PGS.TS. Phạm Viết Vượng
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chủ tịch Hồ Chí Minh người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cũng là người đặt nền móng cho nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Tên tuổi của người gắn liền với non sông, đất nước ta, tư tưởng giáo dục của người soi đường cho nền giáo dục cách mạng Việt Nam tiến bước.
Suốt 80 năm qua, dù phải trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nền giáo dục cách mạng Việt Nam vẫn phát triển mạnh mẽ, đã đạt được những thành tựu to lớn, được bè bạn năm châu ngưỡng mộ.
Giai đoạn trước năm 1945
Trước năm 1945 nước ta là thuộc địa của Pháp chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học đã thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.
Người Pháp cho xây dựng hệ thống giáo dục nhỏ bé ở Việt Nam với bốn mục đích: một là, đào tạo một số người làm tay sai thừa hành chính sách thực dân khai thác thuộc địa ở Việt Nam; hai là, truyền bá tư tưởng biết ơn sự khai hóa và lòng trung thành đối với nước Pháp; ba là, mị dân làm cho người dân Việt Nam tin rằng giáo dục Pháp là văn minh, tiến bộ; bốn là, ngăn chặn ảnh hưởng của tinh thần chống thực dân Pháp của các sĩ phu yêu nước và của phong trào cộng sản đang lan rộng khắp nơi trên thế giới.
Sau hơn 80 năm đô hộ, thực dân Pháp để lại cho Việt Nam một hậu quả khôn lường - 95% người dân mù chữ.
Giai đoạn nhà nước non trẻ
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 nước ta dành được độc lập, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Trong bối cảnh nước sôi, lửa bỏng, thù trong, giặc ngoài, với trăm công, nghìn việc Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chăm lo đến giáo dục thế hệ trẻ và xây dựng nền giáo dục nước nhà.
Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, Bác viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Đúng như Bác đã dạy 80 năm qua nước ta không chỉ giữ vững được nền độc lập, tự do, mà còn phát triển vượt bậc về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao… để sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Năm 1945 trong hoàn cảnh nạn đói hoành hành làm cho 2 triệu người dân Việt Nam chết đói, thực dân Pháp bộc lộ âm mưu trở lại xâm chiếm nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “diệt giặc dốt cũng cấp thiết như diệt giặc đói và giặc ngoại xâm”.
Ngày 3 tháng 9 năm1945 tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người dân Việt Nam phải có kiến thức để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Người phát động chiến dịch diệt dốt, xóa nạn mù chữ cho toàn dân và xây dựng chương trình tổ chức lại nền giáo dục nước nhà.
Ngày 8 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ để tổ chức dạy chữ cho nhân dân. Người kêu gọi “ai biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, người chưa biết chữ phải học để biết đọc, biết viết”.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, phong trào diệt giặc dốt, xóa nạn mù chữ nhanh chóng được triển khai khắp mọi nơi trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi lên miền ngược, trong vòng một năm đã có hàng triệu người biết đọc, biết viết.
Giành được độc lập không bao lâu, thực dân Pháp một lần nữfra quay lại xâm chiếm nước ta, ngày 19 tháng 12 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chụi làm nô lệ ” và như vậy nước ta phải bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp.
Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954
Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, mặc dù gặp phải muôn vàn khó khăn, nhưng Đảng và Bác Hồ vẫn chăm lo đến giáo dục, mở trường dạy chữ cho con em nhân dân và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc.
Trong chỉ thị toàn dân kháng chiến, chính phủ đã chỉ rõ kháng chiến phải toàn diện, toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến trong đó giáo dục là một mặt trận quan trọng.
Bác cho rằng cần phải tiến hành giáo dục để gột rửa những tàn dư phong kiến, lạc hậu, xóa bỏ chế độ thực dân cướp nước, đào tạo thế hệ công dân mới, chuẩn bị lực lượng chống kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước Việt Nam độc lập, tự do.
Từ giữa năm 1947 trong vùng tự do đã mở thêm nhiều trường học mới, trẻ em vẫn được cắp sách đến trường dù phải sống trong điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn.
Từ giữa năm 1947 trong vùng tự do đã mở thêm nhiều trường học mới, trẻ emvaanx được căp sách đên trường dù phải sống trong điều kiện vô cùng khó khăn thiếu thốn.
Nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục của các địa phương, tạo cơ sở để phát triển giáo dục Chính phủ cho mở các trường sư phạm sơ cấp ở liên khu III, liên khu IV, liên khu V, liên khu Việt Bắc để đào tạo giáo viên tiểu học và trường sư phạm cao cấp đào tạo giáo viên trung học đặt ở khu học xá trung ương tại Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp nhiều thanh niên ưu tú, nhiều cán bộ khoa học, chiến sĩ, sĩ quan quân đội được cử sang Liên Xô, Trung Quốc học tập để chuẩn bị lực lượng cho các giai đoạn cách mạng tiếp theo.
Tháng 7 năm 1950, chính phủ cho tiến hành cải cách giáo dục xây dựng nền giáo dục dân tộc, khoa học và đại chúng. Giáo dục phổ thông chuyển chương trình phân ban 12 năm của Pháp sang chương trình 9 năm với 3 cấp học cho phù hợp với hoàn cảnh thời chiến lúc bấy giờ.
Mục tiêu của cuộc cải cách giáo dục lần này là nhằm xây dựng lại hệ thống giáo dục phổ thông, giảm số năm học từ 12 năm xuống 9 năm, chia làm 3 cấp học và tạo mối liên kết giữa giáo dục phổ thông, bổ túc văn hóa và xóa nạn mù chữ.
Mục tiêu giáo dục phổ thông là bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những “công dân lao động tương lai”, phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc, với phương châm: học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn.
Nội dung giáo dục phổ thông 9 năm tạm gác lại một số môn học chưa có điều kiên thực hiện tốt như ngoại ngữ, âm nhạc, mỹ thuật, nữ công gia chánh… đưa vào những môn học cần thiết như thời sự, chính sách, giáo dục công dân, tăng gia sản xuất, sinh hoạt tập thể…
Tháng 7 năm 1951 Công đoàn giáo dục Việt Nam được thành lập với chức năng tập hợp, vận động cán bộ, giáo viên trong các cơ quan, trường học thực hiện tốt các nhiện vụ chuyên môn để góp phần giành thắng lợi trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng đất nước.
Sau chiến thắng Điện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954, Hiệp nghị Giơnevơ kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, nước ta tạm thời bị chia làm hai miền Nam-Bắc. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng CNXH và làm hậu phương vữn chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn gian khổ.
Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975.
Giai đoạn này, miền Bắ trong điều kiện hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đánh giặc Mỹ xâm lược.
Hệ thống giáo dục phổ thông được xây dựng và phát triển mạnh mẽ ở tất cả các địa phương cho đến những năm 60 ở miền Bắc mỗi xã đều có trường phổ thông cấp I, mỗi huyện có trường phổ thông cấp II, mỗi tỉnh có trường phổ thông cấp III.
Hệ thống giáo dục bổ túc văn hóa vẫn được duy trì vá phát triển ở vùng nông thôn, miền núi và thành phố, trong các cơ quan, xí nghiệp, công, nông trường...
Nhà nước cho mở trường nội trú đón hàng vạn học sinh miền Nam tập kết ra Bắc để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Một số học sinh miền Nam đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và quân đội sau này.
Hệ thống trường sư phạm được hình thành với ba cấp: sư phạm sơ cấp đào tạo giáo viên cấp I học một năm, sư phạm trung cấp đào tạo giáo viên cấp II học hai năm, đại học đào tạo giáo viên cấp III học ba năm. Tuy tuyển sinh đầu vào các trường còn thấp, thời gian đào tạo ngắn, nhưng với sự nỗ lực phi thường của cả thầy và trò chất lượng đào tạo giáo viên đã từng bước được cải thiện, nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục của các địa phương.
Nhiều trường bổ túc công nông được thành lập ở các tỉnh, thành phố để dạy văn hóa cho cán bộ, công nhân, viên ch ức nhằm nâng cao trình độ văn hóa đáp ứng các nhiệm vụ được giao.
Hệ thống giáo dục bổ túc văn hóa cho vùng nông thôn và nhà máy, xí nghiệp, công, nông trường cũng được duy trì để giúp cho đội ngũ công nhân, viên chức và bà con nông dân có điều kiện học tập, tiếp cận với khoa học kỹ thuật sản xuất mới.
Năm 1956 miền Bắc tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai để thống nhất hai hệ thống giáo dục 9 năm trong vùng tự do và 12 năm ở vùng tạm chiếm thành hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm, gồm 3 cấp: cấp I: 4 năm, cấp II: 3 năm và cấp III: 3 năm, từ đó giáo dục miền Bắc đi vào hoạt động ổn định.
