CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI SỐ NÔNG THÔN TRONG XÂY DƯỢNG NÔNG THÔN MỚI- NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC TIỄN ĐỊA PHƯƠNG

PGS.TS Tô Bá Trượng - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Tóm tắt: Chuyển đổi số nông thôn là một trong những nội dung trọng tâm của quá trình xây dựng nông thôn mới và phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận về chuyển đổi số nông thôn theo hướng tiếp cận bao trùm, coi người dân nông thôn là chủ thể trung tâm của quá trình chuyển đổi. Trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và phân tích một số mô hình, kết quả triển khai thực tiễn tại các địa p
05:22 | 29/12/2025

PGS.TS Tô Bá Trượng -

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Tóm tắt: Chuyển đổi số nông thôn là một trong những nội dung trọng tâm của quá trình xây dựng nông thôn mới và phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận về chuyển đổi số nông thôn theo hướng tiếp cận bao trùm, coi người dân nông thôn là chủ thể trung tâm của quá trình chuyển đổi. Trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và phân tích một số mô hình, kết quả triển khai thực tiễn tại các địa phương ở Việt Nam, bài viết chỉ ra những kết quả bước đầu, đồng thời làm rõ các hạn chế, bất cập trong việc triển khai chính sách chuyển đổi số nông thôn hiện nay. Từ đó, bài viết nhấn mạnh rằng chuyển đổi số nông thôn không thể thành công nếu thiếu yếu tố bao trùm, đặc biệt là bảo đảm khả năng tiếp cận, năng lực sử dụng và lợi ích thực chất của người dân. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng và hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số nông thôn theo hướng hiệu quả, bền vững và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Từ khóa: Chuyển đổi số nông thôn; chuyển đổi số bao trùm; nông thôn mới; khoảng cách số; chính sách chuyển đổi số.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia, khu vực nông thôn được xác định vừa là không gian rộng lớn, vừa là nơi chứa đựng nhiều thách thức nhất của tiến trình này. Các văn kiện, chương trình và chiến lược quốc gia đều nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với xây dựng nông thôn mới, hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại, nông dân văn minh và nông thôn bền vững.

Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai ở nhiều địa phương cho thấy, chuyển đổi số nông thôn đang đứng trước nguy cơ bị giản lược thành các dự án công nghệ rời rạc, thiếu chiều sâu xã hội và chưa thực sự chạm tới đời sống thường nhật của người dân. Không ít nơi, chuyển đổi số vẫn được hiểu chủ yếu là xây dựng hạ tầng viễn thông, lập các nền tảng số hoặc đưa nông sản lên sàn thương mại điện tử theo chiến dịch, trong khi những thay đổi căn bản về năng lực sản xuất, tổ chức cộng đồng và quản trị địa phương còn khá mờ nhạt.

Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần nhìn lại một cách nghiêm túc cơ sở lý luận, cách tiếp cận chính sách và các mô hình triển khai chuyển đổi số nông thôn, đặc biệt từ kinh nghiệm cụ thể của các địa phương trong nước.

2. Cơ sở lý luận

2.1. Khái niệm chuyển đổi số và chuyển đổi số nông thôn

Chuyển đổi số (Digital Transformation) được hiểu là quá trình ứng dụng công nghệ số và dữ liệu số nhằm thay đổi căn bản phương thức hoạt động, mô hình quản lý, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ, từ đó tạo ra giá trị mới, nâng cao hiệu quả và năng lực thích ứng của tổ chức, cộng đồng và xã hội.

Từ cách tiếp cận đó, chuyển đổi số nông thôn có thể được hiểu là quá trình ứng dụng công nghệ số, nền tảng số và dữ liệu số vào các lĩnh vực chủ yếu của khu vực nông thôn như sản xuất nông nghiệp, quản lý địa phương, cung cấp dịch vụ công, thương mại, dịch vụ, y tế, giáo dục, văn hóa và đời sống xã hội, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững và bao trùm.

