Trung tá, ThS. Trần Chiến
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
1. Mở đầu
Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ và quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Nhìn lại lịch sử, từ sau năm 1975 đến nay, đặc biệt trong 40 năm đổi mới, mặc dù đất nước đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo, xem đó là yếu tố quyết định để nâng cao năng lực nội sinh quốc gia.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quá trình phát triển của giáo dục và đào tạo đã vượt qua mọi khó khăn, thác thức, luôn gắn liền với quá trình vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam và tình hình quốc tế. Xuyên suốt 40 năm đổi mới, giáo dục và đào tạo đã cung cấp nguồn lao động chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xây dựng, hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội. Đó là cơ sở tiền đề vững chắc để đất nước tiến vào kỷ nguyên mới, hướng đến xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Đảng lấy quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở phương pháp luận trong đổi mới, phát triển giáo dục
Trong bối cảnh hội nhập, hợp tác quốc tế đã và đang xuất hiện nhiều khuynh hướng quan điểm khác nhau về đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo. Để giữ vững xu hướng chính trị, tư tưởng trong quá trình đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo thì nhất thiết phải đứng trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục. Đó là cơ sở phương pháp luận của quá trinh đổi mới, phát triển. Tuy nhiên, thực tiễn luôn vận động, biến đổi không ngừng, đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo các quan điểm, tư tưởng của các nhà kinh điển trong các tình huống cụ thể.
Theo các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển con người. C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho họ có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tùy theo nhu cầu của xã hội hoặc tùy theo sở thích của bản thân họ” [19, tr.475]. V.I.Lênin khẳng định: “Lúc nào chủ nghĩa xã hội được thiết lập - đó chỉ là vấn đề lực lượng. Hiện nay, hơn bao giờ hết, việc tạo ra lực lượng ấy cho giai cấp vô sản bằng con đường tổ chức và công tác giáo dục là nhiệm vụ quan trọng nhất của đảng dân chủ ‐ xã hội” [18, tr. 828]. Chính vì vậy, V.I.Lênin yêu cầu: “Giáo dục phổ thông và bách khoa (cung cấp những tri thức lý luận và thực tiễn về tất cả các ngành chủ yếu của sản xuất), miễn học phí và cưỡng bách, đối với tất cả các nam nữ trẻ em dưới 16 tuổi; liên hệ chặt chẽ giáo dục với lao động xã hội có ích của các em” [18, tr.886]. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là một nền giáo dục toàn diện, đào tạo nên những con người phát triển toàn diện cả về thể chất, năng lực, đạo đức, thẩm mỹ.
Tiếp nối quan điểm của Mác, Anghen, Lê nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn quá trình phát triển giáo dục với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Giáo dục và đào tạo là một trong những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang… Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hóa” [16, tr.345]. Mục đích và trọng tâm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vì con người, hướng đến xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Điều đó gắn với vai trò to lớn, quyết định của giáo dục và đào tạo. Rộng hơn, giáo dục còn giúp chấn hưng dân tộc, đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, bởi vì: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [15, tr.7]. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện. Nền giáo dục đó phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất” [17, tr.647]. Người đặt kỳ vọng về tương lai của đất nước vào việc học tập, công việc giáo dục: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [15, tr. 35].
Ngay từ sớm, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng, chuẩn bị các yếu tố thành lập Đảng, đã nhấn mạnh: “Hết sức mở mang giáo dục, như lập trường, tổ chức nhà xem sách, vân vân” [2, tr. 75]. Vì thế, ngay từ Cương lĩnh chính trị (02/1930) đầu tiên, về phương diện xã hội, Đảng đề ra nhiệm vụ: “Phổ thông giáo dục theo công nông hóa” [3, tr.2]. Để chuẩn bị đội ngũ cán bộ cốt cán cho Đảng, cho kháng chiến, nhiều đảng viên ưu tú, thanh niên đã được cử đi học tập nền giáo dục ở các nước tiên tiến như Liên Xô, Pháp. Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, khi đất nước đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đặt nhiệm vụ “diệt giặc dốt” là một trong những trọng tâm hàng đầu. Phong trào “Bình dân học vụ” là sự cụ thể hóa chủ trương của Đảng về giáo dục và đào tạo, được toàn dân đồng lòng hưởng ứng. Xuyên suốt những năm tháng kháng chiến, các “Lớp học thời chiến” đã góp phần duy trì việc dạy và học ở mọi lúc, mọi nơi. Khi miền Nam là tiền tuyến trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, việc thành lập hệ thống trường học sinh miền Nam trên đất Bắc, và cuộc dịch chuyển lịch sử đưa hơn 30.000 học sinh miền Nam ra học tập ở miền Bắc thể hiện tầm nhìn xa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng về nhiệm vụ giáo dục và đào tạo nhằm tạo ra đội ngũ xây dựng, kiến thiết đất nước sau chiến tranh.
