ĐỂ ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO TRỞ THÀNH BỘ PHẬN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA ĐẤT NƯỚC

PGS.TS. Phạm Viết Vượng - Trường ĐHSP Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cần có nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng cao, do vậy phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một yêu cầu bức thiết. Nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo, để thực hiện sứ mệnh của mình, đội ngũ nhà giáo cần được đào tạo, bồi dưỡng để trở thành bộ phận nhân lực chất lượng cao của đất nước. Để là
11:08 | 14/10/2025

PGS.TS. Phạm Viết Vượng -

Trường ĐHSP Hà Nội

Email: [email protected]

Tóm tắt: Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cần có nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng cao, do vậy phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một yêu cầu bức thiết.

Nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo, để thực hiện sứ mệnh của mình, đội ngũ nhà giáo cần được đào tạo, bồi dưỡng để trở thành bộ phận nhân lực chất lượng cao của đất nước.

Để làm việc đó cần có các giải pháp đồng bộ bắt đầu từ đào tạo, tuyển dụng, bồi dưỡng, đến việc xây dựng chính sách thu hút tài năng và đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ nhà giáo.

Từ khóa: Đội ngũ nhà giáo; nhân lực chất lượng cao; chất lượng giáo dục.

1. Đặt vấn đề

Trường học là nơi giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh - những công dân tương lai, đồng thời cũng là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước.

Chất lượng giáo dục và đào tạo phản ánh trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội hiện tại, nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đất nước trong tương lai, chính vì thế Đảng ta đã xác định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển và đã có nhiều biện pháp thực hiện chủ trương này.

Hoạt động giáo dục trong nhà trường có nhiều nhân tố tham gia, trong đó đội ngũ nhà giáo là nhân tố có vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo, không có nhà giáo giỏi không thể nói đến chất lượng giáo dục và đào tạo tốt, dù cho các yếu tố vật chất, kỹ thuật và chương trình giáo dục có hiện đại đến mức nào.

Lịch sử đã khẳng định cùng với đội ngũ trí thức, đội ngũ nhà giáo góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chấn hưng nền văn hóa dân tộc, nền kinh tế nước nhà, đúng như các bậc tiền nhân đã nói “Lương sư hưng quốc”, do vậy nhà giáo và nghề dạy học được xã hội tôn vinh.

Trong xã hội hiện đại đội ngũ nhà giáo cần được đào tạo bài bản, khoa học để trở thành bộ phận nhân lực chất lượng cao phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Mọi quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ nhà giáo và có chế độ đãi ngộ xứng đáng để thu hút tài năng phát triển giáo dục.

Trong nền giáo dục hiện đại, đội ngũ nhà giáo phải đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có chất lượng tốt để giảng dạy tất cả các môn học của mọi cấp học, bậc học và ở mọi địa phương.

Chất lượng đội ngũ thể hiện ở phẩm chất và năng lực của các nhà giáo. Phẩm chất nhà giáo thể hiện ở ý thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, pháp luật, lòng yêu nghề và sự mẫu mực trong cuộc sống để thực hiện chức năng giáo dục học sinh. Năng lực nhà giáo thể hiện ở trình độ chuyên môn được đào tạo, kỹ năng tay nghề, nghệ thuật sư phạm, trạng thái sức khỏe thể chất và tinh thần, làm việc có chất lượng và hiệu quả.

Đúng như câu nói có tính kinh điển: nhà giáo là những người lấy đạo đức dạy đạo đức, lấy tri thức dạy tri thức…, nhà giáo phải là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo cho học sinh noi theo.

Tuy vậy, hiện nay tình trạng vừa thừa, vừa thiếu giáo viên vẫn đang xảy ra ở nhiều địa phương, thậm chí có những thời điểm hàng vạn giáo viên xin nghỉ việc, nhiều địa phương không tuyển được giáo viên cho các môn học còn thiếu. Mới đây do không chuẩn bị đủ giáo viên để giảng dạy các môn học tích hợp của chương trình và sách giáo khoa 2018, có ý kiến đề xuất cho tuyển giáo viên có trình độ cao đẳng để giảng dạy các môn học đó ở cấp trung học cơ sở. Điều này không phù hợp với mục tiêu đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, cũng như điều 72 của Luật Giáo dục về trình độ chuẩn đào tạo của nhà giáo.