Chuyển đổi số nông thôn không chỉ dừng lại ở việc “đưa công nghệ về nông thôn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc cách thức tổ chức sản xuất, quản trị và cung ứng dịch vụ, lấy người dân nông thôn làm trung tâm, đồng thời thu hẹp khoảng cách số giữa các nhóm dân cư và các vùng lãnh thổ, trong đó công nghệ đóng vai trò là công cụ, còn con người, thể chế và phương thức tổ chức mới là yếu tố quyết định. Áp dụng vào khu vực nông thôn, chuyển đổi số cần được hiểu là quá trình:

- Thay đổi cách thức tổ chức sản xuất nông nghiệp;

- Đổi mới mô hình quản lý và cung ứng dịch vụ công ở cấp cơ sở;

- Nâng cao năng lực tham gia của người dân nông thôn vào nền kinh tế số.

Nếu thiếu cách tiếp cận này, chuyển đổi số nông thôn rất dễ rơi vào tình trạng “hiện đại hóa hình thức” nhưng không tạo ra giá trị bền vững.

2.2. Mục tiêu và nội hàm của chuyển đổi số nông thôn

Về mục tiêu, chuyển đổi số nông thôn hướng tới nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp; mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường, thông tin và dịch vụ cho người dân nông thôn; cải thiện hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và đô thị, góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, thông minh.

Về nội hàm, chuyển đổi số nông thôn bao gồm một số thành tố cơ bản:

- Hạ tầng số bao gồm mạng viễn thông, internet băng thông rộng, nền tảng điện toán đám mây, IoT.

- Dữ liệu số là dữ liệu sản xuất nông nghiệp, dữ liệu dân cư, dữ liệu đất đai, môi trường.

- Nền tảng số là sàn thương mại điện tử, nền tảng truy xuất nguồn gốc, hệ thống quản lý thông minh.

- Nguồn nhân lực số là kỹ năng số của nông dân, cán bộ cơ sở, doanh nghiệp nông thôn.

- Thể chế và chính sách là cơ chế khuyến khích đầu tư, bảo đảm an toàn dữ liệu, hỗ trợ người yếu thế.

2.3. Nội hàm của chuyển đổi số nông thôn

Chuyển đổi số nông thôn bao gồm nhiều lớp nội dung liên kết chặt chẽ với nhau:

- Chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp;

- Chuyển đổi số trong quản lý nông thôn mới và chính quyền cơ sở;

- Chuyển đổi số trong thương mại, dịch vụ và sinh kế nông thôn;

- Chuyển đổi số trong đời sống văn hóa – xã hội của cộng đồng.

Thực tiễn cho thấy, việc triển khai thiếu đồng bộ giữa các lớp nội dung này là một nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu quả của các chính sách chuyển đổi số nông thôn hiện nay.

2.4. Yêu cầu chuyển đổi số bao trùm

Chuyển đổi số nông thôn không thể thành công nếu bỏ qua yếu tố bao trùm, bởi nông thôn là không gian xã hội có mức độ đa dạng rất cao về trình độ học vấn, kỹ năng, thu nhập và khả năng tiếp cận công nghệ, nếu chuyển đổi số chỉ được thiết kế cho những nhóm dễ tiếp cận, thì một bộ phận lớn người dân, đặc biệt là người cao tuổi, lao động ít học, đồng bào dân tộc thiểu số, sẽ bị đứng ngoài tiến trình này, khi số đông không tham gia, chuyển đổi số không thể lan tỏa, càng không thể tạo ra những thay đổi căn bản và bền vững trong đời sống kinh tế – xã hội nông thôn.

Quảng cáo

3. Thực trạng triển khai chuyển đổi số nông thôn ở việt nam - nhìn từ các địa phương

3.1. Từ hạ tầng số đến năng lực sử dụng số- kinh nghiệm từ các tỉnh đồng bằng

Thực tiễn tại các tỉnh như Bắc Giang, Hải Dương, Đồng Tháp cho thấy, việc đầu tư hạ tầng số và tổ chức đưa nông sản lên sàn thương mại điện tử đã tạo ra những kết quả tích cực trong ngắn hạn như các mô hình tiêu thụ vải thiều, xoài, nhãn, gạo đặc sản thông qua nền tảng số góp phần mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm và thay đổi nhận thức ban đầu của nông dân về kinh tế số.

