ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC QUÂN SỰ Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

TS Nguyễn Thanh Bình - Phó Trưởng phòng KHQS – Học viện Chính trị Tóm tắt: Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số quốc gia, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự tại Học viện Chính trị có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy và quản lý khoa học. Bài viết tập trung phân tích vai trò, thực trạng và đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ số trong tổ chức, khai thác, quản lý v
08:50 | 28/02/2026

TS Nguyễn Thanh Bình -

Phó Trưởng phòng KHQS – Học viện Chính trị

Tóm tắt: Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số quốc gia, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự tại Học viện Chính trị có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy và quản lý khoa học. Bài viết tập trung phân tích vai trò, thực trạng và đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ số trong tổ chức, khai thác, quản lý và chia sẻ thông tin khoa học quân sự, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ của Học viện trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Công nghệ số, thông tin khoa học quân sự, Học viện Chính trị, chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học.

1. Mở đầu

Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, thông tin khoa học quân sự trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển nghiên cứu, đào tạo và quản lý khoa học trong các học viện, nhà trường quân đội. Học viện Chính trị là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị cấp chiến dịch, chiến lược đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức thu thập, xử lý, lưu trữ và khai thác thông tin khoa học theo hướng số hóa, thông minh và kết nối. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học không chỉ góp phần hiện đại hóa công tác nghiên cứu, mà còn nâng cao năng lực phân tích, dự báo và quản lý tri thức khoa học trong điều kiện mới.

2. Cơ sở lý luận về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự

2.1. Khái niệm

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự là tổng thể những cách thức, biện pháp của chủ thể sử dụng những thiết bị điện tử, hệ thống mạng xã hội, mạng quân sự truyền tải số liệu, thông tin và các phần mềm ứng dụng hiện đại vào các khâu, các bước trong quy trình thu thập, khai thác, xử lý, phân tích, tổng hợp, lưu trữ, phổ biến thông tin nhằm làm cho hoạt động này phát triển toàn diện, hiệu quả đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học ở Học viện Chính trị hiện nay.

Đây là quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực thông tin khoa học quân sự, gắn với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái thông tin, tri thức quân sự số, phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo và chỉ huy quản lý trong toàn Học viện Chính trị và các cơ quan, đơn vị liên quan.

2.2. Vai trò của ứng dụng công nghệ số trong thông tin khoa học quân sự

- Nâng cao hiệu quả thu thập và xử lý thông tin khoa học. Công nghệ số giúp tự động hóa quá trình thu thập dữ liệu, tra cứu tài liệu, cập nhật kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó rút ngắn thời gian xử lý, giảm sai sót và tăng độ chính xác của thông tin khoa học quân sự.

- Mở rộng khả năng chia sẻ và khai thác tri thức khoa học. Thông qua các nền tảng số, cơ sở dữ liệu điện tử và kho học liệu số, giảng viên, học viên, nhà nghiên cứu có thể tiếp cận và trao đổi thông tin khoa học mọi lúc, mọi nơi; tăng cường tính liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội.

- Tăng cường quản lý, bảo mật và an toàn thông tin khoa học. Ứng dụng các công nghệ như điện toán đám mây, mã hóa dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích dữ liệu lớn (Big Data) giúp hệ thống hóa, lưu trữ an toàn và bảo mật thông tin khoa học, phù hợp đặc thù quân sự.

2.3. Nội hàm của việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự không chỉ là việc trang bị, sử dụng các phương tiện kỹ thuật số hiện đại, mà còn là quá trình đổi mới toàn diện từ nhận thức, mô hình tổ chức, quy trình nghiệp vụ, phương pháp quản lý đến văn hóa khoa học số. Nội hàm của quá trình này có thể xác định trên năm phương diện cơ bản sau:

Một là, số hóa toàn diện nguồn thông tin và tri thức khoa học quân sự

Số hóa dữ liệu khoa học là bước khởi đầu quan trọng, bao gồm việc chuyển đổi các tài liệu in, kết quả nghiên cứu, đề tài, báo cáo, luận văn, giáo trình, tài liệu giảng dạy và huấn luyện thành dạng dữ liệu số. Hình thành kho học liệu số và cơ sở dữ liệu khoa học quân sự điện tử, cho phép tìm kiếm, truy xuất, phân loại và cập nhật thông tin nhanh chóng, chính xác. Tiến tới chuẩn hóa định dạng, mã hóa và bảo đảm tương thích dữ liệu, tạo điều kiện kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan nghiên cứu, đào tạo trong toàn quân. Mục tiêu xây dựng nền tảng dữ liệu số thống nhất, tập trung, tạo nguồn tri thức khoa học quân sự phong phú, phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy và chỉ huy.