Để đội ngũ nhà giáo trở thành bộ phận nhân lực chất lượng cao nhà nước cần có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ nhà giáo với các giải pháp có tính hệ thống và đồng bộ.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Đào tạo giáo viên ở Việt Nam

Năm 1945 sau khi giành được độc lập hơn 95% người dân Việt Nam mù chữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “dân tộc dốt là dân tộc yếu ” đã ra lời kêu gọi toàn dân tham gia giệt ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Ngay sau đó Chính phủ đã cho thành lập Nha Bình dân học vụ để tổ chức dạy chữ cho dân, phong trào xóa nạn mù chữ phát triển nhanh trên khắp cả nước, ai biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, ai biết nhiều dạy cho người biết ít. Trong bối cảnh này đây là biện pháp tình huống đã tận dụng được nhiều người có học tham gia xóa nạn mù chữ. Thực tế đã chứng minh biện pháp độc đáo này đã đem lại hiệu quả tích cực, chỉ trong một thời gian ngắn hàng vạn người đã đọc thông, viết thạo.

Nhận thức được tầm quan trọng của nhà giáo trong nền giáo dục mới, ngày 08 tháng 10 năm 1946 Chính phủ ra Sắc lệnh số 194 thành lập ngành học sư phạm với 3 cấp: sơ cấp, trung cấp và cao cấp để đào tạo giáo viên. Sắc lệnh này đã đặt nền móng cho sự phát triển ngành sư phạm về sau.

Tuy vậy, ngay sau đó nước ta đã phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (1945-1954), chính phủ sơ tán lên vùng núi chỉ đạo toàn dân đánh giặc, vấn đề đảm bảo nguồn giáo viên cho các trường phổ thông là một thách thức rất lớn.

Năm 1950 trong lúc cuộc kháng chiến đang ở giai đoạn cao trào chính phủ đã cho cải cách hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm của Pháp thành hệ thống 9 năm của nước Việt Nam độc lập để đào tạo nhân lực kịp thời phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc.

Để có giáo viên giảng dạy chính phủ cho thành lập 2 trường sư phạm, một ở vùng tự do Thanh Hóa, một ở khu học xá trung ương (đặt ở Quế Lâm, Trung Quốc). Đến năm 1953 thành lập thêm trường sư phạm sơ cấp miền núi để đào tạo giáo viên giảng dạy trong vùng tự do.

Sau khi miền Bắc được giải phóng 1954 chúng ta đã tiếp quản hệ thống giáo dục 12 năm của Pháp để lại, như vậy là lúc này ở miền Bắc có hai hệ thống giáo dục song song tồn tại: hệ thống giáo dục kháng chiến 9 năm và hệ thống giáo dục 12 năm.

Năm 1956 chính phủ đã cho tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2, hai hệ thống giáo dục được sáp nhập thành hệ thống giáo dục 10 năm, gồm ba cấp theo mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ. Cấp I: 4 năm từ lớp 1 đến lớp 4, cấp II: 3 năm từ lớp 5 đến lớp 7, cấp III: 3 năm từ lớp 8 đến lớp 10.

Trước tình trạng thiếu giáo viên chính phủ đã cho phép:

Mở các lớp sư phạm cấp tốc trang bị cho người học những kiến thức cơ bản, thiết thực, kỹ năng sư phạm cần thiết để có thể tổ chức dạy học.

Mở rộng quy mô đào tạo của các trường sư phạm đã có từ vùng tự do và vùng tạm chiếm, gồm ba cấp: sơ cấp (7+1) đào tạo giáo viên cấp I, trung cấp (7+2) đào tạo giáo viên cấp II với hai ban khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đại học (10+2), đào tạo giáo viên cấp III.

Tuy nhiên, do đào tạo cấp tốc, đầu vào tuyển sinh thấp, nên đội ngũ giáo viên bộc lộ nhiều bất cập về trình độ, vấn đề bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ cho giáo viên trở nên cấp thiết.

