Nguyễn Thị Trà Mi
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Email:[email protected]
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh mới của chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trên cơ sở làm rõ quan điểm phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát triển con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bài viết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chiến lược tổng thể phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu thực tiễn của đất nước. Đồng thời, bài viết đề xuất một số giải pháp cơ bản về phát triển nhân lực chất lượng cao. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định phát triển nguồn nhân lực là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước trong tình hình mới.
Từ khóa: Nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực; giáo dục và đào tạo; kinh tế - xã hội; nhân lực chất lượng cao; chuyển đổi số; hội nhập quốc tế.
1. Đặt vấn đề
Trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng với điều kiện trong nước và quốc tế có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thử thách đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, phức tạp hơn. Nhận thức và giải quyết tốt các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề, nhiệm vụ có vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng; là vấn đề cấp thiết, vừa cấp bách vừa lâu dài, góp phần đưa đất nước ổn định, phát triển nhanh, bền vững, đồng thời có ý nghĩa định hướng cho việc giải quyết các mối quan hệ khác. Để phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện thực tế của đất nước, phát triển kinh tế - xã hội phải huy động, tham gia và sử dụng hiệu quả, đồng bộ các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
2. Nội dung
Kinh tế - xã hội là cách thức hoạt động kinh tế ảnh hưởng và được định hình qua quá trình phát triển của xã hội. Đối với Việt Nam, vấn đề phát triển kinh tế - xã hội chính là sự phát triển gắn với định hướng xây dựng xã hội XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Việt Nam sẽ hướng tới phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Để thực hiện được mục tiêu. Phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ trung tâm trong Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước, đòi hỏi sự vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương với chương trình hành động cụ thể và các bước đi phù hợp
Đẩy mạnh đào tạo phát triển nguồn nhân lực là giải pháp vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa có tính cơ bản lâu dài trong phát triển kinh tế - xã hội, qua đó, khắc phục căn bản tình trạng thiếu hụt về số lượng, hạn chế về chất lượng, bất hợp lý về cơ cấu nguồn nhân lực của nước ta hiện nay.
Để thực hiện giải pháp này, cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, xây dựng chiến lược tổng thể phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đây là biện pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực theo một kế hoạch thống nhất, khắc phục tình trạng phát triển tự phát như hiện nay. Để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cần phải tập trung làm rõ cơ sở khoa học, tính tất yếu khách quan phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói riêng. Cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh, muốn thực hiện có hiệu quả chủ trương phát triển kinh tế - xã hội phải lấy con người được phát triển toàn diện làm trung tâm, làm mục tiêu và động lực. Thực hiện điều tra khảo sát đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực trong năm năm, mười năm, hai mươi năm tới để xác định mục tiêu của chiến lược cho phù hợp. Chiến lược phát triển tổng thể nguồn nhân lực của đất nước phải gắn với nhu cầu sử dụng nguồn nhân của đất nước và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Thứ hai, phải xác định rõ chiến lược, mục tiêu, lộ trình, cơ chế, chính sách tổng thể để phát triển nguồn nhân lực ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội phải có mục tiêu rõ ràng, trong đó phải đặt mục tiêu phát triển lực lượng nguồn nhân lực chất lượng cao là ưu tiên hàng đầu. Vì vậy, mục tiêu chiến lược phải ưu tiên khắc phục mâu thuẫn giữa phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Hướng trọng tâm vào phát triển nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng kỹ xảo, kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp và các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực các ngành kinh tế. Xác định quy mô, số lượng và cơ cấu của từng loại nguồn nhân lực cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của đất nước. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực cũng cần xây dựng lộ trình thực hiện một cách hợp lý, có tính dự báo cao, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút và phát triển nguồn nhân lực. Tất cả những vấn đề trên đều phải phù hợp với điều kiện của đất nước song cũng đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới. Đồng thời cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của từng bộ ban ngành cơ quan, địa phương trong thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực.
Thứ ba, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, chiến lược cần xác định trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức xã hội, các thành phần kinh tế đối với nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội để có nghĩa vụ thực hiện phù hợp. Bên cạnh đó, cần thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động trong toàn xã hội về vị trí, vai trò phát triển nguồn nhân lực để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó xác định trách nhiệm trong công tác phát hiện, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực. Đồng thời mỗi cá nhân người lao động cũng thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu không ngừng để trở thành những người lao động có trình độ chuyên môn tay nghề cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước .
Thứ tư, tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đây là giải pháp then chốt, quyết định để phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay; bởi vì, đào tạo nguồn nhân lực là cơ sở và là con đường cơ bản để phát huy nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội; mà chất lượng giáo dục - đào tạo là nhân tố cơ bản nhất quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời cũng quyết định đến số lượng nguồn nhân lực qua đào tạo và số lượng nhân lực chất lượng cao. Do đó, cần tập trung quan tâm thực hiện tốt các nội dung chính sau đây:
Một là, hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Tổ chức lại mạng lưới giáo dục đào tạo, sắp xếp lại hệ thống giáo dục quốc dân cả ở quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề, cơ sở đào tạo, quy hoạch lại mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, vùng, miền và địa phương. Thực hiện phân tầng giáo dục đại học.
Hai là, đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, khung chương trình đào tạo ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tăng thời gian thực hành, tập trung vào những nội dung, kỹ năng người học, doanh nghiệp và xã hội cần, đảm bảo liên thông giữa các bậc học, cấp học, giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đa dạng hoá các phương thức đào tạo. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học.
Ba là, đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Cải cách mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Từng bước áp dụng kiểm định, đánh giá theo kết quả đầu ra của giáo dục và đào tạo.
Đổi mới chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào giáo dục và đào tạo. Đặc biệt chú trọng việc tổ chức sắp xếp lại và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các trường sư phạm trên phạm vi cả nước.
Thứ năm, bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực. Ngân sách nhà nước là nguồn lực chủ yếu để phát triển nhân lực quốc gia. Tăng đầu tư phát triển nhân lực cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Cần xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách nhà nước theo hướng tập trung chi để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án đào tạo theo mục tiêu ưu tiên và thực hiện công bằng xã hội (hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực ở các vùng sâu, vùng xa, cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách…). Nghiên cứu đổi mới cơ chế phân bổ và hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước cho phát triển nhân lực từ hỗ trợ cho các đơn vị cung ứng sang hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng và bảo đảm công bằng giữa các cơ sở công lập và ngoài công lập.
Đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực. Chính phủ có cơ chế, chính sách để huy động các nguồn vốn của người dân đầu tư và đóng góp cho phát triển nhân lực bằng các hình thức: Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo, cơ sở y tế, văn hoá, thể dục thể thao; góp vốn, mua công trái, hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực. Cần quy định trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sự phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi và có cơ chế, chính sách mạnh để doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tăng đầu tư phát triển nhân lực nói chung và đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề nói riêng. Mở rộng các hình thức tín dụng ưu đãi cho các cơ sở giáo dục, đào tạo và cho học sinh, sinh viên để học nghề, học đại học, cao đẳng, hỗ trợ người lao động học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Đẩy mạnh và tạo cơ chế phù hợp để thu hút các nguồn vốn nước ngoài cho phát triển nhân lực; sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của nước ngoài hỗ trợ phát triển nhân lực (ODA); thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) của nước ngoài cho phát triển nhân lực (đầu tư trực tiếp xây dựng các cơ sở giáo dục, đào tạo, bệnh viện, trung tâm thể thao..).
Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Theo đó, xây dựng, thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật về phát triển nguồn nhân lực phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng không trái với thông lệ và luật pháp quốc tế về lĩnh vực này mà nước ta đã tham gia, ký kết, cam kết thực hiện. Xây dựng nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục và đào tạo theo định hướng phù hợp chuẩn quốc tế và đặc thù của nước ta; tăng cường quan hệ liên thông chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo trong nước và quốc tế; thực hiên công nhận lẫn nhau chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam và của thế giới; thỏa thuận về việc công nhận văn bằng, chứng chỉ đào tạo giữa nước ta với các nước. Tham gia kiểm định quốc tế chương trình đào tạo. Thực hiện đánh giá và quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, liên kết, trao đổi về giáo dục và đào tạo đại học, sau đại học và các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, công nghệ giữa các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam và thế giới. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội, kêu gọi đầu tư nước ngoài nhằm xây dựng một số trường đại học, cao đẳng và dạy nghề đạt chuẩn quốc tế. Tăng cường dạy và bồi dưỡng ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), văn hoá thế giới, kỹ năng thích ứng trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ, công nhân kỹ thuật với nhiều hình thức phong phú. Có thể kết hợp đưa công nhân đi đào tạo, có thể tranh thủ các nguồn tài trợ, các dự án của các tổ chức quốc tế, các công ty nước ngoài, mời chuyên gia sang đào tạo... để nhanh chóng nâng cao trình độ, tay nghề.
3. Kết luận
Trong bối cảnh mới, để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cần tập trung phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Tiếp tục quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, công nghệ, phấn đấu có các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực. Đa dạng hóa công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với từng đối tượng, bộ phận; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng công nghệ mới, công nghệ chip bán dẫn, công nghệ điều khiển và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất; nâng cao trình độ quản lý và kiến thức về kinh tế thị trường, pháp luật trong kinh doanh./.
Danh mục tài liệu tham khảo
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025
[3]. Lương Công Lý (chủ biên), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2026.
[4]. Trần Khánh Đức (chủ biên), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2025.