Đinh Thị Thu Hiền
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
1. Đặt vấn đề
Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với tiến bộ khoa học và công nghệ là một nội dung trong quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã được xác định trong Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI. Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội…” [1, tr.115]. Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó xác định giáo dục là một trong 8 lĩnh vực cần được ưu tiên thực hiện chuyển đổi số.
Chương trình Chuyển đổi số quốc gia là một bước cụ thể hóa quan điểm ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào thực hiện các mục tiêu phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, thúc đẩy quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo sang một giai đoạn mới.
Qua các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ cho thấy sự nhất quán và quyết tâm của các cấp quản lý cao nhất trong việc khai thác, sử dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào công cuộc đổi mới đất nước. Đó là cơ sở pháp lý đảm bảo cho việc ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, xây dựng nhà trường số, nhà trường thông minh.
Trong thực tiễn, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang làm khuynh đảo mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội. Đặc trưng nổi bật của cuộc cách mạng này là mở ra một kỷ nguyên mới, trên phạm vi toàn cầu, kỷ nguyên số (digital age). Ngày nay, thuật ngữ “kỷ nguyên số” đã được hầu hết các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng. Đặc điểm của kỷ nguyên số là tính chất, mức độ tác động sâu rộng chưa từng có. Trong đó, giáo dục là một trong các lĩnh vực bị tác động mạnh mẽ nhất. Giáo dục đang ở đỉnh điểm của sự bùng nổ lớn về đổi mới trên phạm vi toàn thế giới. Những thành tựu về công nghệ số, số hóa và trí tuệ nhân tạo AI, đang trở thành trung tâm của sự bùng nổ trong quá trình đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo. Quá tình đó vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra những thách thức mới trong đổi mới, phát triển giáo dục. Nhận thức rõ cơ hội và thách thức đó để tìm ra giải pháp thích hợp cho sự phát triển giáo dục là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tổng quan về kỷ nguyên số và số hóa trong giáo dục
Kỷ nguyên số là thuật ngữ chỉ một thời kỳ phát triển mới của xã hội loài người do sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 sinh ra. Động lực hình thành kỷ nguyên số là quá trình chuyển đổi số toàn cầu nhằm thay đổi tổng thể và toàn diện phương thức phát triển của xã hội, lối sống và hoạt động trên nền tảng số. Trong kỷ nguyên số, một không gian ảo ở quy mô toàn cầu được định hình, tồn tại và ngày càng đan xen chặt chẽ với không gian thực, với khả năng kết nối mạnh mẽ, vượt ra khỏi giới hạn không gian về địa lý. Quá trình số hóa làm cho nguồn dữ liệu lưu trữ trên không gian ảo được cả thế giới tạo ra với tốc độ tăng lên chưa từng có trong lịch sử loài người.
Kỷ nguyên số trong giáo dục là thời kỳ hình thành, phát triển của một làn sóng giáo dục mới hoàn toàn khác với nền giáo dục truyền thống. Đặc trưng cơ bản của giáo dục trong kỷ nguyên số là ứng dục công nghệ số trong giáo dục, mở ra nhiều mô hình giáo dục mới, tạo ra nhiều cơ hội cho người học. Kỷ nguyên số trong giáo dục đề cập đến sự thay đổi sâu sắc trong cách thức giáo dục, diễn ra nhờ sự ứng dụng rộng rãi của công nghệ số. Bao gồm việc sử dụng các công cụ, phương tiện và nền tảng kỹ thuật số để hỗ trợ quá trình học tập, giảng dạy và quản lý giáo dục, tạo ra những cơ hội và thách thức mới.
Số hóa là quá trình chuyển đổi số, là bước phát triển tiếp theo của tin học hóa, có được nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính đột phá, nhất là công nghệ số. Trên thế giới, chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2015 và phổ biến từ năm 2017. Ở Việt Nam, khái niệm chuyển đổi số được đề cập nhiều bắt đầu từ năm 2018. Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia.