2.2. Đảng lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 1975 đến nay
2.2.1. Giai đoạn 1975-1986
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Tổ quốc hòa bình nhưng tiếng súng vẫn chưa im, kinh tế kiệt quệ do hậu quả chiến tranh và cấm vận, nhiều vấn đế khó khăn, cấp bách đặt ra cùng lúc cần phải giải quyết. Mặc dù vậy, nhưng vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chống “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” trong bối cảnh mới, Đảng vẫn đặc biệt quan tâm đến giáo dục. Ngay khi chiến tranh vừa kết thúc, Đại hội IV (1976) của Đảng đã xác định: “Ra sức phát triển sự nghiệp giáo dục,… tiến hành cải cách giáo dục, đẩy mạnh đào tạo cán bộ và công nhân” [4, tr.528]. Ngày 11/01/1979, Bộ Chính trị khóa IV đã ra Nghị quyết số 14-NQ/TW “Về cải cách giáo dục”, nêu mục tiêu của cải cách giáo dục lần này là: Làm tốt việc chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho tới lúc trưởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện. Nghị quyết nêu nguyên lý cải cách giáo dục là việc học phải đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội. Nội dung chủ yếu của công tác cải cách giáo dục gồm ba mặt: cải cách cơ cấu của hệ thống giáo dục, cải cách nội dung giáo dục và cải cách phương pháp giáo dục. Đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị quyết chuyên đề về giáo dục sau khi nước nhà thống nhất, đặt nền móng cho cải cách giáo dục những năm 80 của thế kỷ XX. Thực hiện đề án cải cách giáo dục, Đại hội V (3/1982) của Đảng xác định rõ: “Nhiệm vụ trong những năm tới là triển khai cải cách giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục một cách tích cực và vững chắc theo bước đi phù hợp với yêu cầu và khả năng của nền kinh tế quốc dân và phải ra sức phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục, coi trọng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông” [5, tr.101]. Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn sau chiến tranh, việc đầu tư cải cách giáo dục thể hiện chủ trương đúng đắn của Đảng đối với nhiệm vụ giáo dục và đào tạo.
2.2.2. Giai đoạn 1986 - 2010
Đây là giai đoạn bắt đầu đổi mới đất nước (1986) và cũng là giai đoạn mà tình hình thế giới có nhiều biến động tác động đột biến đến cách mạng Việt Nam nói chung và đến giáo dục nói riêng. Sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Điều đó làm cho hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa bị khủng hoảng về đường lối và mục tiêu phát triển. Đứng trước bối cảnh thế giới lúc bấy giờ, Đại hội VI (1986) của Đảng đánh dấu sự đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới giáo dục và đào tạo. Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội. Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế và xã hội” [6, tr.424]. Trên cơ sở đó, “Phát triển có kế hoạch hệ thống giáo dục, từ giáo dục mầm non đến đại học và trên đại học, bảo đảm chất lượng và hiệu quả đào tạo” [6, tr.424]. Đi đôi với việc nâng cao chất lượng đào tạo chuyên môn và năng lực thực hành, coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, pháp luật, giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng. Kết hợp giảng dạy, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. “Kế hoạch phát triển giáo dục phải gắn bó với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương và trong cả nước” [6, tr.425].
Khẳng định hơn nữa vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991) của Đảng nhấn mạnh: “Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu” [7, tr.139]. Nghị quyết Đai hội có những bổ sung, phát triển về: “Mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần” [7, tr.108].