Đại hội VI của Đảng tháng 12/1986 đã xác định mục tiêu phát triển giáo dục để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 được tiến hành với hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm để phù hợp với trình độ chung của thế giới: Cấp tiểu học gồm 5 lớp từ lớp 1 đến lớp 5, cấp trung học cơ sở gồm 4 lớp từ lớp 6 đến lớp 9, trung học phổ thông từ lớp 10 đến lớp 12.

Công tác phát triển đội ngũ nhà giáo được đặc biệt chú ý, hệ thống các trường sư phạm được củng cố và nâng cấp:

Xóa bỏ các trường sư phạm sơ cấp, trung cấp.

Thành lập các trường cao đẳng sư phạm để đào tạo giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở.

Thành lập thêm nhiều trường đại học sư phạm mới để đào tạo giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Các trường đại học sư phạm có đủ năng lực được phép mở hệ đào tạo cao học và nghiên cứu sinh để đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ.

Sau 74 năm kể từ ngày thành lập nước, Luật Giáo dục 2019 đã quy định trình độ chuẩn đào tạo của giáo viên mầm non là cao đẳng sư phạm, giáo viên phổ thông từ tiểu học đến trung học phổ thông là cử nhân sư phạm, giảng viên đại học là thạc sĩ, sau đại học là tiến sĩ.

Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử giáo dục Việt Nam, đã khẳng định nhà nước đã rất chăm lo đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ nhà giáo.

Nhìn lại lịch sử đào tạo giáo viên ở nước ta cho thấy chất lượng đào tạo giáo viên phụ thuộc vào các yếu tố: chất lượng tuyển sinh, phương thức đào tạo chính quy, dài hạn, năng lực đào tạo và uy tín của các trường sư phạm, chính sách miễn học phí, cấp học bổng cho sinh viên, chế độ tuyển dụng, đặc biệt là chính sách lương bổng để thu hút tài năng phát triển giáo dục…

2.2. Mô hình đào tạo giáo viên trên thế giới

Các nước trên thế giới cũng rất coi trọng hoạt động đào tạo giáo viên, tùy vào đặc điểm riêng của mỗi nước mà họ có những biện pháp đặc thù, chúng ta cần nghiên cứu để có thể áp dụng vào hoàn cảnh thực tế Việt Nam.

Ở nhiều nước như Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức… hiện vẫn đang tồn tại các trường đại học sư phạm danh tiếng, có lịch sử lâu đời, đã đào tạo được nhiều nhà giáo dục tài năng, điển hình như trường đại học sư phạm Paris, đại học sư phạm Mátxcơva, đại học sư phạm Bắc Kinh…

Tuy nhiên ở nhiều nước như Mỹ, Úc… lại không có trường sư phạm, mà chỉ có các khoa đào tạo giáo viên trong các trường đại học chuyên ngành. Sinh viên tốt nghiệp các khoa học cơ bản có thể học thạc sĩ giáo dục để trở thành giáo viên.

Ở nhiều nước có yêu cầu cao về trình độ giáo viên nên thời gian đào tạo đại học sư phạm là 5 năm, các nước châu Á đang có xu hướng đại học hóa trình độ giáo viên mầm non và phổ thông. Phần Lan quy định giáo viên nhà trẻ, mẫu giáo phải có bằng cử nhân, giáo viên phổ thông phải có bằng thạc sĩ.

Ở Pháp từ năm 1989 đã thành lập các học viện đào tạo giáo viên theo mô hình LMD (Licence – Master – Doctorat), để trở thành giáo viên, người học phải qua đào tạo trình độ cử nhân, sau đó tiếp tục đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ tùy theo yêu cầu của cấp học, bậc học.

Ở Úc không đào tạo giáo viên dạy đơn môn mà đào tạo giáo viên khoa học tự nhiên, khoa học xã hội… để có thể giảng dạy các môn học tích hợp.

Về phương pháp đào tạo, ở nhiều nước các cơ sở đào tạo giáo viên liên kết chặt chẽ với các trường phổ thông để tổ chức đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên.