Số hóa hay còn gọi là chuyển đổi số trong giáo dục là quá trình ứng dụng công nghệ kỹ thuật số vào hệ thống giáo dục để thay đổi cách thức dạy và học, từ đó cải thiện chất lượng và hiệu quả của giáo dục. Số hóa trong giáo dục bao gồm việc sử dụng các công cụ và nền tảng số như phần mềm giáo dục, hệ thống quản lý học tập (LMS), nội dung số và các phương tiện truyền thông kỹ thuật số để đưa người học trải nghiệm học tập trong môi trường ảo.
Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tạo ra các nền tảng công nghệ cho sự đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng số hóa. Thực chất của chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay là ứng dụng những thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại vào quá trình đổi mới giáo dục, đào tạo, nhằm tạo ra những quy trình công nghệ giáo dục tối ưu, hướng vào nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Bản chất của số hóa trong giáo dục, đào tạo là quá trình chuyển đổi số với những đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, sử dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để hiện đại hóa các phương tiện, thiết bị dạy học; vận dụng các thành tựu của công nghệ số thực hiện số hóa các nguồn tài liệu dạy học, xây dựng các thư viện số và kho dữ liệu số, xây dựng nhà trường thông minh.
Thứ hai, phát triển đa dạng hóa các phương thức đào tạo, mở ra cơ hội cho nhiều người được học và học được theo năng lực cá nhân; mở rộng môi trường phân tán tương tác giáo dục trên không gian mạng, chia sẻ cùng nhau phát triển. Kết hợp dạy học trực tiếp với dạy học trực tuyến, giữa môi trường thực với môi trường ảo, liên kết giữa nhà trường với thực tiễn trong các hình thức giáo dục trải nghiệm cả trong môi trường thực và trong môi trường ảo.
Thứ ba, xây dựng các quy trình công nghệ trong quản lý nhà trường, quản lý chương trình, nội dung dạy học, quản lý đội ngũ giáo viên, giảng viên, học sinh, sinh viên và quản lý các nguồn lực của nhà trường. Nghĩa là số hóa trong quản lý giáo dục, xây dựng các quy trình quản lý hiệu năng, hiệu quả, hiệu lực.
Như vậy, kỷ nguyên số và số hóa là hai khái niệm, hai phạm trù khoa học thống nhất với nhau, xuất hiện, tồn tại, phát triển song hành cùng nhau trong bối cảnh tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kỷ nguyên số là khái niệm chỉ một thời kỳ lịch sử mới với đặc trưng nổi trội là số hóa. Còn số hóa là khái niệm chỉ đặc trưng phát triển của công nghệ trong kỷ nguyên số.
Chuyển đổi số trong giáo dục là một xu hướng tất yếu trong kỷ nguyên số, được thực hiện đồng bộ với quá trình xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Chuyển đổi số trong giáo dục là cuộc cách mạng trong lĩnh vực giáo dục, đang làm thay đổi mọi khâu, mọi bước, mọi thành tố cấu trúc và mọi hoạt động của các chủ thể tham gia quá trình giáo dục, đào tạo. Chuyển đổi số đang làm thay đổi tư duy của người dạy, người học và tư duy của người quản lý giáo dục. Quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đang mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển giáo dục, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới, đòi hỏi mới cao hơn, khó khăn hơn, quyết liệt hơn trong quá trình đổi mới.
2.2. Cơ hội phát triển giáo dục trong kỷ nguyên số
Quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở Việt Nam đang diễn ra trong bối cảnh mới, bối cảnh của kỷ nguyên số. Những tác động của quá trình chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển giáo dục.
Thứ nhất, sự quyết tâm đặc biệt của Đảng và chính phủ về chuyển đổi số. Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo quá trình chuyển đổi số nói chung và chuyển đổi số trong giáo dục nói riêng. Giáo dục được ưu tiên là quốc sách hàng đầu, được đặt trong lĩnh vực trọng tâm của quá trình chuyển đổi số. Đây không chỉ là cơ sở pháp lý mà còn thể hiện ý chí của các cấp lãnh đạo cao nhất về chuyển đổi số trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Chính phủ là cơ hội tốt nhất cho quá trình chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay.