Ngày 14/01/1993, Đảng ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”. Đây là nghị quyết tổng kết công cuộc cải cách giáo dục từ sau ngày giải phóng, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, nghị quyết xác định tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo, xác định 4 quan điểm, với những nội dung cơ bản: 1. Giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu; 2. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đạo đức, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài; 3. Nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới phải có các tính chất: hiện đại, dân tộc, nhân văn, dân chủ và đại chúng; 4. Giáo dục và đào tạo cần thích nghi với những đổi mới về kinh tế. Những quan điểm trên thể hiện chủ trương nhất quán của Đảng về đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo, theo tinh thần: “Phải coi đầu tư cho giáo dục là loại đầu tư cơ bản, đầu tư cho phát triển, tạo động lực và đòn bẩy thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế - xã hội” [8, tr.380-381]. Nghị quyết cũng xác định những mục tiêu và chủ trương lớn, biện pháp lớn của giáo dục và đào tạo đến năm 2000, nhằm tạo ra con người mới, lực lượng có trình độ cao để bước vào thế kỷ XXI.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đại hội VIII (6/1996) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả” [9, tr.388-389]. “Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục, đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, có việc làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo” [9, tr.389]. Đại hội xác định những vấn đề cụ thể để đổi mới giáo dục và đào tạo, cả về hệ thống cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, nội dung chương trình, phương pháp, quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo…
Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), ngày 24/12/1996, về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, đánh dấu bước đột phá trong đổi mới giáo dục và đào tạo. Hội nghị dựa trên sự phân tích tình hình thời cuộc trong nước và thế giới, vừa cảnh báo các nguy cơ vừa định hướng cho sự phát triển của nền giáo dục trong thời kỳ mới như sau: "Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo, trong các chính sách, nhất là chính sách công bằng xã hội. Phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục - đào tạo. Chống khuynh hướng "thương mại hoá", đề phòng khuynh hướng phi chính trị hoá giáo dục - đào tạo. Không truyền bá tôn giáo trong trường học" [9, tr.728]. Đây là quan điểm định hướng chiến lược cho sự phát triển của nền giáo dục nước nhà trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục và đào tạo trước đó, Nghị quyết xác định những tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa: 1. Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…; 2. Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu; 3. Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. 4. Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh; 5. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo; 6. Giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo. Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2000, trong đó, “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học. Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [9, tr.728]. Nghị quyết này đã tạo nền tảng tiền đề vững chắc để giáo dục và đào tạo phát triển trong thế kỷ XXI.
Tại Đại hội IX (4/2001) của Đảng, trước yêu cầu phát triển đất nước trong thế kỷ mới, “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [10, tr.198]. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”. “Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” [10, tr.198].
Đại hội X (4/2006) của Đảng tiếp tục cụ thể hóa chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo trong điều kiện phát triển nền kinh tế tri thức. “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [11, tr.197]. Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người.
Một sự kiện có tính bước ngoặt trong giai đoạn này, đó là Việt Nam gia nhập WTO (ngày 1/1/2007), chính thức ký Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS). Theo Hiệp định, giáo dục được xếp vào nhóm thứ 5 trong 12 nhóm dịch vụ được ký kết. Việc công nhận giáo dục là một dịch vụ đã làm nảy sinh nhiều ý kiến khác nhau trong giáo giới. Dư luận đặt ra câu hỏi rằng, vấn đề này có mâu thuẫn gì với quan điểm “Chống khuynh hướng "thương mại hoá", đề phòng khuynh hướng phi chính trị hoá giáo dục - đào tạo” đã được ghi trong Nghị quyết TƯ2 (khoá VIII) hay không? Trước tình hình căng thẳng giữa các luồng ý kiến khác nhau trong giáo giới và dư luận xã hội, ngày 15 tháng 4 năm 2009, Bộ Chính trị đã ra Kết luận số 242-TB/TƯ về tiếp tục thực hiện nghị quyết TƯ2 (khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục, đào tạo đến năm 2020. Trong đó nhấn mạnh: “Trước tình hình mới, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết TƯ2 (khóa VIII), phấn đấu đến năm 2020 nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế”.
Theo tinh thần đó, những quan điểm của Nghị quyết TƯ2 (khóa VIII) vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cho việc phát triển của giáo dục Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, việc thực hiện các quan điểm đó phải được đặt trong tình hình mới, vừa chấp nhận tham gia thương mại giáo dục vừa chống khuynh hướng "thương mại hoá" nền giáo dục. Tham gia các hoạt động thương mại giáo dục và “thương mại hoá” nền giáo dục là hai phạm trù không đồng nhất với nhau. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và trong xu thế thời đại hiện nay, việc bắt tay với các đối tác tham gia các hoạt động thương mại giáo dục là một quyết sách sáng suốt và mềm dẻo. Vấn đề quyết định là trong khi đi cùng với các đối tác, thực hiện các hoạt động thương mại giáo dục chúng ta phải hướng tới xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa “tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc”.