Tuy nhiên, một vấn đề nổi lên là tính bền vững của các mô hình này chưa cao, khi kết thúc giai đoạn hỗ trợ của Nhà nước hoặc doanh nghiệp, nhiều nông dân gặp khó khăn trong việc tự vận hành gian hàng số, quản lý đơn hàng, logistics và chăm sóc khách hàng, điều này cho thấy, đầu tư hạ tầng và nền tảng số nếu không đi kèm với phát triển năng lực con người sẽ khó tạo ra chuyển đổi thực chất.

3.2. Chuyển đổi số trong quản lý nông thôn mới: từ “có hệ thống” đến “dùng được hệ thống”

Một số địa phương như Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Bình Dương đã triển khai trung tâm điều hành thông minh (IOC), kết nối dữ liệu từ nhiều lĩnh vực, trong đó có quản lý xây dựng nông thôn mới và dịch vụ công cấp xã, các mô hình này góp phần nâng cao hiệu quả điều hành, tăng tính minh bạch và cải thiện khả năng phản hồi của chính quyền đối với người dân.

Tuy nhiên, ở cấp cơ sở, không ít nơi vẫn gặp khó khăn trong việc khai thác và sử dụng dữ liệu phục vụ ra quyết định, dữ liệu được cập nhật chủ yếu để đáp ứng yêu cầu báo cáo, chưa thực sự trở thành công cụ quản trị, điều này phản ánh một thực tế là chuyển đổi số trong quản lý nông thôn mới đang thiếu sự đầu tư tương xứng cho năng lực quản trị số của đội ngũ cán bộ cơ sở.

3.3. Vai trò của hợp tác xã và tổ chức cộng đồng- kinh nghiệm từ miền núi và trung du

Tại các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, nhiều hợp tác xã nông nghiệp đã bước đầu ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và kết nối tiêu thụ sản phẩm, điểm đáng chú ý là ở những mô hình tương đối thành công, chuyển đổi số không bắt đầu từ công nghệ, mà bắt đầu từ việc củng cố tổ chức cộng đồng.

Hợp tác xã đóng vai trò là “trung gian số”, giúp nông dân tiếp cận công nghệ, thị trường và chính sách, tuy nhiên, số lượng mô hình này còn hạn chế và phụ thuộc nhiều vào một số cá nhân tâm huyết, điều này cho thấy, chuyển đổi số nông thôn rất cần một cơ chế chính sách đủ mạnh để phát triển các thiết chế cộng đồng làm nền tảng.

3.4. Bài học từ vùng khó khăn là không thể “đi tắt” bỏ qua giáo dục kỹ năng số

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc triển khai các ứng dụng số gặp nhiều trở ngại do hạn chế về trình độ học vấn, ngôn ngữ và tâm lý e ngại công nghệ. Thực tiễn cho thấy, nếu thiếu các chương trình hướng dẫn trực tiếp, cầm tay chỉ việc, thì công nghệ rất khó đi vào đời sống, điều này khẳng định vai trò then chốt của giáo dục và bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản cho người dân nông thôn, coi đây là nền tảng của chuyển đổi số bao trùm.

4. Một số mô hình chuyển đổi số nông thôn tiêu biểu trên thế giới

4.1. Mô hình nông nghiệp thông minh ở Hà Lan

Hà Lan là một trong những quốc gia đi đầu về nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi số nông thôn, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và Internet vạn vật đã giúp nông dân tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí đầu vào, đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Mô hình này nhấn mạnh vai trò của dữ liệu và sự liên kết chặt chẽ giữa nông dân, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu.

4.2. Mô hình “Làng số” ở Hàn Quốc

Hàn Quốc triển khai mô hình “Làng số” với cách tiếp cận toàn diện, kết hợp giữa chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp và cung cấp các dịch vụ số cho cộng đồng nông thôn như y tế, giáo dục, thương mại, hành chính công, nhà nước đóng vai trò định hướng, trong khi doanh nghiệp công nghệ là lực lượng nòng cốt trong triển khai.