Thứ hai, hệ thống cơ sở dữ liệu số đã và đang được đưa vào sử dụng rộng khắp trong toàn ngành. Trong những thập kỷ qua, giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Từ năm 2018, lần đầu tiên Bộ GDĐT đã xây dựng và đưa vào sử dụng chính thức hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) ngành về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông với mục tiêu số hóa thông tin quản lý tất cả các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của ngành giáo dục. Theo thông tin trên cơ sở dưa liệu cho thấy, Bộ GDĐT đã số hóa, gắn mã định danh hầu hết các đối tượng cần quản lý của ngành GDĐT (53.000 trường học mầm non, phổ thông; gần 24 triệu học sinh; hơn 1,4 triệu giáo viên), thực hiện số hóa các thông tin về lý lịch, quá trình học tập, rèn luyện, thể chất của học sinh, số hoá hồ sơ, trình độ chuyên môn, đánh giá theo chuẩn, lương… của các giáo viên, số hóa thông tin về cơ sở vật chất, nhà vệ sinh trường học, tài chính, báo cáo chuyên sâu về dạy và học ngoại ngữ [1].
Bộ GDĐT đang tiếp tục mở rộng việc triển khai các CSDL thành phần về giáo dục dân tộc, giáo dục mầm non, tiểu học, trung học và giáo dục thường xuyên; hợp tác quốc tế, thanh tra và giáo dục thể chất. Dịch vụ trực tuyến tuyển sinh đầu cấp tại địa phương đã được đẩy mạnh triển khai. Hiện đã có trên 13% số địa phương triển khai hiệu quả dịch vụ này. CSDL này vừa qua đã hỗ trợ đắc lực công tác tuyển sinh và thống kê, báo cáo trong toàn ngành; giúp các cấp quản lý ban hành chính sách quản lý có hiệu quả, vừa qua đã góp phần giải quyết vấn đề thừa thiếu giáo viên ở các nhà trường theo từng địa phương, môn học.
Thứ ba, hạ tầng công nghệ đảm bảo cho giáo dục ngày càng được cải thiện. Hạ tầng Internet và các dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề quan trọng cho việc triển khai giáo dục số. Mạng internet không chỉ phổ biến ở các thành phố lớn mà được triển khai khắp các vùng nông thôn, miền núi. Nhiều trường học đã triển khai các nền tảng học tập trực tuyến như Zoom, Google Classroom hay các phần mềm giáo dục nội địa như K12Online, VNPT E-learning. 100% cơ sở giáo dục đại học đã triển khai cổng thông tin điện tử (trong đó 95% cổng thông tin điện tử của các đơn vị hỗ trợ thiết bị di động); 100% đơn vị đã triển khai sử dụng thư điện tử (email) để trao đổi công việc, trong đó khoảng 90% có hệ thống email riêng, 94% số đơn vị cung cấp địa chỉ thư điện tử cho cán bộ quản lý, giảng viên, 60% cung cấp email cho sinh viên sử dụng; khoảng 95% các đơn vị đã triển khai phần mềm quản lý chương trình đào tạo, 75% số đơn vị sử dụng phần mềm quản lý nhân sự. Ngoài ra, các cơ sở giáo dục đại học đều xây dựng quy hoạch, kế hoạch nhằm triển khai hiệu quả nhiệm vụ ứng dụng CNTT [1].
2.3. Những thách thức đối với giáo dục trong kỷ nguyên số
Một là, nguồn nhân lực đảm bảo cho các hoạt động số hóa trong giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Nguồn nhân lực thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa đồng bộ về cơ cấu là khó khăn lớn nhất trong thực hiện các mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên số. Đào tạo giáo viên và các nguồn nhân lực liên quan về việc sử dụng công nghệ số và phát triển kỹ năng số hóa là một yếu tố trở ngại quan trọng. Thực tiễn đào tạo giáo viên cho thấy, những chuyên gia về công nghệ thông tin thì không có kiến thức chuyên sâu về giáo dục, đào tạo. Ngược lại, đa số giáo viên, được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ sư phạm, về chuyên môn lại không có kiến thức đầy đủ về công nghệ thông tin. Nhiều giáo viên, nhiều cán bộ quản lý giáo dục vẫn cảm thấy không tự tin hoặc không biết cách sử dụng công nghệ một cách hiệu quả trong giảng dạy và trong quản lý.