Ở Đức qui định thời gian đào tạo giáo viên tiểu học là 4 năm, 3 đầu học chương trình khoa học cơ bản, một năm học chuyên sâu, sau đó là 18 tháng thực hành ở trường tiểu học. Giáo viên trung học cơ sở đào tạo 5 năm, 3 năm học cơ bản, 2 năm học chuyên sâu, sau đó thực hành 24 tháng ở trường trung học cơ sở. Giáo viên trung học phổ thông được đào tạo 5 năm, 3 năm đầu học cơ bản và 2 năm sau học chuyên sâu, sau đó thực hành 24 tháng ở trường trung học phổ thông với 2 môn học trong chương trình đào tạo chuyên sâu.

Singapore chú trọng phối hợp giữa dạy lý thuyết với dạy thực hành và nghiên cứu khoa học giáo dục trong 4 lĩnh vực: dạy học, giáo dục, phát triển chương trình và đánh giá giáo dục.

Ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Phần Lan… nghề dạy học được xã hội tôn trọng, giáo viên được xếp vào nhóm nhân lực chất lượng cao, được trả lương cao hơn so với các ngành nghề khác cùng trình độ đào tạo, cuộc sống vật chất và tinh thần của đội ngũ nhà giáo được đảm bảo suốt đời.

Ở nhiều nước sau khi tốt nghiệp các trường sư phạm sinh viên còn phải trải qua kỳ thi kỹ năng tay nghề tại các cơ sở tuyển dụng, để nhận “chứng chỉ hành nghề” chính thức trở thành giáo viên.

Từ những bài học kinh nghiệm kể trên, chúng ta cần nghiên cứu để tìm ra các giải pháp cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

2.3. Giải pháp tổng thể đào tạo đội ngũ giáo viên trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao

Chúng ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế cần có nguồn nhân lực chất lượng cao, việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trở nên cấp thiết, để làm điều này trước hết phải nâng cao chất lượng của chính đội ngũ nhà giáo với các giải pháp như sau:

Quảng cáo

2.3.1. Đào tạo đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu đội ngũ nhà giáo

Với phương châm ở đâu có học sinh ở đó phải có trường học, có giáo viên, trong trường dạy những môn học gì thì ở đó phải có giáo viên được đào tạo chuyên sâu giảng dạy.

Để làm việc này cần tiến hành khảo sát:

- Biến động dân số tự nhiên và cơ học của cả nước và các vùng miền, đặc biệt là khu vực công nghiệp và đô thị hóa.

- Số lượng trường học và số lượng giáo viên hiện có của các môn học, cấp học, bậc học ở từng địa phương, đặc biệt là vùng khó khăn miền núi.

- Biến động giáo viên do chuyển trường, chuyển ngành và về hưu hàng năm.

- Nhu cầu giáo viên của các nhà trường ở các địa phương trong 5 năm.

Từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo một cách chủ động, giao chỉ tiêu đào tạo cho các trường sư phạm, để tránh tình trạng thừa, thiếu giáo viên như đã xảy ra trong những năm qua.

2.3.2. Nâng chất lượng đào tạo giáo viên

Để tiến kịp với trình độ chung của các nước trong khu vực và trên thế giới chúng ta cần tăng thời gian đào tạo giáo viên cho các cấp học, bậc học:

- Giáo viên mầm non đào tạo trình độ đại học 4 năm.

- Giáo viên tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông đào tạo trình độ đại học 5 năm.

- Giảng viên đại học trình độ đào tạo thạc sĩ 7 năm (5 năm đại học + 2 năm thạc sĩ).

- Chấm dứt phương thức đào tạo từ xa, tại chức, liên kết… vì thực tế đã chứng minh các phương thức này không đạt được chất lượng và hiệu quả mong muốn.

2.3.3. Sắp xếp lại hệ thống các trường đại học sư phạm

Để các trường đại học sư phạm trở thành một thể thống nhất, đào tạo có chất lượng và hiệu quả, những việc cần phải tiến hành:

Xác định lại số lượng trường đại học sư phạm cần có để đào tạo đáp ứng nhu cầu giáo viên cho cả nước.

Sắp xếp lại các trường đại học sư phạm từ bắc vào nam để thuận lợi cho việc tuyển sinh và tuyển dụng giáo viên cho các địa phương.