4.3. Mô hình nền tảng số cho nông dân ở Ấn Độ

Ấn Độ phát triển các nền tảng số và ứng dụng di động nhằm hỗ trợ nông dân tiếp cận thông tin thị trường, giá cả, kỹ thuật canh tác và giao dịch nông sản, mô hình này cho thấy vai trò quan trọng của các nền tảng số đơn giản, chi phí thấp, dễ tiếp cận đối với số đông nông dân.

Kinh nghiệm từ Hà Lan, Hàn Quốc và Ấn Độ cho thấy, thành công của chuyển đổi số nông thôn không phụ thuộc vào mức độ hiện đại của công nghệ, mà phụ thuộc vào cách Nhà nước kiến tạo hệ sinh thái, hỗ trợ cộng đồng và khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp. Điểm chung của các mô hình này là:

- Dữ liệu được coi là tài sản chiến lược;

- Công nghệ phục vụ nâng cao chất lượng sống của cộng đồng;

- Chính sách ưu tiên khả năng tiếp cận của số đông người dân.

5. Một số gợi mở chính sách từ thực tiễn địa phương

Từ phân tích lý luận và thực tiễn, tham luận đề xuất một số định hướng chính sách:

Chuyển từ tư duy “đầu tư công nghệ” sang “đầu tư cho năng lực con người và tổ chức cộng đồng”.

Tích hợp chuyển đổi số nông thôn một cách thực chất vào Chương trình xây dựng nông thôn mới.

Xác lập vai trò trung tâm của cấp xã, hợp tác xã và các thiết chế cộng đồng trong chuyển đổi số.

Phát triển các nền tảng số đơn giản, chi phí thấp, dễ sử dụng.

Coi giáo dục kỹ năng số cho người dân nông thôn là nhiệm vụ nền tảng, lâu dài.

6. Kết luận

Chuyển đổi số nông thôn là xu thế tất yếu trong tiến trình xây dựng nông thôn mới và phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy chuyển đổi số không thể chỉ được hiểu như quá trình đầu tư hạ tầng, nền tảng hay số hóa các hoạt động sẵn có, mà trước hết phải được tiếp cận như một quá trình chuyển đổi xã hội, trong đó người dân nông thôn là chủ thể trung tâm. Nếu thiếu sự tham gia thực chất của người dân, chuyển đổi số dễ rơi vào hình thức, thiếu lan tỏa và kém bền vững.

Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước đều cho thấy, những mô hình chuyển đổi số nông thôn thành công đều dựa trên cách tiếp cận bao trùm, chú trọng nâng cao năng lực số, bảo đảm khả năng tiếp cận và tạo ra lợi ích cụ thể cho người dân. Ngược lại, việc triển khai thiên về phong trào, nặng về hệ thống nhưng nhẹ về con người có nguy cơ làm gia tăng khoảng cách số giữa các nhóm dân cư và giữa các vùng nông thôn, đi ngược lại mục tiêu phát triển bền vững.

Vì vậy, trong giai đoạn tới, chuyển đổi số nông thôn cần được định hướng theo tinh thần bao trùm, gắn chặt với mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống người dân và xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu. Chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi người dân nông thôn hiểu, sử dụng, làm chủ và hưởng lợi từ công nghệ số. Bao trùm không chỉ là yêu cầu xã hội, mà chính là điều kiện tiên quyết bảo đảm hiệu quả, tính lan tỏa và sự bền vững của chuyển đổi số nông thôn ở Việt Nam.

----------------------------

Tài liệu tham khảo

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
  2. Chính phủ (2021). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
  3. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 924/QĐ-TTg về Chương trình chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới, hướng tới nông thôn mới thông minh giai đoạn 2021–2025.
  4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Báo cáo chuyển đổi số quốc gia.
  5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022). Báo cáo tổng kết xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2025.
  6. OECD (2020). Rural Well-being: Geography of Opportunities. OECD Publishing.
  7. World Bank (2021). World Development Report: Data for Better Lives. Washington, DC.
  8. FAO (2022). Digital Agriculture and Rural Transformation. Rome.
  9. UNDP (2021). Digital Transformation and Inclusive Development.
  10. Nguyễn Thị Thu Hương (2022). Chuyển đổi số và phát triển nông thôn bền vững ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 6.