Chiến thắng 30/4/1975 - đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam. Đây là thiên anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh, là thắng lợi vô cùng oanh liệt của dân tộc Việt Nam, đưa nước ta vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên cả nước hoà bình, độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Đánh giá tổng kết sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Đại hội lần thứ IV của Đảng (12/1976) đã khẳng định: “Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta” [1, tr.22]. Đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Đảng là thành quả của tư duy mang đầy tính cách mạng và khoa học, vừa đánh vừa hiểu địch, hiểu ta, vừa làm vừa tổng kết thực tiễn, từng bước bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh qua các giai đoạn kháng chiến. Đường lối ấy đã phát huy hiệu quả cao nhất và thể hiện nổi bật tinh thần dám đánh, quyết thắng và năng lực biết đánh, biết thắng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả dân tộc ta để đưa tới kết quả tất yếu Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Ảnh tư liệu
Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bao gồm đường lối chính trị, quân sự của Đảng. Đó là những quan điểm tư tưởng, những nguyên tắc chiến lược, sách lược, phương châm chỉ đạo cách mạng, chỉ đạo chiến tranh và những phương pháp, hình thức đấu tranh..., được đề ra và ngày càng bổ sung, hoàn thiện qua nhiều hội nghị Trung ương Đảng, hội nghị Bộ Chính trị, trên cơ sở phân tích đúng tình hình trong nước và thế giới, xác định đúng đối tượng cách mạng, đối tượng tác chiến, động lực của cách mạng và những lực lượng cơ bản của chiến tranh nhân dân, đánh giá đúng lực lượng so sánh địch - ta trong cả thời kỳ 1954-1975 cũng như trong từng giai đoạn cuộc kháng chiến.
Việc hoạch định và cụ thể hoá, tổ chức thực hiện đường lối trong thực tiễn là quá trình kết hợp ý chí và trí tuệ của Đảng với ý chí và trí tuệ của toàn dân, không ngừng khơi dậy, động viên những nguồn lực to lớn, sức chiến đấu bền bỉ, anh dũng và năng lực sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân và của hàng triệu quần chúng. Đồng thời, đó cũng là quá trình đấu tranh làm rõ đúng sai, khắc phục sai lầm, khuyết điểm, uốn nắn những nhận thức và quan điểm lệch lạc trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhất là những tư tưởng sợ địch, do dự, hữu khuynh nảy sinh khi gặp khó khăn, vấp váp, hoặc xu hướng thoả hiệp với đế quốc và trào lưu cơ hội chủ nghĩa từ bên ngoài tác động vào. Nhờ đó, làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tăng cường đoàn kết thống nhất, nâng cao nhận thức, củng cố lòng tin, thấy rõ khả năng giành thắng lợi để quyết tâm chiến đấu kiên cường, bền bỉ cho tới ngày toàn thắng 30/4/1975.
1. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả tất yếu của đường lối chiến lược đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ: giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nhằm thực hiện một mục tiêu chung: giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thực hiện hoà bình, độc lập, thống nhất nước nhà, mở đường đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường giải phóng nhân dân ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng vạch ra, dưới ánh sáng học thuyết Mác-Lênin: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [2, tr. 30], vì “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [2, tr.563].
Ngay từ khi ra đời, Đảng ta luôn luôn nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, coi đó là đường lối cơ bản, là cương lĩnh tổng quát, là mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đường lối cơ bản đó đã phản ánh nguyện vọng thiêng liêng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam quyết tâm giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 và tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ, gian khổ (1945-1954).
Tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong hoàn cảnh đất nước tạm thời chia làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau, Đảng đã sáng tạo, độc lập, tự chủ đưa ra đường lối đúng đắn: tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền. Ở miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; đồng thời, miền Bắc thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa cùng nhằm thực hiện một mục tiêu chung: giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc. Đó là cốt lõi đường lối chính trị chung của Đảng, đây là nét đặc thù nổi bật của cách mạng Việt Nam từ tháng 7/1954 đến tháng 4/1975.
Dưới ánh sáng bởi đường lối đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Đảng, từ sau tháng 7/1954, miền Bắc được giải phóng, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Phát huy tính hơn hẳn của chế độ mới, miền Bắc đã nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh chống Pháp, khẩn trương xây dựng cơ sở kinh tế - xã hội, văn hoá, giáo dục, vật chất - kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội, củng cố và tăng cường chính quyền nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang. Đặc biệt, khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại, miền Bắc đã kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế, vừa xây dựng vừa bảo vệ, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; đồng thời, chi viện đắc lực sức người, sức của cho miền Nam.