Hai là, ứng dụng công nghệ số trong thu thập, xử lý và quản lý thông tin khoa học

Sử dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và điện toán đám mây (Cloud Computing) để tự động hóa quá trình thu thập, phân loại và phân tích dữ liệu khoa học. Tích hợp hệ thống phần mềm quản lý đề tài, công trình và kết quả nghiên cứu khoa học nhằm số hóa toàn bộ quy trình quản lý, từ khâu đăng ký, thẩm định, nghiệm thu đến lưu trữ và phổ biến. Xây dựng hệ thống chỉ số và công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học dựa trên dữ liệu thực, phục vụ công tác quản lý, quy hoạch và ra quyết định khoa học. Mục tiêu chuyển đổi phương thức quản lý khoa học từ thủ công sang quản lý số, minh bạch, liên thông và dựa trên dữ liệu.

Ba là, phát triển hệ sinh thái thông tin, tri thức số trong lĩnh vực khoa học quân sự

Hình thành mạng lưới thông tin khoa học quân sự số liên kết giữa các phòng, ban, trung tâm nghiên cứu, thư viện, học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội. Tạo dựng môi trường nghiên cứu mở (Open Science Environment), cho phép chia sẻ, thảo luận và hợp tác trực tuyến giữa các nhà khoa học, giảng viên, học viên. Kết nối hệ thống thông tin khoa học quân sự của Học viện Chính trị với các cơ sở dữ liệu quốc phòng, các viện nghiên cứu, thư viện số quốc gia và quốc tế. Mục tiêu hình thành hệ sinh thái khoa học số quân sự thống nhất, thông minh, an toàn và tương tác cao, góp phần lan tỏa tri thức khoa học quân sự.

Bốn là, đổi mới văn hóa và phương thức làm việc trong môi trường khoa học số

Xây dựng văn hóa số trong hoạt động khoa học, đề cao tinh thần chia sẻ, minh bạch, hợp tác và sáng tạo trong môi trường điện tử. Thay đổi phương thức làm việc từ “giấy tờ – hồ sơ truyền thống” sang “hồ sơ điện tử – dữ liệu trực tuyến”, giảm thời gian xử lý, tăng tính chính xác và kịp thời. Khuyến khích ứng dụng các công cụ hỗ trợ số (họp trực tuyến, quản lý dự án số, nền tảng hợp tác nghiên cứu ảo, phần mềm trích dẫn và kiểm chứng tài liệu khoa học). Mục tiêu hình thành năng lực số và tác phong làm việc số cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhà nghiên cứu trong Học viện.

Năm là, bảo đảm an toàn, bảo mật và chủ quyền thông tin khoa học quân sự trên không gian số

Xây dựng và thực thi các quy chế bảo mật dữ liệu khoa học quân sự, phân cấp quyền truy cập và sử dụng thông tin theo chức năng, nhiệm vụ. Ứng dụng các giải pháp an ninh mạng, mã hóa dữ liệu và giám sát truy cập để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hệ thống thông tin khoa học của Học viện. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý kỹ thuật và quản lý con người, nâng cao nhận thức về bảo mật, an ninh mạng trong nghiên cứu khoa học. Mục tiêu bảo vệ chủ quyền dữ liệu và bảo đảm an ninh thông tin khoa học quân sự, yếu tố sống còn trong điều kiện chuyển đổi số hiện nay.

Như vậy, nội hàm của việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự bao gồm: Quá trình số hóa tri thức và dữ liệu khoa học; Ứng dụng công nghệ tiên tiến để đổi mới quản lý và khai thác thông tin; Phát triển hệ sinh thái khoa học số kết nối, mở và thông minh; Chuyển đổi văn hóa nghiên cứu theo hướng số hóa, minh bạch, hợp tác; Bảo đảm an toàn, bảo mật và chủ quyền thông tin trong không gian mạng quân sự. Đây là quá trình chuyển đổi mang tính toàn diện, hệ thống và chiến lược, góp phần hiện đại hóa công tác khoa học và công nghệ của Học viện Chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” trong kỷ nguyên số.

2.4. Mục tiêu và yêu cầu của việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay

2.4.1. Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị nhằm hiện đại hóa toàn diện công tác nghiên cứu, quản lý và phổ biến tri thức khoa học, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính kịp thời và độ tin cậy của thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng Đảng trong quân đội. Đây là bước đi quan trọng trong quá trình chuyển đổi số lĩnh vực khoa học và công nghệ quân sự, phù hợp với định hướng của Bộ Quốc phòng và chiến lược phát triển của Học viện Chính trị đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Mục tiêu cụ thể: Một là, xây dựng hệ thống thông tin khoa học quân sự số hóa, tích hợp, an toàn và liên thông, đáp ứng nhu cầu khai thác tri thức nhanh, chính xác, hiệu quả cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu.