Phân bổ quy mô đào tạo cho từng trường đại học sư phạm theo năng lực, kinh nghiệm đào tạo, thành tích đào tạo và uy tín xã hội, cũng như nhu cầu giáo viên của từng vùng miền, địa phương.

Để tiến tới đại học hóa trình độ đào tạo giáo viên mầm non, trước mắt cần sáp nhập các trường cao đẳng sư phạm mầm non vào các trường đại học sư phạm trên cùng địa bàn thành một khoa đào tạo cả hai trình độ cao đẳng và đại học.

Nếu còn tiếp tục chương trình dạy học tích hợp thì nên thành lập khoa đào tạo giáo viên trung học cơ sở ở các trường đại học sư phạm với hai ban khoa học tự nhiên, khoa học xã hội.

Để có đủ giáo viên dạy các môn tin học, kỹ thuật, nghệ thuật và thể dục thể thao, có hai phương án, một là đầu tư cho các trường đại học sư phạm kỹ thuật, nghệ thuật và thể dục thể thao để có đủ năng lực đào tạo, hai là, thành lập các khoa sư phạm trong các trường đại học chuyên ngành để tận dụng lợi thế chuyên môn của các trường này, sau đó đào tạo tiếp về nghiệp vụ sư phạm.

Đối với các trường đại học sau khi tuyển giảng viên mới đủ tiêu chuẩn về chuyên môn gửi sang trường đại học sư phạm đào tạo tiếp về nghiệp vụ sư phạm với thời gian một năm. Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học cần được soạn thảo công phu và được thẩm định nghiêm túc bởi các hội đồng khoa học có uy tín.

Giảng viên các trường đại học sau 5 năm công tác dưới 35 tuổi cần tiếp tục học nghiên cứu sinh để có bằng tiến sĩ.

Nâng cấp một số trường đại học sư phạm trước hết là hai trường đại học sư phạm trọng điểm Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thành hai học viện sư phạm có năng lực đào tạo giáo viên từ bậc mầm non đến tiến sĩ.

Giao cho hai học viện sư phạm đào tạo, bồi dưỡng, cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đại học cho giảng viên các trường đại học trong cả nước.

2.3.4. Thiết kế chương trình đào tạo giáo viên

Chương trình đào tạo giáo viên cần được thiết kế với bốn khối kiến thức: khoa học cơ bản, khoa học cơ sở, khoa học chuyên ngành và khoa học sư phạm:

Khối kiến thức khoa học cơ bản gồm các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn… tùy theo chuyên ngành đào tạo, các môn tin học, ngoại ngữ, pháp luật…là bắt buộc cho tất cả các chuyên ngành, đây phải là hệ thống kiến thức hiện đại, cập nhật để làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển năng lực của giáo viên về sau.

Khối kiến thức khoa học cơ sở gồm các môn khoa học gần và cần có để hỗ trợ cho khối khoa học chuyên ngành.

Khối kiến thức khoa học chuyên ngành là các môn khoa học được đào tạo để giảng dạy ở các trường phổ thông.

Khối kiến thức khoa học sư phạm bao gồm các môn tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn, phương pháp nghiên cứu khoa học tâm lý, giáo dục, giao tiếp sư phạm và đạo đức nhà giáo…

Tăng thời lượng thực hành, thực tập sư phạm lên một năm, chương trình được thiết kế thành các hoạt động: thực hành các kỹ năng cơ bản tại trường, kiến tập và thực tập ở các trường phổ thông.

Trường đại học sư phạm phải có trường thực hành và có mạng lưới các trường phổ thông để hỗ trợ đào tạo giáo viên.

2.3.5. Tổ chức tuyển sinh

Mục đích tuyển sinh của các trường sư phạm là chọn được sinh viên yêu nghề dạy học, có năng khiếu và phẩm chất sư phạm, có năng lực học nghề để hành nghề. Chất lượng tuyển sinh có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng đào tạo đội ngũ nhà giáo.

Nội dung tuyển sinh gồm: năng khiếu sư phạm, đạo đức, kiến thức văn hóa, sức khỏe, ngoại hình...