Một trong những khó khăn hiện nay là thói quen làm việc theo nếp cũ, ngại chuyển đổi số. Quá trình chuyển đổi số là cuộc cách mạng không chỉ trong khoa học, công nghệ mà còn là cuộc cách mạng trong tư duy. Những thói quen đã ăn sâu vào tiềm thức vào hành vi của cả hệ thống giáo dục không thể thay đổi nhanh trong thời gian ngắn. Mặt khác, sự biến đổi, phát triển nhanh của công nghệ số và sự hiểu biết không đầy đủ về công nghệ số của cán bộ, giáo viên sẽ làm cho họ bị bỏ rơi lại phía sau, bắt buộc họ phải bám lấy phương thức cũ theo thói quen.
Đa số giáo viên ở các nhà trường hiện nay đều trong tình trạng thiếu kiến thức hiểu biết đầy đủ về công nghệ số, đồng thời cũng thiếu các kỹ năng cần thiết để đạt được hiệu quả trong chuyển đổi số. Để đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên có thể tự tin và thành thạo thích ứng với quá trình chuyển đổi số trong giáo dục, họ cũng phải có kiến thức hiểu biết về công nghệ số và có những kỹ năng cần thiết để sử dụng công nghệ một cách hiệu quả. Nói cách khác, khoảng cách về kỹ năng số vẫn là một yếu tố quan trọng đang đặt ra trong quá trình chuyển đổi số thành công ở các cơ sở giáo dục. Đây đang trở thành một thách thức lớn nhất đối với ngành giáo dục trong kỷ nguyên số.
Hai là, thiếu kế hoạch chiến lược hoặc định hướng rõ ràng cho việc áp dụng công nghệ số trong các cơ sở giáo dục. Mặc dù Chính phủ đã có đề án về chuyển đổi số quốc gia, Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo chuyển đổi số trong toàn ngành giáo dục, nhưng để thực hiện chuyển đổi số ở các cơ sở giáo dục phải có kế hoạch chiến lược với các mục tiêu và giải pháp tổ chức thực hiện cụ thể trong từng giai đoạn phù hợp với năng lực cụ thể của mỗi nhà trường, mỗi địa phương. Việc thiếu kế hoạch chiến lược áp dụng bất kỳ công nghệ mới nào trong chuyển đổi số đã trở thành một thách thức đối với các nhà trường. Các nhà trường phải đối mặt với nhiệm vụ mơ hồ phải hoàn thành quá trình chuyển đổi số mà không rõ mục tiêu và phương thức tổ chức thực hiện như thế nào. Mỗi nhà trường có đặc điểm khác nhau, có nhu cầu khác nhau về mô hình số trong giáo dục, đào tạo nhưng bản thân họ lại không có khả năng tự xây dựng cho mình được mô hình như vậy. Đó là một thách thức. Kế hoạch chiến lược cụ thể sẽ giúp cho các nhà trường nhận thức rõ những gì nhà trường đó mong muốn đạt được, những bước đi trong từng giai đoạn, những nhiệm vụ chủ yếu phải tập trung và các điều kiện đảm bảo cho thành công.
Ba là, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, chậm đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ hiện đại. Mặc dù trong những năm qua, hạ tầng công nghệ đảm bảo cho giáo dục ngày càng được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn. Việc cung cấp kết nối internet đủ mạnh và ổn định đến tất cả các vùng, miền vẫn còn là một thách thức lớn. Nếu học sinh và giáo viên bị hạn chế đường truyền truy cập internet và hạ tầng công nghệ, việc triển khai chuyển đổi số sẽ gặp khó khăn. Các thiết bị kết nối đảm bảo cho việc áp dụng công nghệ số trong giảng dạy của giáo viên và trong học tập của học sinh vừa thiếu, vừa chưa đồng bộ. Một số nhà trường được trang bị các thiết bị dạy học hiện đại nhưng không đầy đủ, đôi khi chỉ thiếu một vài bộ phận nhỏ nhưng toàn bộ thiết bị không dử dụng được. Một số nhà trường trang thiết bị dạy học hư hỏng hoặc lạc hậu nhưng không được thay thế. Đó là tình trạng khá phổ biến hiện nay ở các nhà trường phổ thông công lập.