Hai là, hoàn thiện cơ sở dữ liệu khoa học quân sự và kho học liệu số, kết nối với mạng thông tin nội bộ của quân đội, bảo đảm chia sẻ, cập nhật, tra cứu và sử dụng thông tin theo thời gian thực.

Quảng cáo

Ba là, phát triển nguồn nhân lực số có năng lực làm chủ công nghệ, có kỹ năng số và tư duy phân tích dữ liệu trong nghiên cứu, quản lý, khai thác và bảo mật thông tin khoa học.

Bốn là, hình thành văn hóa nghiên cứu khoa học số trong toàn Học viện – đề cao tinh thần chia sẻ, hợp tác, minh bạch và sáng tạo trong môi trường số.

Năm là, tăng cường an ninh, an toàn thông tin khoa học quân sự, bảo đảm chủ quyền dữ liệu và an ninh mạng trong mọi hoạt động nghiên cứu, lưu trữ và khai thác thông tin.

2.4.2. Yêu cầu

- Về nhận thức và định hướng lãnh đạo. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Học viện cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của chuyển đổi số trong hoạt động khoa học quân sự, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, lâu dài. Cần quán triệt thống nhất quan điểm ứng dụng công nghệ số là công cụ chiến lược để nâng cao năng lực nghiên cứu, quản lý và đổi mới sáng tạo khoa học quân sự, không chỉ là xu hướng kỹ thuật đơn thuần.

- Về tổ chức và cơ chế triển khai . Phải có chiến lược, kế hoạch và lộ trình chuyển đổi số cụ thể trong lĩnh vực thông tin khoa học, phù hợp với đặc thù của Học viện Chính trị. Hoàn thiện bộ máy quản lý, quy chế vận hành và phối hợp giữa các đơn vị nghiên cứu, giảng dạy, thư viện, công nghệ thông tin và phòng khoa học quân sự. Xây dựng cơ chế đầu tư, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính – công nghệ, bảo đảm tính bền vững của hệ thống thông tin số.

- Về nhân lực và năng lực số. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên làm công tác khoa học cần được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng khai thác và phân tích dữ liệu khoa học. Cần phát triển đội ngũ chuyên gia công nghệ thông tin và quản trị dữ liệu trong Học viện, làm nòng cốt triển khai các dự án chuyển đổi số khoa học quân sự. Khuyến khích tinh thần học tập suốt đời và tự cập nhật tri thức công nghệ mới, tạo động lực cho đổi mới sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu.

- Về hạ tầng và nền tảng công nghệ. Đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật số gồm máy chủ, thiết bị lưu trữ, mạng nội bộ tốc độ cao, phần mềm quản lý khoa học, cơ sở dữ liệu điện tử, hệ thống an ninh mạng và sao lưu dự phòng. Phát triển nền tảng tích hợp dữ liệu khoa học quân sự, có khả năng liên thông với các học viện, viện nghiên cứu và cơ quan trong toàn quân. Ứng dụng các công nghệ mới như AI, Big Data, Blockchain, Cloud Computing, Internet vạn vật (IoT) trong quản lý, phân tích và bảo mật thông tin.

- Về bảo mật và an toàn thông tin khoa học quân sự. Đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối cho toàn bộ dữ liệu, hệ thống và người dùng. Tăng cường giám sát, kiểm soát truy cập, mã hóa dữ liệu, quản lý quyền người dùng, đặc biệt đối với các thông tin, công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực bí mật quân sự. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và diễn tập an ninh mạng, chủ động phòng ngừa nguy cơ mất an toàn thông tin.

Tóm lại, mục tiêu và yêu cầu của việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị không chỉ hướng tới đổi mới kỹ thuật, mà còn bao hàm chuyển đổi mô hình tư duy, phương thức quản lý và văn hóa nghiên cứu.

Việc thực hiện thành công mục tiêu này sẽ giúp Học viện tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu khoa học; Nâng cao chất lượng giảng dạy và đào tạo cán bộ chính trị; Xây dựng môi trường tri thức quân sự số hóa, hiện đại, an toàn; Góp phần trực tiếp vào thực hiện thắng lợi Chiến lược chuyển đổi số trong Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030 do Bộ Quốc phòng ban hành.