Mục tiêu giáo dục phổ thông thời kỳ này là hình thành nhân cách đạo đức, lòng yêu nước, chí căm thù giặc và kỹ năng lao động cho thế hệ trẻ để tham gia đánh giặc và xây dựng đất nước.
Nội dung giáo dục phổ thông được thiết kế toàn diện, bao gồm khoa hoc tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật, thể dục, thể thao và ngoại ngữ lúc đó phổ biến là tiếng Trung.
Học sinh tất cả các cấp học, bậc học đều được miễn học phí, học sinh nghèo, học sinh con em các dân tộc thiểu số và sinh viên đại học được cấp học bổng.
Tháng 10 năm 1965 Quốc hội quyết định thành lập Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tách khỏi Bộ Giáo dục. Từ đó mạng lưới các trường đại học và trung học chuyên nghiệp được phát triển, quy mô đào tạo được mở rộng với nhiều lĩnh vực chuyên môn, ngành nghề, để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chi viện cho công cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Tháng 10 năm 1962, Tiểu ban Giáo dục thuộc Trung ương cục miền Nam được thành lập. Miền Bắc đã chi viện hơn 3000 cán bộ, giáo viên vào miền Nam công tác hỗ trợ cho giáo dục miền Nam phát triển. Các nhà giáo miền Bắc đã không quản khó khăn, gian khổ, sống và làm việc ba cùng với nhân dân các địa phương, khi giặc đến cũng xông lên cầm súng chiến đấu, vì vậy trong số các liệt sĩ hy sinh ở chiến trường miền Nam có cả những liệt sĩ là các nhà giáo miền Bắc chi viện.
Năm 1965, hầu hết các xã, phường ở miền Bắc có trường phổ thông cấp I, cấp II, các huyện có trường phổ thông cấp III, 18 trường đại học và nhiều trường trung học chuyên nghiệp được thành lập.
Trong những năm 60 - 70 chính phủ đã cử hàng vạn học sinh ưu tú tốt nghiệp trung học phổ thông sang các nước xã hội chủ nghĩa học tập đã trở thành các nhà giáo, nhà khoa học, bác sĩ, kỹ sư, văn nghệ sĩ, sĩ quan quân đội…, đây là nguồn lực quý báu phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và xây dựng đất nước sau này.
Nhiều người trong số họ đã trở thành những cán bộ nòng cột của Đảng và Nhà nước, những tướng lĩnh tài hoa trong quân đội hiện nay.
Cũng trong giai đoạn này, ở miền Bắc có phong trào thi đua hai tốt, “dạy tốt, học tốt” đã đem lại hiệu ứng tích cực. Nổi tiếng nhất là trường cấp II Bắc lý, thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, lá cờ đầu trong phong trào hai tốt thực hiện phương châm giáo dục “Học phải đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội”.
Ở thời điểm này nhiều trường bổ túc văn hóa công nông, phổ thông lao động được thành lập, điển hình là trường Thanh niên Lao động Xã hội chủ nghĩa Hòa Bình, học sinh vừa học, vừa tham gia lao động sản xuất để tự túc một phần lương thực khi ăn, ở nội trú.
Tháng 8 năm 1964 đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, chúng sử dụng máy bay ném bom bắn phá cầu, đường, nhà ga, bến tàu, kho tàng, nhà máy, xí nghiệp, đê điều, bệnh viện và các khu dân cư trong thành phố…
Không sợ mưa bom, bão đạn hàng vạn học sinh, sinh viên, cùng với các thầy, cô giáo vẫn hàng ngày đội mũ rơm đến trường, tiếng hát át tiếng bom, chất lượng giáo dục vẫn được duy trì.
Một điều độc đáo là trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng hàng năm vẫn có học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế và đã có nhiều em đoạt giải cao trước sự thán phục của bạn bè quốc tế.
Thời gian này cũng có nhiều trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp được thành lập để đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật cho các ngành, nghề mới đang phát triển ở các địa phương.
Giai đoạn đất nước thống nhất:
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tung bay trên nóc Dinh Độc lập, chính quyền Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện, đất nước ta thống nhất, non sông liền một giải.
Nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội tươi đẹp, độc lập, tự do, từ đó hệ thống giáo dục phát triển mạnh ở cả hai miền Nam, Bắc.
Ở miền Bắc hệ thống giáo dục phổ thông được duy trì và phát triển ổn định, hệ thống giáo dục đại học và chuyên nghiệp cũng từng bước được hoàn thiện và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực được nâng lên.