Được sự chi viện to lớn, kịp thời từ miền Bắc, chiến tranh giải phóng miền Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, lần lượt đánh bại các bước leo thang chiến tranh, làm phá sản hết chiến lược chiến tranh này đến chiến lược chiến tranh khác, làm suy sụp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, “đánh cho Mỹ cút”, tiến lên “đánh cho nguỵ nhào” bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
2. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả tất yếu của việc thực hiện đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp nghĩa vụ dân tộc với nghĩa vụ quốc tế
Theo đuổi chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ thực hiện thí điểm các chiến lược, chiến thuật chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới. Mưu toan của Mỹ là đánh bại cách mạng Việt Nam, xoá bỏ một ngọn cờ tiên phong giải phóng dân tộc, huỷ diệt một tiền đồn của chủ nghĩa xã hội, lấy đó để răn đe phong trào giải phóng dân tộc và ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á và trên thế giới. Vì thế, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam sớm trở thành cuộc đối đầu mang tính thời đại, một tiêu điểm của cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các thế lực phản cách mạng do đế quốc Mỹ cầm đầu và lực lượng cách mạng do phe xã hội chủ nghĩa làm nòng cốt. Nhân dân Việt Nam chẳng những chiến đấu cho nền độc lập dân tộc, mà còn gánh vác một sứ mệnh do lịch sử giao phó là làm người chiến sĩ xung kích trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
Từ nhận thức đó, Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp nghĩa vụ dân tộc với nghĩa vụ quốc tế, coi đó là một nội dung quan trọng trong đường lối kháng chiến, một điều kiện bảo đảm đưa kháng chiến đến thắng lợi.
Đường lối của Đảng trước hết chú trọng nêu cao ý chí tự lực tự cường, tinh thần độc lập tự chủ, giáo dục toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tin ở sức mình, dựa vào sức mình, cố gắng huy động đến mức cao nhất lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, sức mạnh vật chất và tinh thần ở trong nước. Đồng thời, phát huy những năng lực tiềm tàng gắn với truyền thống lịch sử oanh liệt của tổ tiên, với kinh nghiệm cách mạng quý báu của quá khứ, nhằm tạo ra cho dân tộc ta, đất nước ta một sức mạnh lớn nhất để đương đầu với chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Chính sức mạnh dân tộc, sức mạnh trong nước là động lực chủ yếu, là chỗ dựa quan trong nhất quyết định thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Tuy nhiên, để đánh thắng đế quốc Mỹ, một thế lực hùng mạnh và hiếu chiến, nhân dân ta không thể chiến đấu đơn độc; hơn nữa không thể phát huy hết mức những nguồn lực và tiềm năng của dân tộc nếu không gắn liền sự nghiệp chính nghĩa của mình với những trào lưu cách mạng của thời đại, nhất là tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn về mọi mặt của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa. Nhờ đường lối kháng chiến và chính sách đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ và thái độ chân thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đã giúp sự nghiệp chống Mỹ của ta nhận được nhiều điều kiện thuận lợi của quốc tế. Chúng ta đã kết hợp được sức mạnh to lớn của dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế tạo ra cho cuộc kháng chiến một sức mạnh tổng hợp cần và đủ để hạn chế một phần sức mạnh của đế quốc Mỹ và bảo đảm cho nhân dân ta đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn, dài ngày của chúng, đi đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
3. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả tất yếu của con đường cách mạng bạo lực sáng tạo được thực hiện bằng hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, bằng hai hình thức đấu tranh cơ bản: đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự kết hợp chặt chẽ với nhau
Kinh nghiệm cách mạng nước ta cũng như trên thế giới chỉ rõ rằng các cuộc đấu tranh chống đế quốc giải phóng dân tộc nhất thiết phải thông qua những biện pháp cách mạng chứ không thể bằng những biện pháp cải lương và bước phát triển cao nhất của cuộc đấu tranh đó bao giờ cũng được thực hiện bằng bạo lực cách mạng. Nhận thức đúng vấn đề này, trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã sớm điều khiển cuộc kháng chiến chống Mỹ theo con đường cách mạng bạo lực sáng tạo được thực hiện bằng hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, bằng hai hình thức đấu tranh cơ bản: đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự kết hợp chặt chẽ với nhau.
Thấm nhuần quan điểm bạo lực của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta cho rằng bạo lực cách mạng là sự vùng dậy của đông đảo quần chúng cách mạng nhằm lật đổ giai cấp thống trị giành chính quyền về tay nhân dân. Sức mạnh quyết định của bạo lực cách mạng được tạo nên bởi hai lực lượng cơ bản là đạo quân chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang từ nhân dân mà ra, được thể hiện và thực hiện bằng hai hình thức đấu tranh là đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự và sự kết hợp chặt chẽ của hai hình thức ấy.
Thực hiện con đường bạo lực cách mạng đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng đã lãnh đạo thực hiện sử dụng và kết hợp khéo léo hai lực lượng: lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang trên cả ba vùng chiến lược; tiến hành đấu tranh quân sự đi đôi với đấu tranh chính trị, đây là hai hình thức cơ bản của bạo lực cách mạng ở miền Nam, nhờ vậy tạo nên sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ. Trong quá trình kháng chiến, thực hiện kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự là kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, kết hợp các cuộc nổi dậy của quần chúng với các cuộc tiến công của lực lượng vũ trang và bước phát triển cao nhất của sự kết hợp đúng đắn, sáng tạo đó là những đợt tiến công và nổi dậy đồng loạt trên quy mô toàn miền Nam, điển hình nhất là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975, đưa đến thắng lợi 30/4/1975.
4. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả tất yếu của tư tưởng chiến lược tiến công, đánh thắng từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn
Tiến công là bản chất của cách mạng giải phóng dân tộc. Tư tưởng cách mạng tiến công là linh hồn của cuộc đấu tranh nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Đó là tư tưởng nhất quán trong đường lối chiến lược kháng chiến chống Mỹ của Đảng. Nhìn toàn cục quá trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là quá trình thực hành chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ bộ phận đến toàn cục, phát triển tuần tự xen kẽ với những bước phát triển nhảy vọt nhằm đánh bại những bước leo thang, mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ.
Chiến lược tiến công trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là chiến lược tổng hợp. Đó là sự vận dụng tổng hợp các vấn đề có tính quy luật trong đường lối, phương pháp cách mạng, phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam nhằm phát huy tối đa lực lượng mọi mặt của ta, tạo thành một lực lượng tổng hợp to lớn đủ sức đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đưa tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Chiến lược tiến công trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là chiến lược tổng hợp, trước hết đó là chiến lược toàn dân đánh giặc. Đánh giặc bằng sự kết hợp sáng tạo giữa hai lực lượng và hai hình thức đấu tranh: quân sự và chính trị; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị; đánh địch bằng tác chiến của ba thứ quân kết hợp với các cuộc nổi dậy của quần chúng cách mạng; đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận. Đó là chiến lược cả nước đánh giặc. Đánh địch bằng hai chiến lược cách mạng ở hai miền, kết hợp kháng chiến với kiến quốc, tiền tuyến với hậu phương, kết hợp tiến công cả về quân sự, chính trị, ngoại giao. Đó còn là chiến lược dựa vào sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, nhờ vậy khả năng tiến công được nâng lên gấp bội. Bằng chiến lược tổng hợp này đã phát huy cao nhất những mặt mạnh, chỗ mạnh của ta, nhằm vào những mặt yếu, chỗ yếu của địch mà đánh, từng bước tạo sự chuyển hoá so sánh lực lượng giữa ta và địch, tiến lên giành Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Chiến lược tiến công của ta là chiến lược tiến công của một nước nhỏ chống một nước lớn, một quân đội mạnh hơn cho nên cốt lõi của nó thể hiện sự sáng tạo độc đáo là đánh thắng từng bước. Trong điều kiện lực lượng so sánh ban đầu ta ở vào thế yếu hơn địch về quân sự lại phải đương đầu với một đế quốc hùng mạnh, kiêu ngạo, ngoan cố, hiếu chiến và một kiểu chiến tranh leo thang chưa có tiền lệ trong lịch sử, ta chủ trương trên cơ sở nắm vững tư tưởng cách mạng tiến công, phải biết thắng từng bước, đẩy lùi địch từng bước, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Theo đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chúng ta đã thực hiện từng bước làm thất bại các âm mưu quân sự, chính trị, đánh bại các biện pháp chiến lược và các chiến lược chiến tranh trong quá trình Mỹ leo thang chiến tranh cũng như thời điểm Mỹ xuống thang. Bằng cách đó làm lung lay, đi đến đập tan ý chí xâm lược của chúng, buộc “Mỹ cút”, tiến lên “đánh cho nguỵ nhào” làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Thực hiện chiến lược tiến công trong đường lối đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Đảng đã tạo được thành công to lớn. Bảo đảm luôn hãm địch vào thế bị động để đối phó với thế chủ động tiến công của ta, tạo ra những trận đánh then chốt có ý nghĩa quyết định trong các bước phát triển của cuộc kháng chiến mà đặc biệt là tạo được những trận quyết chiến chiến lược trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đưa đến kết quả tất yếu của Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền nhằm một mục tiêu chung giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; thực hành bạo lực cách mạng với hai lực lượng, hai hình thức đấu tranh quân sự và chính trị kết hợp; nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, thực hành chiến lược tiến công tổng hợp, đồng thời biết thắng địch từng bước cho đúng để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là những vấn đề cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hình thành nên nội dung cơ bản chung nhất của một giải pháp tối ưu, cho phép quân và dân ta phát huy thế và lực của mình thành sức mạnh tổng hợp to lớn, đồng thời, đẩy Mỹ - ngụy vào một cuộc chiến tranh mà Mỹ- ngụy không thể sử dụng hết được sức mạnh của chúng, bảo đảm cho ta giành được thắng lợi cao nhất và có lợi nhất cho cách mạng nước ta và cách mạng thế giới. Chính những điều này là cái đúng đắn, cái hay, sáng tạo, độc lập, tự chủ trong đường lối chiến lược của Đảng, và đó cũng chính là nguồn gốc tạo nên sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh để tất yếu đi tới thắng lợi oanh liệt và trọn vẹn – Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Tài liệu tham khảo:
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb ST, H, 1977, tr.22.
[2]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H, 2011, tr.30.