3. Thực trạng ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học ở Học viện Chính trị

Trong thời gian qua, được sự quan tâm của Bộ Quốc phòng, cơ quan nghiệp vụ cấp trên (Cục Khoa học quân sự và Thư viện Quân đội), Học viện Chính trị được đầu tư nâng cấp trang thiết bị như: Hệ thống máy tính, xây dựng các phòng đọc số, phần mềm quản lý hoạt động thông tin - thư viện, hệ thống máy chủ, máy quét tài liệu, máy dựng phim, in thẻ bạn đọc, đầu đọc mã vạch trên tài liệu…

Tuy nhiên, so với hệ thống các cơ quan thông tin trong và ngoài quân đội, việc ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học của Học viện còn có mặt chưa tương xứng với tiềm năng, còn một số bất cập cả về nhận thức, trách nhiệm của chủ thể, đối tượng và nội dung, hình thức, biện pháp thực hiện. Hạ tầng kỹ thuật và phần mềm quản lý chưa đồng bộ. Nguồn nhân lực làm công tác thông tin khoa học còn thiếu kỹ năng số. Cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các phòng, ban, trung tâm còn hạn chế. Thiếu các công cụ phân tích, dự báo và đánh giá hiệu quả nghiên cứu trên nền tảng số.

Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và khả năng lan tỏa của thông tin khoa học quân sự trong toàn Học viện.

4. Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị

Trong giai đoạn phát triển mới, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo; nghiên cứu khoa học của Học viện đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao, nhất là tiến tới xây dựng Học viện số, Học viện thông minh đòi hỏi cần phải tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin khoa học quân sự để đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của thực tiễn. Do vậy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học ở Học viện Chính trị hiện nay cần thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó tập trung vào một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, quyết tâm của các chủ thể về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị

Nhận thức đúng, quyết tâm cao của các chủ thể sẽ sẽ góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện cũng như đầu tư khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự phục vụ cho nhiệm vụ chính trị trung tâm của đơn vị. Phòng khoa học quân sự phải thường xuyên phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong Học viện thông qua hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần quán triệt rõ sự cần thiết và vai trò của việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin khoa học quân sự hiện nay.

Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi thành viên trong cơ quan, đơn vị nhất là ở cơ quan chức năng phải coi đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự là một trong nhưng phương tiện, là chìa khóa để mở rộng tri thức và tiếp cận, phổ biến những vấn đề mới; đề cao trách nhiệm, xây dựng quyết tâm của cấp uỷ Đảng, các tổ chức chỉ huy, các cơ quan chức năng và các lực lượng trong việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị.

Hai là, triển khai ứng dụng hiệu quả công nghệ số vào các khâu, các bước trong hoạt động thông tin khoa học quân sự ở Học viện

Trong thu thập thông tin: Phải đẩy mạnh sử dụng các công cụ số như: AI, phần mềm Ilib8.0… để tổ chức khai thác có hiệu quả các thông tin trên mạng Internet, mạng Misten (mạng quân sự), đài phát thanh, truyền hình và các nguồn từ các trung tâm thông tin khoa học trong và ngoài quân đội, các nhà xuất bản, các cơ quan thông tấn báo chí; một số tạp chí điện tử và hướng mạnh vào hoạt động thu thập thông tin điện tử.

Trong hoạt động xử lý thông tin: Ứng dụng công nghệ số để thực hiện thống nhất các chuẩn mô tả dữ liệu máy đọc làm cơ sở cho việc tự động hóa quá trình tra cứu, khai thác thông tin, quản lý thông tin một cách dễ dàng. Xây dựng được hệ thống tra cứu cơ sở dữ liệu toàn văn, thư mục và xếp sắp các tài liệu bằng công nghệ hiện đại, dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin của hệ thống phần mềm Thư viện số (phần mềm Ilib, Libol, DTSoft).

Trong khâu bảo quản tin: phải đẩy mạnh sử dụng các trang thiết bị công nghệ thông tin hiện đại như: máy quét tài liệu tự động, máy tính, máy ảnh kỹ thuật số, camera để số hóa nguồn tin, tạo điều kiện cho cán bộ cơ quan thông tin khoa học dễ dàng quản lý và nhiều lượt người dùng tin được tiếp cận tới tài liệu khi mà số lượng bản ấn phẩm bằng giấy ngày càng giảm, đồng thời góp phần bảo quản tài liệu, tránh hư hỏng, mất mát và tăng cường vốn tài liệu cho hoạt động của cơ quan chức năng.