Ở miền Nam các trường, lớp mẫu giáo, nhà trẻ, trường phổ thông được thành lập mới để đón trẻ em đến trường. Hàng vạn người dân lao động được học trong các lớp bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ, bổ túc văn hóa, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phong trào học tập diễn ra sôi nổi, nhiều trường sư phạm được thành lập ở các địa phương đã đào tạo thêm hàng vạn giáo viên các cấp cho các nhà trường.
Tháng 1 năm 1979 Chính phủ cho tiến hành cải cách giáo dục lần thứ ba để thống nhất hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm ở miền Nam và hệ thống 10 năm ở miền Bắc thành hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm, cấp I - 5 năm, cấp II - 4 năm, cấp III - 3 năm.
Cuộc cải cách giáo dục lần này bắt đầu từ hệ thống giáo dục phổ thông, tiếp đến là hệ thống các trường sư phạm để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên có chất lượng. Nhà nước cho xóa bỏ hai hệ đào tạo giáo viên sơ cấp 7+1 và trung cấp 7+2, hình thành hệ cao đẳng 10+3 đào tạo giáo viên trung học cơ sở, hệ đại học 10+4 đào tạo giáo viên trung học phổ thông. Đầu vào các trường sư phạm là những học sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông, vì vậy chất lượng đào tạo được nâng lên rõ rệt.
Từ những năm 80 các trường đại học mở thêm hai bậc học mới đó là cao học và nghiên cứu sinh để đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ nhằm đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Hàng năm cũng có hàng nghìn sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh từ nước ngoài trở về để bổ sung cho lực lượng được đào tạo trong nước.
Giai đọan đất nước đổi mới.
Đại hội lần thứ VI của Đảng họp tháng 12 năm 1986 đề xướng chủ trương đổi mới toàn diện ở Việt Nam. Do vậy hệ thống giáo dục Việt Nam cũng bước vào thời kỳ đổi mới.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ này là đa dạng hóa các loại hình nhà trường, với các trường công lập, bán công, dân lập, tư thục…, đa dạng hóa các hình thức đào tạo với các hệ chính quy, chính quy không tập trung, tại chức, từ xa…để tạo mọi điều kiện cho người dân được học tập thường xuyên, liên thông nhằm nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Năm 1988 Chính phủ cho sáp nhập Tổng cục Dạy nghề vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thành Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Thời kỳ này nhiều trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp được thành lập mới, hoặc nâng cấp, đã đào tạo được nhiều công nhân và cán bộ kỹ thuật cho các lĩnh vực, ngành nghề chuyên môn.
Hai năm sau, năm 1990 Chính phủ lại quyết định cho thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở sáp nhập Bộ Giáo dục với Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề để quản lý toàn bộ hệ thống giáo dục từ bậc mầm non đến bậc sau đại học, nhằm thực hiện chiến lược nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước và hội nhập quốc tế.
Ngày 4/11/2013 Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 29-NQ/TW “ Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ”
Thực hiện Nghị quyết của Đảng hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo hướng liên thông giữa các trình độ và các phương thức đào tạo, đồng thời mở rộng quy mô các cơ sở giáo dục để đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân.
Hiện nay cả nước có hơn 5 triệu học sinh mầm non, hơn 8,8 triệu học sinh tiểu học, hơn 5,9 triệu học sinh trung học cơ sở và hơn 2,7 triệu học sinh trung học phổ thông.
Mỗi xã, phường có ít nhất một trường mầm non công lập, tỷ lệ phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt 99,9%.
Tất cả các xã đều có trường tiểu học, trung học cơ sở, nhiều tỉnh, thành phố đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở.
Cả nước có 2.543 trường trung học phổ thông, 45,33% trường đạt chuẩn quốc gia, có 135.875 giáo viên trung học phổ thông, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn là 99,78%.
Cả nước có hơn 1.800 cơ sở giáo dục nghề nghiệp với khoảng 1,5 triệu học sinh, công tác đào tạo nghề cho người lao động nông thôn cũng được quan tâm phát triển.
Cả nước có 239 cơ sở giáo dục đại học, trong đó có 172 trường công lập, 67 trường ngoài công lập, 146 trường trực thuộc trung ương và 26 trường trực thuộc địa phương, có 67 trường ngoài công lập, 5 trường có vốn đầu tư nước ngoài.
Đổi mới giáo dục đại học gắn với cơ chế tự chủ đã tạo ra động lực phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo. Các trường tư thục đã có những đóng góp quan trọng trong việc đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tổng số nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên giáo dục có khoảng 1,66 triệu người, trong đó số giảng viên đại học là 91.297 người, 743 giáo sư, tiến sĩ, 5.629 phó giáo sư, tiến sĩ, 23.776 tiến sĩ, 53.412 thạc sĩ.