2.2.3. Giai đoạn 2010 - nay
Đây là giai đoạn ổn định và phát triển của đất nước. Giáo dục và đào tạo chuyển từ phương thức dạy và học theo kiểu trang bị kiến thức là chủ yếu sang phương thức phát triển năng lực và phẩm chất của người học. Nghĩa là chuyển từ giáo dục, đào tạo dựa trên lý thuyết tiếp cận nội dung sang giáo dục, đào tạo dựa trên lý thuyết tiếp cận năng lực. Đây cũng là giai đoạn cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tác động đã làm xuất hiện kỷ nguyên số và số hóa trong giáo dục, đào tạo. Xuất hiện môi trường giáo dục ảo và các phương thức giáo dục, đào tạo mới. Đổi mới giáo dục theo số hóa diễn ra khá mạnh trong mọi hoạt động.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), được thông qua tại Đại hội XI (01/2011) của Đảng, nhấn mạnh: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” [12, tr.76]. Do đó, “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” [12, tr.77]. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện chủ trương đó, tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 02/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Về định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết đưa ra 7 quan điểm chỉ đạo, trong đó có những sự đột phá tư duy so với trước, như: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết; chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo; gắn kết giữa giáo dục và đào tạo với hội nhập quốc tế. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát: “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc” [1, tr.4]. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Đây là nghị quyết đặc biệt quan trọng, với những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo trong bối cảnh mới.
Các nghị quyết của Đảng về giáo dục, đào tạo được lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đạt được những thành quả nhất định. Tuy nhiên, “giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển” [13, tr.114]. Chính vì vậy, Đại hội XII (01/2016) của Đảng chỉ rõ: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn” [13, tr.114]. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học.
Đến Đại hội XIII (01/2021) của Đảng, một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài” [14, tr.115]. Tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hôi, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam.
Như vậy, xuyên suốt công cuộc đổi mới đất nước, chủ trương đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng là một quá trình đổi mới tư duy, hướng đến xây dựng nền giáo dục toàn diện, tiên tiến và hiện đại. Chủ trương đó là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận Mác - Lênin, tư tư Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo. Đồng thời, dựa vào tình hình thực tiễn từng giai đoạn, Đảng đã nhạy bén, linh hoạt, kịp thời điều chỉnh, bổ sung chủ trương để đưa giáo dục và đào tạo của Việt Nam tiến nhanh, vươn lên trình độ hàng đầu trong khu vực và trên thế giới, “sánh vai với các cường quốc năm châu”.
Hiện nay, đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Giáo dục và đào tạo được xác định là đột phá chiến lược đảm bảo các điều kiện quan trọng cho sự bứt phá của dân tộc trong kỷ nguyên mới. Mục tiêu đặt ra cho ngành giáo dục là cung cấp được nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo ra năng suất lao động cao hơn cho nhiều lĩnh vực để góp sức vào kỷ nguyên mới. Giáo dục và đào tạo cần một sự hoán cốt từ bên trong, để hướng tới chất lượng cao hơn, tới nền giáo dục phát triển con người toàn diện, tạo ra những công dân tốt và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đổi mới nền giáo dục phải thay đổi cho được các thói quen, lối tư duy, cách nghĩ và cách làm cũ, vượt qua các giới hạn để phát triển bứt phá. Có như vậy mới đào tạo ra hiền tài, nguồn nhân lực chất lượng cao, để toàn dân tộc có nguồn nội lực cốt lõi tiến bước nhanh, mạnh, vững chắc trong kỷ nguyên mới./.
3. Kết luận
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn xác định vai trò hàng đầu, chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo, dù trong điều kiện thời bình hay thời chiến. Trong công cuộc đổi mới, Đảng luôn nhất quán quan điểm: Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Đó là một nền giáo dục toàn diện, tiên tiến và hiện đại. Đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển. Do vậy, Đảng chú trọng đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Nền giáo dục Việt Nam không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển trong nước, mà phải gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế, góp phần khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Bước vào thời kỳ phát triển mới, với mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, đòi hỏi giáo dục và đào tạo càng phải đổi mới và phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Trong bối cảnh cách mạng số, trí tuệ nhân tạo (AI) bùng nổ mạnh mẽ, giáo dục và đào tạo phải kịp thời tận dụng thời cơ để phát triển, song, phải ngăn ngừa, khắc phục những thách thức đặt ra. Đó là nhiệm vụ cách mạng lâu dài, đòi hỏi công sức, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị để làm nền tảng xây dựng thành công xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 02/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Hà Nội, 2013.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2004.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 43, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2004.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2004.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 52, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 55, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 60, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 65, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
15. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011.
16. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011.
17. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011.
18. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 28, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006.
19. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995.