Trong phổ biến thông tin: ngoài việc áp dụng các hình thức phổ biến thông tin truyền thống, cơ quan thông tin khoa học phải mạnh dạn, linh hoạt, sáng tạo áp dụng các hình thức, phương pháp phổ biến thông tin hiện đại, như phổ biến thông tin qua mạng Misten, mạng Internet, qua cổng thông tin thư viện số; mở rộng và khai thác có hiệu quả phòng đọc số của Thư viện.

Ba là, chú trọng đầu tư trang bị, cơ sở vật chất đảm bảo cho đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị

Để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị, cần thiết phải duy trì, bảo dưỡng, nâng cấp, cải tiến các trang thiết bị cơ sở vật chất, phương tiện bao gồm: trụ sở làm việc của cơ quan chức năng; hệ thống các trang thiết bị kỹ thuật như: kỹ thuật tổ chức (máy chủ, thiết bị xử lý, bảo quản, tiêu huỷ tài liệu); kỹ thuật nhân sao, số hóa tài liệu (máy photocopy, máy quét tài liệu tự động); kỹ thuật phổ biến - tuyên truyền (máy chiếu, máy quay, máy ảnh kỹ thuật số, máy in màu); kỹ thuật thu thập xử lý thông tin (máy tính, máy quét và thiết bị ngoại vi…); hệ thống các phần mềm Thư viện dùng để quản lý thông tin (Ilib, Dlib, Libol,..).

Tăng cường đầu tư cơ sở, vật chất trang thiết bị phương tiện đảm bảo cho đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự, cần kết hợp giữa duy trì vật tư hiện có với trang bị mới, hiện đại các vật tư, phương tiện, sử dụng tất cả những phương tiện, hình thức có thể. Khai thác, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện có, đồng thời giữ gìn, bảo quản tốt, bền các trang, thiết bị để sử dụng lâu dài. Huy động và phát huy khả năng từ nhiều nguồn để tạo nguồn lực đổi mới, hiện đại hóa trang thiết bị cho việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số; kết hợp giữa đầu tư của cấp trên với đơn vị chủ động bảo đảm.

Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thông tin khoa học quân sự ở Học viện hiện nay

Thực tế, đội ngũ cán bộ, nhân viên của cơ quan chức năng thông tin khoa học có nhiều độ tuổi khác nhau, khả năng tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng về công nghệ số khác nhau. Do vậy cấp ủy, chỉ huy Phòng khoa học quân sự tiếp tục tham mưu, đề xuất với thủ trưởng Học viện tùy từng loại đối tượng mà tiếp tục thực hiện bồi dưỡng, đào tạo cho phù hợp. Bảo đảm trình độ chung cho các đối tượng là những kiến thức hiểu biết cơ sở về máy tính và mạng thông tin, như ứng dụng máy tính, kết cấu dữ liệu và kho dữ liệu, hệ thống máy tính và phần mềm của hệ thống. Trang bị những hiểu biết cơ bản về mạng thông tin và các kỹ năng sử dụng công nghệ số khai thác thông tin trên mạng; nghiệp vụ phân tích tổng hợp tin, biên tập, xử lý thông tin điện tử; kỹ năng sử dụng công nghệ số để soạn thảo văn bản; huấn luyện một số kiến thức cơ bản về tiếng Anh. Riêng đối với các cán bộ thông tin khoa học của cơ quan chức năng ngoài việc sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật thông tin, họ phải sử dụng được một số phần mềm thư viện, phải có khả năng tìm kiếm, tra cứu, xử lý, phân tích, tổng hợp thông tin. Căn cứ vào tình hình thực tế, cần có chế độ khuyến khích động viên cán bộ, nhân viên tự học tập, tự đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, trình độ kiến thức về tin học để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác thông tin khoa học quân sự. Đối với các cơ quan, đơn vị trong Học viện nên bố trí sắp xếp cán bộ thông tin khoa học cơ sở phải là những cán bộ không chỉ có chuyên môn vững vàng mà còn phải có khả năng sử dụng thành thạo công nghệ số; có khả năng tổng hợp phân tích, đặc biệt là khả năng nắm bắt, thu thập và xử lý thông tin./.

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn Thiên, đổi mới quản lý Thư viện hiện đại tại Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2020.

2. Vương Toàn, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đổi mới hoạt động thư viện, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội, 2016.

3. Tổng cục Chính trị QĐNDVN, Chuyển đổi số trong hệ thống thư viện Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, H. 2022.

4. TS, Phạm Quốc Hùng, Ứng dụng khoa học công nghệ mới vào chuyển đổi số trong hoạt động thư viện Việt Nam và một số đề xuất với thư viện Quân đội, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Chuyển đổi số trong Thư viện Quân đội”, Nxb QĐND, H. 2022, tr 30-36.