Phương thức tuyển gồm: sơ tuyển năng khiếu sư phạm, sức khỏe, ngoại hình… sau đó là thi tuyển về kiến thức văn hóa theo yêu cầu của từng ngành, có thể tổ chức thi vấn đáp, tự luận hoặc trắc nghiệm...và cần có thêm bài tự luận về nghề sư phạm.

2.3.6. Xây dựng chính sách đối với nhà giáo

Trong cơ chế thị trường việc học sinh chọn nghề có thu nhập cao là điều hiển nhiên và phù hợp với đạo lý, do vậy có những trường nhiều thí sinh dự thi, có những trường ít thí sinh dự thi như một hiện tượng có tính quy luật.

Nhà nước cần có chính sách thu hút tài năng cho giáo dục, có phụ cấp cho sinh viên học nghề và sau khi có giấy phép hành nghề nên bố trí việc làm hợp lý cho các nhà giáo trẻ.

Nhà giáo cần có cuộc sống hạnh phúc, nuôi dạy con cái học hành, khôn lớn, trưởng thành như bao gia đình khác, cho nên cần có chính sách lương bổng, chế độ ưu đãi đối với nhà giáo để yên tâm cống hiến lâu dài.

Nhà giáo cần có môi trường làm việc tích cực, có đủ phương tiện hỗ trợ. Đối với giáo viên giảng dạy ở vùng sâu, vùng xa, miền núi khó khăn cần có chế độ thu hút, có nhà công vụ và lương ưu đãi, tuy nhiên nên ấn định thời gian phục vụ, sẽ được chuyển địa điểm công tác sau khi hết thời hạn và có nhu cầu di chuyển.

2.3.7. Cấp chứng chỉ hành nghề dạy học

Để đảm bảo rằng ngành giáo dục đã chọn được những người có đủ năng lực và phẩm chất sư phạm để hành nghề như các quốc gia tiên tiến khác.

Các địa phương khi tuyển dụng giáo viên tổ chức kiểm tra tay nghề các ứng viên tại một hội đồng chuyên môn có đủ năng lực và công tâm. Các ứng viên đạt tiêu chuẩn thì cấp chứng chỉ hành nghề. Về sau nếu phát hiện có gian lận về bằng cấp hay vi phạm đạo đức nhà giáo sẽ bị thu hồi vĩnh viễn giấy phép hành nghề.

3. Kết luận

Nhà giáo có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo, là nhân tố chủ đạo trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Từ kinh nghiệm đào tạo nhà giáo trong nước cũng như từ kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, chúng ta cần thực hiện các giải pháp đồng bộ để đội ngũ nhà giáo trở thành bộ phận nhân lực chất lượng cao của đất nước.

Tài liệu tham khảo

[1]. Chủ tịch Chính Phủ (1946). Sắc lệnh về việc thành lập ngành học sư phạm. Nxb Chính trị quốc gia

[2]. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII Nxb Chính trị quốc gia.

[3]. Lê Văn Giạng (2003). Lịch sử giản lược 1000 năm nền giáo dục Việt Nam. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia.

[4]. Lê Văn Giạng, Nguyễn Được, Nguyễn Tùy, & Nguyễn Hoặc (1985). Lịch sử đại học và trung học chuyên nghiệp Việt Nam. Hà Nội: Viện Nghiên Cứu Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp.

[5]. Trần Thân Mộc (2006). 60 năm xây dựng và phát triển ngành học sư

phạm Việt Nam. Tài liệu Hội thảo 60 năm ngành Sư phạm Việt Nam.

[6]. Luật Giáo dục. (1019) NXB Giáo dục, Hà Nội.

[7]. Lê Anh Phương, Trần Kiêm Minh (2017) Một số mô hình đào tạo giáo viên trên thế giới. Kỷ yếu hội thảo quốc gia ĐHSP- ĐH Huế.

[8]. Lê Đông Phương, Ngô Văn Trung (2021) Mô hình đào tạo giáo viên của Việt Nam, Tạp chí Giáo dục Hà Nội.

[9]. Phạm Viết Vượng (2008) Giáo dục học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[10]. Phạm Viết Vượng (2010) Lý luận dạy học đại học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội.