Chính sách giáo dục bắt buộc Ở một số nước Đông Nam Á và Châu Âu, Châu Mỹ

Giáo dục bắt buộc (Compulsory education) là một chính sách giáo dục đầy tính nhân văn của nước ta được thực hiện thể theo ước vọng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
13:57 | 15/06/2023

1. Đặt vấn đề

Giáo dục bắt buộc (Compulsory education) là một chính sách giáo dục đầy tính nhân văn của nước ta được thực hiện thể theo ước vọng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Ngay sau khi giành được độc lập, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Điều 5 đã ghi: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều 33 Hiến pháp năm 1959 cũng ghi rõ: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển dần các trường học và cơ quan văn hóa, phát triển các hình thức giáo dục bổ túc văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và nông thôn, để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó”.

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đã đề ra mục tiêu: “Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020”.

Luật Giáo dục 2019 định nghĩa: “Giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện”.

Chính sách giáo dục bắt buộc ở nước ta đã bắt nhịp được với tư tưởng giáo dục tiến bộ của thời đại: Giáo dục cho mọi người, mọi trẻ em đều có quyền được học tập, cha mẹ có nghĩa vụ cho con em đến trường, nhà nước có trách nhiệm chăm lo giáo dục cho thế hệ trẻ.

Giáo dục bắt buộc ở một số nước đã được xây dựng thành luật với những quy định chặt chẽ, ràng buộc các chủ thể tham gia và có chế tài điều chỉnh nếu vi phạm.

Giáo dục bắt buộc ở mỗi quốc gia được thực hiện tùy thuộc vào thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục của quốc gia đó.

Đầu thế kỷ 20 ở các nước Âu, Mỹ thực hiện giáo dục bắt buộc đã chú trọng đến các kỹ năng lao động, kỹ năng ngôn ngữ, giao tiếp, hình thành các giá trị đạo đức… để mỗi người có thể đóng góp nhiều nhất cho xã hội, đồng thời giúp người nhập cư hòa nhập vào cộng đồng mới.

Ngày nay, giáo dục được coi là quyền lợi của mọi công dân, giáo dục bắt buộc được sử dụng như một biện pháp để phổ cập giáo dục (Universal education) cho trẻ em trong độ tuổi, để nâng cao trình độ học vấn cho người dân, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội, để làm giảm thiểu tình trạng học sinh nghỉ học vì lý do kinh tế hay địa lý…, tạo ra sự bình đẳng trong giáo dục giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và miền xuôi, giữa các cộng đồng đa số và thiểu số, giữa người giàu và người nghèo, giữa nam và nữ.

Chính sách giáo dục bắt buộc Ở một số nước Đông Nam Á và Châu Âu, Châu Mỹ

Trường tiểu học Mường Vi, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Giáo dục bắt buộc ở một số nước trên thế giới

Hiện nay, ở một số quốc gia trên thế giới đang thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc 12 năm như: Anh, Pháp, Ba Lan, Hà Lan, Cu Ba và Triều Tiên... các nước còn lại phổ biến là thực hiện 9 - 10 năm.

Ở các nước Đông Nam Á cũng đang thực hiện chính sách giáo dục bắt buộc: Indonesia 6 năm, Thái Lan Campuchia 9 năm, Singapore, Malaysia và Philippines 10 năm. Ta có thể điểm qua kinh nghiệm của một số nước như phần trình bày dưới đây.

Giáo dục bắt buộc ở Singapore

Chính sách giáo dục bắt buộc Ở một số nước Đông Nam Á và Châu Âu, Châu Mỹ

Giáo dục bắt buộc 10 năm ở Singapore

Singapore là quốc đảo có diện tích 700km2, dân số 5.984.055 người, có nền kinh tế phát triển nhất khu vực Đông Nam Á, bình quân thu nhập đầu người lên tới 56.256 USD.

Singapore có ba nhóm dân tộc chính là người gốc Hoa chiếm 74,2%, gốc Mã Lai chiếm 13,9%, gốc Ấn Độ chiếm 9,2%, còn lại 2,7% là những người nhập cư từ các quốc gia khác. Ở Singapore tồn tại 8 tôn giáo, trong đó Phật giáo là tôn giáo chiếm số lượng tín đồ đông nhất.

Tiếng Anh ngôn ngữ chính được sử dụng trong nhà trường, ngoài ra học sinh còn được học thêm bản ngữ của mình là tiếng Hoa, tiếng Tamil hay tiếng Mã Lai...

Singapore hệ thống giáo dục tiên tiến, với nhiều trường đại học danh tiếng, trang, thiết bị giáo dục hiện đại, chất lượng giáo dục tốt. Các gia đình Singapore chăm lo đầu tư cho con cái học hành. Chính phủ Singapore dành 3% GDP, chiếm khoảng 20% tổng chi nhân sách cho giáo dục.

Hệ thống giáo dục Singapore có 5 cấp: tiểu học, trung học, tiền đại học, đại học và sau đại học. Cấp tiểu học 6 năm gồm 4 năm học cơ sở và 2 năm học định hướng. Cấp trung học 4 - 5 năm phân ban nhằm giúp học sinh phát triển năng lực sẵn có của mình.

Hệ thống giáo dục bắt buộc của Singapore là 10 năm. Từ năm 2003, tất cả trẻ em Singapore trong độ tuổi phải đi học ở trường tiểu học và trung học cơ sở. Việc này là bắt buộc đối với công dân Singapore và người nước ngoài sinh sống tại đây, nếu không cho con đi học, bố mẹ phải đối mặt với mức phạt tương đối cao, thậm chí phải ngồi tù 12 tháng.

Singapore không miễn học phí cho tất cả học sinh các cấp học nhưng mức đóng học phí rất thấp. Ở tiểu học, các em được miễn học phí, nhưng trung học phải đóng khoảng 5 USD một tháng, mức này là rất nhẹ nhàng đối với người dân Singapore.

Giáo dục bắt buộc ở Malaysia

Malaysia nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, có diện tích 329,758km2, dân số trên 23 triệu người, khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm.

Malaysia cũng là quốc gia đa chủng tộc gồm người gốc Mã Lai, gốc Hoa, gốc Ấn Độ và một số nước khác đến định cư. Tiếng Mã Lai được coi là tiếng phổ thông, nhưng tiếng Anh và tiếng Tamil cũng được sử dụng rộng rãi. Ở Malaysia đạo Hồi là quốc đạo.

Malaysia nền kinh tế phát triển, GDP đạt 365,3 tỷ USD, lớn thứ 3 tại khu vực Đông Nam Á, xếp hạng 33 thế giới, thứ 11 châu Á. Thu nhập bình quân đầu người đạt mức 11.484 USD/ năm.

Malaysia có hệ thống giáo dục bắt buộc 10 năm, giáo dục tiểu học và trung học cơ sở là giáo dục bắt buộc và miễn phí. Học sinh các trường trung học phổ thông công lập có nhà nước tài trợ nên phải đóng học phí rất thấp.

Giáo dục Malaysia hướng tới hình thành những công dân có tri thức, có năng lực, có chuẩn mực đạo đức, có trách nhiệm, đủ khả năng để đạt tới mức độ hạnh phúc cao, để đóng góp vào sự phát triển hài hòa của gia đình, xã hội và quốc gia.

Mục tiêu của hệ thống giáo dục Malaysia là mọi trẻ em đều được tiếp cận giáo dục, giáo dục bình đẳng, thống nhất, chất lượng và hiệu quả.

Nhà nước cung cấp dịch vụ giáo dục tốt nhất cho mọi đứa trẻ, không phân biệt điều kiện địa lý, nền tảng kinh tế - xã hội của gia đình, giảm bớt khoảng cách về giáo dục giữa thành thị và nông thôn, giữa những học sinh có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau và giữa học sinh nam và học sinh nữ.

Giáo dục bắt buộc ở Philippines

Philippines là một quần đảo bao gồm 7.107 hòn đảo lớn nhỏ, có diện tích 6.298.170km2, chiều dài bờ biển 36.289km đứng thứ năm trên thế giới.

Philippines có dân số trên 100 triệu người, đứng thứ hai ở các nước Đông Nam Á, dân số trẻ đang là thế mạnh của nước này. Philippines nổi tiếng là nơi cung cấp nguồn nhân lực cho thế giới. Philippines có khoảng 8 triệu người đang làm việc ở nước ngoài, hàng năm gửi về nước hàng tỷ đô la.

Philippines có nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người 2.765 USD. Chính phủ dành 20,3% tổng chi ngân sách cho giáo dục.

Philippines có hệ thống giáo dục theo mô hình giáo dục Mỹ, học sinh có thể chuyển sang học các nước khác có nền giáo dục tiên tiến mà không gặp bất cứ khó khăn nào.

Hệ thống giáo dục phổ thông của Philippines gồm: mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi. Tiểu học cơ sở gồm 6 năm (lớp 1 - 6) độ tuổi từ 6 đến 12. Trung học cơ sở 3 năm độ tuổi từ 12 đến 15.

Philippines đang thực hiện chính sách giáo dục bắt buộc 10 năm từ tiểu học đến hết trung học cơ sở, học sinh các trường công lập đều được miễn học phí. Bộ Giáo dục công bố một chương trình giáo dục bắt buộc cho tất cả các trường công lập và tư thục.

Philippines là quốc gia nói tiếng Anh lớn thứ 5 trên thế giới. Hơn 80% dân số có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh. Tất cả sách giáo khoa, giáo trình từ bậc tiểu học, trung học đến đại học đều được biên soạn bằng tiếng Anh.

Giáo dục bắt buộc ở Indonesia

Indonesia là một quần đảo với 13.700 hòn đảo lớn, nhỏ, dân số đông nhất khu vực Đông Nam Á với khoảng 281,17 triệu người. Indonesia đa dạng về ngôn ngữ, tôn giáo và văn hoá. Đạo Hồi chiếm đa số: 87,2%, Thiên Chúa: 7%, Catholics: 2,9%, Hindu: 1,7%, còn lại 0,9%.

GDP của Indonesia tăng trưởng khoảng 5%/năm, bình quân thu nhập đầu người là 3,404 USD. Ngân sách dành cho giáo dục khoảng 30 tỷ đô la bằng 20% tổng chi của chính phủ.

Hệ thống giáo dục phổ thông Indonesia 12 năm (6+3+3), từ năm 1994 đã thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm: 6 năm giáo dục tiểu học và 3 năm giáo dục trung học cơ sở, hiện đang thí điểm giáo dục bắt buộc 12 năm ở Jakarta.

Bahasa Indonesia là ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong nhà trường, tuy nhiên, ở một số nơi, ngôn ngữ địa phương cũng được sử dụng trong 3 năm đầu khi học sinh đến trường.

Giáo dục tư thục đóng một vai trò quan trọng trong giáo dục trung học và đại học ở Indonesia, 66% cơ sở giáo dục đại học là tư thục. Các trường tư thục đều nhận được hỗ trợ tài chính từ chính phủ, đặc biệt là thông qua việc cung cấp giáo viên.

Ngoài chương trình giảng dạy của Bộ Giáo dục, các cơ sở giáo dục Hồi giáo cũng có chương trình giảng dạy các môn học Hồi giáo, sau khi học sinh đã hoàn thành chương trình trung học phổ thông.

Mặc dù đã có những kết quả đáng kể trong thực hiện chính sách giáo dục bắt buộc, nhưng hiện nay chính phủ Indonesia vẫn đang thực hiện chương trình xây dựng trường học ở những vùng xa xôi để phục vụ cho sự phát triển giáo dục.

Giáo dục bắt buộc ở Thái Lan

Thái Lan là một quốc gia có diện tích 510.890km2 xếp thứ ba trong các nước ở khu vực Đông Nam Á sau Indonesia và Myanma.

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2022, dân số Thái Lan là 70.130.943 người, tăng 127.354 người so với năm 2021 do tăng dân số tự nhiên và tình trạng di cư.

Đặc điểm nổi bật của địa hình Thái Lan là có núi cao, có vùng đồng bằng trung tâm và có vùng cao nguyên rộng lớn.

Hệ thống giáo dục Thái Lan gồm có giáo dục mẫu giáo, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học và giáo dục đại học.

Giáo dục mẫu giáo dành cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi là bậc học không bắt buộc, nên hầu hết các trường mẫu giáo là trường tư thục. Giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc, miễn học phí dành cho trẻ em từ 6 đến 11 tuổi cho nên hầu hết các trường tiểu học là công lập. Giáo dục trung học được chia thành hai cấp, mỗi cấp học trong 3 năm.

Từ năm 2003, Thái Lan thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc 9 năm đối với tiểu học và trung học cơ sở trong độ tuổi từ 6 đến15.

Quảng cáo

Hiến pháp và Luật Giáo dục Thái Lan công nhận giáo dục thay thế, coi gia đình là cơ sở giáo dục. Luật Giáo dục tại nhà được thông qua vào năm 2004, coi giáo dục tại nhà (homeschool) là hợp pháp, để cho con được học tại nhà, phụ huynh phải nộp đơn cho cơ quan quản lý giáo dục địa phương và hàng năm học sinh được đánh giá theo quy định chung.

Ngôn ngữ được sử dụng trong nhà trường là tiếng Thái, tuy nhiên có một số trường tư thục dạy bằng tiếng Anh.

Ngoài các nước ở Đông Nam Á, chúng ta tham khảo thêm tình hình thực hiện chính sách giáo dục bắt buộc ở một số quốc gia phát triển trên thế giới:

Giáo dục bắt buộc ở Mỹ

Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới, có nền giáo dục chất lượng cao. Giáo dục Mỹ do chính phủ liên bang và các tiểu bang điều hành, cấp kinh phí.

Chính quyền các tiểu bang quyết định các kế hoạch giáo dục chế độ thi cử. Độ tuổi bắt buộc đi học thay đổi tùy theo từng tiểu bang, thường vào khoảng từ 5 đến 8 tuổi và độ tuổi có thể nghỉ học khoảng từ 14 đến 18. Có nhiều tiểu bang yêu cầu thanh, thiếu niên phải học cho đến 19 tuổi.

Hệ thống giáo dục phổ thông chia thành ba cấp: tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông, học sinh được chia nhóm theo độ tuổi để tạo thành lớp học, từ lớp mẫu giáo nhỏ tuổi nhất cho đến lớp 13 - lớp cuối cùng của bậc trung học.

Ở Mỹ thực hiện luật giáo dục bắt buộc, lớp mẫu giáo cho trẻ 5 tuổi là lớp đầu tiên của chương trình giáo dục bắt buộc, sau đó, tiếp diễn trong 12 năm qua các bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Để hoàn thành các yêu cầu của chương trình giáo dục bắt buộc, trẻ em có thể theo học tại các trường công lập hay tư thục được tiểu bang công nhận, cũng có thể theo học một chương trình giáo dục tại nhà (homeschool) khi được cơ quan giáo dục tiểu bang chấp thuận.

Giáo dục phổ thông ở Mỹ là giáo dục bắt buộc miễn phí, được thực hiện từ cuối thế kỷ 19. Ngoài việc miễn học phí, các dịch vụ đưa đón học sinh từ nhà đến trường, bữa ăn trưa, dịch vụ chăm sóc y tế cũng được miễn phí. Các trường học có nhiều phòng học hiện đại, rộng rãi. Có nhà đa năng để tổ chức các trò chơi, thi đấu thể thao, các hội trường trung tâm cũng được xây dựng.

Học sinh học giỏi có thể bỏ qua lớp dưới để học lên lớp trên. Một số tiểu bang cho phép học sinh nghỉ học ở tuổi từ 14 đến 17, trước khi hoàn thành chương trình trung học phổ thông, nếu có sự đồng ý của phụ huynh, nhiều tiểu bang yêu cầu học sinh phải đi học cho đến hết 18 tuổi. Các bậc phụ huynh cũng có thể cho con học tại nhà (homeschool) nếu được cơ quan giáo dục tiểu bang chấp thuận.

Học sinh trung học có quyền chọn các môn học yêu thích và môn học nâng cao để chuẩn bị cho chương trình giáo dục đại học.

Giáo dục bắt buộc ở Đức

Đức là quốc gia được tổ chức theo chế độ liên bang, giáo dục thuộc thẩm quyền của các bang, mỗi bang có luật và hệ thống giáo dục riêng, có quyền quyết định chính sách giáo dục riêng của bang mình.

Hệ thống giáo dục Đức gồm có giáo dục mầm non, tiểu học, trung học và đại học, ngoài ra, còn có các trường của nhà thờ. Giáo dục tiểu học kéo dài 4 năm, riêng ở Berlin và Brandenburg là 6 năm. Hầu hết các trường tiểu học, trung học là trường công lập, học sinh được miễn học phí.

Giáo dục bắt buộc ở Đức thực hiện 9 - 10 năm ở cấp tiểu học và trung học dành cho trẻ em có quốc tịch Đức, trẻ em con em người nước ngoài và trẻ em không có quốc tịch nhưng đang sống tại Đức..

Người Đức coi giáo dục là thành phần quan trọng của cấu trúc xã hội. Vì vậy, theo Luật Giáo dục, học sinh từ 6 đến 15 tuổi bắt buộc phải đến trường. Trẻ em không đi học cha mẹ sẽ bị phạt nặng. Do vậy, không có tình trạng trẻ em trong độ tuổi nghỉ học, chất lượng giáo dục phổ cập đạt chuẩn về kiến thức và kỹ năng.

Ngày học bắt đầu từ 7h30 đến 13h30, học sinh sáng học văn hóa, chiều tham gia hoạt động ngoại khóa.

Trường công lập được nhà nước hỗ trợ về tài chính, trẻ em được miễn học phí và được nhà trường cho mượn sách giáo khoa.

Ở Đức, học sinh có nghĩa vụ học phổ thông và nghĩa vụ học nghề. Nghĩa vụ học phổ thông kéo dài đến hết năm thứ 9 (có 4 bang học đến hết năm thứ 10). Nghĩa vụ học nghề là 3 năm, bắt đầu sau khi kết thúc nghĩa vụ đi học phổ thông nếu học sinh không học tiếp trung học phổ thông.

Phụ huynh muốn con em mình có tính độc lập, nên hàng ngày, học sinh thường sử dụng phương tiện giao thông công cộng hoặc đi bộ đến trường. Xe đưa đón chỉ phục vụ cho học sinh di chuyển từ khu vực nông thôn đến trường ở thành phố.

2.2. Giáo dục bắt buộc ở Việt Nam

Tính đến quý I năm 2023, Việt Nam có dân số ước tính là 99,46 triệu người, đứng thứ 3 trong các nước Đông Nam Á, đứng thứ 13 trên thế giới.

Việt Nam có diện tích là 331.212km2, địa hình phức tạp, có vùng rừng núi hiểm trở giao thông, đi lại khó khăn, có vùng cao nguyên rộng lớn và đồng bằng đất đai phì nhiêu, có bờ biển trải dài hàng nghìn ki-lô-mét.

Số người dưới 25 tuổi chiếm 45% dân số, lực lượng lao động trong độ tuổi là 51,7 triệu người, vẫn còn 73,8% người chưa qua đào tạo nghề, do vậy nhu cầu giáo dục và đào tạo tại Việt Nam là rất lớn.

Hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam gồm có giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, với 2 hình thức tổ chức công lập và tư thục. Ngôn ngữ giảng dạy trong nhà trường là tiếng Việt, ngoại ngữ học trong nhà trường phổ biến nhất là tiếng Anh.

Việt Nam đầu tư cho giáo dục là 6,3% GDP chiếm 20% tổng chi ngân sách, đứng thứ 2 ở Đông Nam Á, chỉ sau Thái Lan là 7,6%.

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển”.

Việt Nam đang thực hiện giáo dục bắt buộc ở bậc tiểu học và tiến tới giáo dục bắt buộc ở cấp trung học sơ sở.

Điều 14 Luật Giáo dục 2019 đã chỉ rõ: Giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc. Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện giáo dục bắt buộc trong cả nước; quyết định kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục. Gia đình, người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc.

Giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn được cộng đồng thế giới thừa nhận.

Tuy nhiên, công tác giáo dục bắt buộc hiện nay gặp khó khăn, cần phải khắc phục.

Khó khăn lớn nhất đối với giáo dục bắt buộc ở Việt Nam là kinh phí còn hạn hẹp, nhiều địa phương miền núi, đồng bào dân tộc ít người kinh tế còn khó khăn, dân trí thấp, chưa được tiếp cận đầy đủ với giáo dục hiện đại. Trên phạm vi cả nước, tổ chức thực hiện giáo dục bắt buộc chưa đồng bộ, cần có một bộ phận chuyên trách theo dõi tiến độ và kiểm định đánh giá chất lượng giáo dục bắt buộc.

3. Kết luận và kiến nghị

3.1. Kết luận

Giáo dục bắt buộc là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nó mang tính nhân văn sâu sắc, phù hợp với tư tưởng tiến bộ của thời đại, đặc biệt là trong giai đoạn Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế.

Thực hiện giáo dục bắt buộc thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối thế hệ trẻ - tương lai của đất nước, vì sự phát triển bền vững của dân tộc.

Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế… đều bình đẳng về cơ hội học tập.

Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo môi trường giáo dục an toàn, tạo điều kiện để người học phát huy tiềm năng của mình.

Thực hiện giáo dục bắt buộc đòi hỏi nhà nước và xã hội phải có đủ các nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất, trường lớp, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có năng lực.

Tham khảo kinh nghiệm thực hiện chính sách giáo dục của các nước trên thế giới, chúng ta cần chọn lọc và kế thừa những kinh nghiệm hay phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam.

3.2. Kiến nghị

Để thực hiện thành công giáo dục bắt buộc, cần phải:

Xây dựng luật Giáo dục bắt buộc với những quy định, những chế tài cụ thể đối với các chủ thể tham gia, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện.

Xây dựng lộ trình với các bước đi thích hợp để thực hiện giáo dục bắt buộc, sau giáo dục tiểu học đến giáo dục trung học cơ sở ở các địa phương và trên phạm vi cả nước.

Nhà nước phải bảo đảm nguồn kinh phí và các điều kiện cơ bản để thực hiện giáo dục bắt buộc, cần chú ý đến địa bàn không đủ trường công lập. Giáo dục bắt buộc phải thực hiện miễn phí cho tất cả học sinh trong số năm đã quy định.

Lập Quỹ hỗ trợ giáo dục bắt buộc, vận động các doanh nghiệp, cá nhân, các nhà hảo tâm tham gia đóng góp để hỗ trợ các địa phương còn gặp khó khăn.

Phân cấp, phân quyền cho các địa phương để chủ động và sáng tạo trong thực hiện giáo dục bắt buộc.

Tổ chức thí điểm thực hiện giáo dục bắt buộc ở những địa phương thuận lợi và những nơi đặc biệt khó khăn như miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa để rút kinh nghiệm triển khai đại trà.

Cần thành lập bộ phận chuyên trách theo dõi tiến trình và kết quả thực hiện giáo dục bắt buộc ở các địa phương và trên phạm vi toàn quốc.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

3. Lê Thị Chiên (2021), Kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

4. Phạm Văn Linh (2021), Những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng về giáo dục và đào tạo, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

5. Quốc hội (2019), Luật Giáo dục 2019, NXB Giáo dục, Hà Nội.

6. Trịnh Thị Anh Hoa, Nguyễn Thế Thắng (2022), “Chính sách giáo dục bắt buộc tại một số quốc gia và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam.

7. Vũ Trung Kiên (2021), “Ý nghĩa của Đại hội XIII của Đảng trong bối cảnh hiện nay”, Trang tin điện tử Đảng bộ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.