Tổng số học sinh, sinh viên của cả nước là 25.255.251 người, trong đó có 2.068.522 sinh viên.
Hiện nay ở nước ta có khoảng 1.500 trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp với 1,5 triệu sinh viên theo học. Có 20 trường cao đẳng sư phạm, trong đó có 3 trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, 17 trực thuộc các địa phương.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học cũng được cải thiện đáng kể nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, ngành giáo dục đang từng bước thực hiện chuyển đổi số.
Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục hằng năm của Việt Nam ở mức 20%, tương đương 5% GDP.
Thành tựu của giáo dục và đào tạo đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo lên đến 64%.
Chất lượng giáo dục được các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Việt Nam hiện được xếp vào tốp 10 hệ thống giáo dục đổi mới hàng đầu của thế giới.
Các đội tuyển Olympic quốc tế đều đạt thứ hạng cao trong các kỳ thi, đơn cử năm 2019 học sinh Việt Nam đoạt 15 huy chương vàng, 14 huy chương bạc, 7 huy chương đồng, Đoàn Học sinh Việt Nam nằm ở tốp đầu tại kỳ thi Olympic Toán học và khoa học quốc tế.
Nước ta đã cơ bản xóa xong nạn mù chữa, trình độ học vấn của nhân dân đứng ở tốp đầu của châu Á.
Nguyên nhân thắng lợi của 80 năm nền giáo dục cách mạng Việt Nam
Cách mạng Việt Nam thành công, đã chiến thắng mọi đế quốc xâm lược, đang bước vào thời kỳ vươn mình, xây dựng đất đàng hoàng hơn to đẹp hơn. 80 năm qua nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đưa một nước thuộc địa có tới 95% người dân mù chữ trở thành một nước có nền học vấn cao, được bạn bè thế giới ca ngợi.
Thắng lợi của cách mạng và của 80 năm nền giáo dục cách mạng Việt Nam có nhiều nguyên nhân, ta có thể kể đến:
Một là, chúng ta có lãnh tụ Hồ Chí Minh thiên tài chỉ đường, dẫn lối. Người là nhà cách mạng lỗi lạc, nhà văn hóa lớn, nhà giáo dục anh minh được thế giới ca ngợi, người dân Việt Nam tự hào và biết ơn.
Hai là, chúng ta có Đảng Cộng sản quang vinh lãnh đạo, có đường lối đúng đắn, có tầm nhìn chiến lược đã dẫn dắt nhân dân ta đi từ thắng lợi này đên thắng lợi khác cả trong kháng chiến chống ngọai xâm và trong hòa bình xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
Ba là, nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn, có lịch sử ngàn năm văn hiến, không chụi khất phục trước bất kỳ kẻ thù nào. Nhân dân ta có tinh thần đoàn kết, yêu thương nhau, triệu người như một nhất tề đứng lên đánh giặc chống ngoại xâm và cùng nhau xây dựng đất nước giàu đẹp, độc lập, tự do, hạnh phúc.
Bốn là, chúng ta được bạn bè quốc tế năm châu đồng tình, ủng hộ, có những giúp đỡ quý báu trong mọi thời kỳ, đã tạo động lực để nhân dân ta đứng lên giành thắng lợi trong mọi giai đoạn cách mạng.
Năm là, chúng ta có đội ngũ nhà giáo hết lòng vì tương lai con em nhân dân lao động, không quản ngại khó khăn, gian khổ phấn đấu cho sự nghiệp giáo dục phát triển.
Sáu là, nhân dân ta có truyền thống hiếu học, có các thế hệ trẻ em thông minh, sáng tạo, chăm chỉ học hành, biết phấn đấu cho hạnh phúc của bản thân, làm rạng danh cho gia đình và dân tộc.
--------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng, Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 2000.
2.Hồ Chí Minh, Toàn tập NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010
3.Phạm Minh Hạc Đổi mới giáo dục, thành tựu và thách thức. NXB Giáo dục Hà Nội 2022.
4.Nguyễn Văn Huyên, Toàn tập, NXB GD, Hà Nội, 1995
5.Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013
6.Trần Hồng Quân. 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-1995), NXB GD, Hà Nội, 1995,
7. Viện Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh biên niên sử. NXB CTQG,Hà Nội, 1993.
8. Nguyễn Cảnh Toàn. Ba cuộc cải cách giáo dục. NXB Giáo dục 2012.