củng cố tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu. Từ sau thống nhất (1975–1986), giáo dục phục vụ nhiệm vụ khôi phục kinh tế – xã hội và tiếp tục mang đậm tính chính trị – tư tưởng. Bước sang thời kỳ Đổi mới, đặc biệt từ Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013, giáo dục chuyển trọng tâm từ trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực, và Đại hội XIII tiếp tục khẳng định giáo dục là nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững.
Quy luật này khẳng định rằng mọi đổi mới giáo dục phải gắn với đường lối chính trị, đồng thời góp phần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng và khát vọng phát triển đất nước.
Thứ hai, sự phát triển giáo dục phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Mác cho rằng lực lượng sản xuất quyết định tiến trình lịch sử, và khi kinh tế thay đổi, giáo dục cũng phải thay đổi theo để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục vừa là động lực, vừa là điều kiện cho phát triển bền vững. Trước năm 1986, trong nền kinh tế tự cung tự cấp, giáo dục chủ yếu đáp ứng nhiệm vụ chính trị và đào tạo nhân lực cơ bản. Từ Đổi mới đến nay, cơ cấu kinh tế và ngành nghề thay đổi nhanh theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, kéo theo nhu cầu lớn về nhân lực trình độ cao trong công nghiệp, tài chính, dịch vụ và công nghệ thông tin. Quy mô giáo dục mở rộng mạnh mẽ với hơn 240 trường đại học và hàng nghìn cơ sở giáo dục nghề nghiệp tính đến năm 2023; mô hình liên kết doanh nghiệp – nhà trường, đào tạo nghề chất lượng cao, chương trình CDIO, kỹ năng số được thúc đẩy. Trong bối cảnh hội nhập, thị trường lao động gắn với ASEAN, OECD và tiêu chuẩn quốc tế như AUN-QA, ABET, AACSB.
Điều này đòi hỏi giáo dục phải thích ứng nhanh hơn với đổi mới, gắn với nhu cầu nhân lực và tăng cường gắn kết với doanh nghiệp.
Thứ ba, sự phát triển giáo dục luôn gắn với tiến bộ khoa học – công nghệ.
Lênin từng khẳng định rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa trên nền khoa học tiên tiến, điều đó càng đúng trong thời kỳ KHCN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, nhà trường gắn với xã hội và khoa học”. Trong thực tiễn, công nghệ thông tin và số hóa đã tạo ra những thay đổi căn bản trong giáo dục, từ lớp học trực tuyến, học liệu số, MOOC đến trí tuệ nhân tạo phục vụ cá nhân hóa học tập và quản trị giáo dục. Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra nhiều ngành nghề mới như khoa học dữ liệu, robot, AI, an toàn thông tin; chuyển đổi số giáo dục trở thành nhiệm vụ bắt buộc theo Quyết định 131/QĐ-TTg năm 2022. Phương pháp dạy – học chuyển từ truyền thụ sang phát triển năng lực, dạy học dự án, mô phỏng, trải nghiệm. Khoa học và Công nghệ vừa là động lực, vừa là không gian mới định hình hệ thống giáo dục, đặt ra yêu cầu đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng số và nền tảng thông minh.
Thứ tư, sự phát triển giáo dục gắn với sự phát triển toàn diện của con người.
Theo quan điểm Mác – Lênin, phát triển con người toàn diện là mục tiêu tối hậu của chủ nghĩa cộng sản; tư tưởng Hồ Chí Minh cụ thể hóa thành mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện Đức – Trí – Thể – Mỹ. Thực tiễn Việt Nam cho thấy chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã chuyển mạnh sang tiếp cận phát triển năng lực, nhấn mạnh các phẩm chất như yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm. Giáo dục thể chất, nghệ thuật, kỹ năng sống và kỹ năng số được tăng cường; giáo dục suốt đời và xây dựng xã hội học tập tiếp tục được thúc đẩy theo Nghị quyết 29 và Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021–2030.
Quy luật này khẳng định giáo dục không chỉ nhằm đào tạo người lao động mà hướng đến xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và khả năng hội nhập.
Thứ năm, sự phát triển giáo dục gắn liền với quá trình xã hội hóa giáo dục.
Quan điểm của Đảng khẳng định phát triển giáo dục là sự nghiệp của Nhà nước và toàn dân, và xã hội hóa là yêu cầu khách quan, được nêu rõ trong các nghị quyết Trung ương qua nhiều thời kỳ. Trong thực tiễn, hệ thống giáo dục ngoài công lập phát triển nhanh, nhất là tại các đô thị lớn; doanh nghiệp, tổ chức xã hội và gia đình ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình giáo dục; mô hình hợp tác công – tư trong đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo nhân lực được mở rộng; cơ chế kiểm định, giám sát chất lượng có sự tham gia của xã hội. Xã hội hóa góp phần tăng nguồn lực, nâng cao chất lượng và mở rộng cơ hội giáo dục cho tất cả mọi người.
3. Kết luận
Năm quy luật phát triển giáo dục Việt Nam phản ánh sự vận động biện chứng của giáo dục trong mối quan hệ với chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ, xã hội và con người. Nhận diện và vận dụng đúng các quy luật này là điều kiện để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, đáp ứng khát vọng xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Tài liệu tham khảo
1. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, 4, 13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, tập 2, 29, 39, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.
3. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, 5, 6, 7, 10, 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 131/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2025, định hướng đến năm 2030.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT.
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045.
9. Trần Hồng Quân (2019), “Giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt.
10. UNESCO (2015), Rethinking Education: Towards a global common good? Paris.
11. OECD (2020), Future of Education and Skills 2030.
12. World Bank (2021), Vietnam: Enhancing Human Capital for Development in the Digital Era.