Trong thực tế, công nghệ đã bắt đầu thâm nhập vào lĩnh vực giáo dục trong hai thập kỷ qua, một số cơ sở giáo dục đã được trang bị những thiết bị công nghệ ở dạng ban đầu còn nhiều hạn chế. Các thiết bị này không được sử dụng như một hệ thống tích hợp nên nhiều thiết bị không liên kết với nhau được. Điều đó nảy sinh ra tình trạng thiếu đồng bộ trong quản lý và trong sử dụng. Nhà trường muốn nâng cấp, thay thế đòi hỏi phải có nguồn kinh phí vượt ra ngoài khả năng.
Bốn là, những thách thức trong quản lý dữ liệu và sử dụng mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo, các phần mền trong học tập. Với lượng dữ liệu số lớn, việc quản lý và lưu trữ dữ liệu trở nên phức tạp hơn. Hệ thống phải bảo đảm dữ liệu được lưu trữ và sử dụng một cách an toàn và hiệu quả. Việc chia sẻ thông tin trên hệ thống dữ liệu cần phải có sự quản lý, phân cấp theo từng nhóm đối tượng sao cho phù hợp và có hiệu quả. Vấn đề bảo mật và quyền riêng tư. Chuyển đổi số đặt ra vấn đề về bảo mật thông tin cá nhân của học sinh và giáo viên. Cần có các biện pháp bảo mật mạnh mẽ để bảo đảm an toàn thông tin. Đó là những thách thức đặt ra cho các nhà trường.
Việc sử dụng mạng xã hội, ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI, ChatGPT trong giáo dục có thể mang lại nhiều lợi ích to lớn. Mặt khác, sử dụng mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo ChatGPT trong giáo dục cũng đặt ra nhiều thách thức mới trong quản lý [9]. Trí tuệ nhân tạo AI, ChatGPT có đầy đủ những tác động tiêu cực của mạng xã hội, nhưng có những tác động ở mức độ cao hơn, tác động nhanh hơn, nguy hiểm hơn. Nguy cơ sinh ra tiêu cực, không trung thực của học sinh, sinh viên trong học tập. Nguy cơ hình thành thói quen lười biếng trong học tập, giết chết tư duy sáng tạo của học sinh, sinh viên. Nguy cơ cung cấp thông tin sai lệch, không chính xác cho học sinh, sinh viên. Nguy cơ tách rời giữa dạy học với giáo dục, giữa dạy chữ với dạy người. Nguy cơ tác động xấu đến đạo đức, lối sống, bạo lực học đường và nhiều nguy cơ khác. Đó là những thách thức mới đối với giáo dục trong kỷ nguyên số.
Việc sử dụng các phần mềm chuyên dụng cho giáo dục còn ít, chủ yếu ứng dụng các phần mềm chung vào lĩnh vực giáo dục. Để nâng cao chất lượng giáo dục trong kỷ nguyên số cần thiết phải có các phần mềm chuyên dụng trong lĩnh vực giáo dục. Đặc biệt phải có các phần mềm chuyên sâu theo từng môn học, từng lĩnh vực trong hoạt động giáo dục.
2.4. Giải pháp phát triển giáo dục trong kỷ nguyên số
2.4.1. Phát triển nguồn nhân lực, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên.
Nhân tố quan trọng nhất quyết định cho sự thành công của quá trình chuyển đổi số trong giáo dục Việt Nam hiện nay là nguồn nhân lực. Nhà trường cần phải có chuyên gia công nghệ thông tin và đội ngũ cán bộ, giáo viên có kỹ năng sử dụng công nghệ số trong giáo dục, đào tạo. Giáo viên là lực lượng chủ chốt trong quá trình chuyển đổi số ở các nhà trường. Giáo viên cần được đào tạo, bồi dưỡng để hiểu và sử dụng hiệu quả công nghệ số trong giảng dạy và học tập.
Các nhà trường cần phải tổ chức các khóa đào tạo về kỹ năng số, từ việc sử dụng CNTT trong giảng dạy đến việc sử dụng các công cụ phần mềm hỗ trợ giảng dạy trực tuyến. Đa dạng hóa các hình thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng để nhiều người cùng được học. Kết hợp gửi giáo viên đi học các khóa tập trung với mở lớp tại trường và học tập, phổ biến kinh nghiệm giữa các giáo viên cho nhau.
Phát triển kỹ năng số hóa cho giáo viên để họ có thể thích nghi với thay đổi và tận dụng tiềm năng của công nghệ số. Ngoài việc đào tạo, việc tạo động lực cho giáo viên để họ tham gia tích cực vào quá trình chuyển đổi số cũng quan trọng. Điều này có thể thông qua việc thúc đẩy việc chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, tạo cơ hội phát triển sáng tạo và nghiên cứu, và công nhận thành tích của họ trong việc sử dụng công nghệ số. Ban Giám hiệu nhà trường cần phải xây dựng chương trình tự học về công nghệ số cho giáo viên trong nhà trường. Mặt khác, cần có chính sách khuyến khích, động viên và bắt buộc giáo viên phải học tập, phải áp dụng công nghệ số trong giảng dạy. Xem đó như một tiêu chí để xem xét đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của giáo viên.
Cán bộ quản lý giáo dục là những người lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành các chủ trương chính sách về chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo. Cán bộ quản lý phải có kiến thức hiểu biết về công nghệ thông tin, có kỹ năng sử dụng công nghệ số để ứng dụng trong quản lý và chỉ đạo các lực lượng trong nhà trường trong quá trình chuyền đổi số.
Chuyển đổi số trong giáo dục đòi hỏi tư duy sáng tạo và khả năng thích nghi với sự thay đổi. Nguồn nhân lực cần được khuyến khích để tạo ra các giải pháp sáng tạo và đối mặt với thách thức một cách linh hoạt.
2.4.2. Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng số tổng thể, đồng bộ; cải thiện hạ tầng Internet và thiết bị dạy học.
Hạ tầng số (hạ tầng kỹ thuật số) là tập hợp các cơ sở vật chất, công nghệ và nền tảng công nghệ thông tin phục vụ cho việc thu thập, truyền tải, lưu trữ, quản lý và xử lý dữ liệu trong môi trường số. Đây là nền tảng quan trọng quyết định sự thành công của các hoạt động chuyển đổi số. Các thành phần chính của hạ tầng kỹ thuật số bao gồm: Hạ tầng viễn thông, hạ tầng trung tâm dữ liệu, hạ tầng điện toán đám mây, hạ tầng Internet vạn vật (IoT), hạ tầng an ninh mạng, hạ tầng nền tảng số (Digital Platforms), hạ tầng phần cứng và mạng lưới kết nối.
Hạ tầng số là "xương sống" cho sự phát triển của các quốc gia trong kỷ nguyên số. Phát triển hạ tầng số là một trong ba trụ cột chính của chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Xây dựng cơ sở hạ tầng số trong giáo dục là việc tạo ra một nền tảng công nghệ, bao gồm phần cứng, phần mềm, và các dịch vụ trực tuyến, để hỗ trợ quá trình giảng dạy, học tập, và quản lý giáo dục. Nó bao gồm việc cung cấp kết nối internet tốc độ cao, thiết bị điện tử, phần mềm học tập trực tuyến, và các công cụ quản lý dữ liệu số. Mục tiêu là tạo cơ sở nền móng cho một môi trường giáo dục số hiện đại, linh hoạt và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của kỷ nguyên số. Xây dựng cơ sở hạ tầng số trong giáo dục hiện nay cần tập trung vào những nội dung sau:
Phát triển mạng lưới viễn thông: Mở rộng và nâng cấp mạng băng thông rộng, triển khai 5G, cáp quang đến các khu vực. Đảm bảo kết nối internet tốc độ cao, ổn định, và phủ sóng rộng khắp, bao gồm cả các khu vực nông thôn, miền núi, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa.
Đảm bảo trang thiết bị điện tử trong dạy và học: Cung cấp máy tính, máy tính bảng, và các thiết bị điện tử khác cho học sinh, sinh viên và giáo viên, đặc biệt là ở những nơi có điều kiện khó khăn. Các thiết bị phải đảm bảo tính đồng bộ, tính hiện đại phù hợp với thực tiễn của nhà trường và địa phương.
Phát triển các nền tảng số: Xây dựng và hoàn thiện các nền tảng số quốc gia, nền tảng dùng chung cho toàn ngành giáo dục, nền tảng dùng chung của từng trường, đảm bảo tính liên thông, kết nối giữa nhà trường với xã hội. Xây dựng các nền tảng trực tuyến để hỗ trợ việc học tập, giao tiếp, và trao đổi thông tin giữa học sinh, sinh viên, giáo viên, và phụ huynh.
Xây dựng và triển khai các nền tảng học tập trực tuyến (e-learning platforms). Các nền tảng học tập trực tuyến, quản lý học tập (LMS) như Moodle, Google Classroom, hoặc các nền tảng do trường học hoặc cơ quan quản lý giáo dục phát triển cần được sử dụng để tạo ra không gian học tập số. Các nền tảng này giúp học sinh và giáo viên giao tiếp, chia sẻ tài liệu học tập, thực hiện các bài kiểm tra trực tuyến, theo dõi tiến độ học tập của học sinh và giúp giáo viên quản lý bài giảng, bài tập, và dữ liệu học tập của học sinh.
2.4.3. Phát triển cơ sở dữ liệu, xây dựng các phần mềm chuyên dụng trong giáo dục, đào tạo.
Phát triển cơ sở dữ liệu, xây dựng các phần mềm chuyên dụng cho giáo dục về thực chất cũng là phát triển nền tảng số nhưng được gắn với đổi mới phương pháp dạy học theo hướng ứng dụng công nghệ số. Biện pháp này bao gồm những nội dung cơ bản như sau:
Xây dựng các trung tâm dữ liệu số: Dữ liệu số là nguồn nguyên liệu đảm bảo cho các hoạt động giáo dục số trên không gian mạng. Nguồn dữ liệu càng lớn, càng phát triển nhanh, cập nhật tính khoa học, tính hiện đại là điều kiện để phát triển giáo dục trong kỷ nguyên số. Ngày nay, sự phát triển của khoa học, công nghệ, lượng thông tin tăng lên cùng với quá trình số hóa đòi hỏi việc đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu hiện đại, đáp ứng nhu cầu lưu trữ và xử lý lượng dữ liệu ngày càng lớn. Việc xây dựng các trung tâm dữ liệu phải được thiết kế theo mục đích, mục tiêu giáo dục. Nghĩa là, phải đảm bảo tính giáo dục, tính hệ thống dễ sử dụng. Đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu số phải đảm bảo bảo an toàn, an ninh thông tin, quyền sở hữu trí tuệ. Triển khai các biện pháp bảo mật, phòng chống tấn công mạng, bảo vệ dữ liệu và hệ thống số.
Phát triển các trung tâm dữ liệu số phải được triển khai cùng với xây dựng các phần mềm ứng dụng và chuyên dụng trong giáo dục. Phát triển và triển khai các phần mềm quản lý trường học, học liệu số, hệ thống học trực tuyến, và các công cụ hỗ trợ giảng dạy, học tập.
Xây dựng và triển khai các phần mềm phân tích học tập. Phân tích dữ liệu học tập (Learning Analytics) là việc sử dụng dữ liệu từ các hoạt động học tập để theo dõi, phân tích và tối ưu hóa việc giảng dạy và học tập. Công nghệ này giúp giáo viên, nhà quản lý giáo dục và học sinh đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu, thay vì chỉ dựa vào cảm tính hoặc kinh nghiệm cá nhân. Ví dụ như phát triển phần mềm theo dõi tiến độ học tập của học sinh, sinh viên. Phân tích dữ liệu giúp theo dõi tiến trình học tập của từng học sinh thông qua điểm kiểm tra, tần suất tham gia học tập và thời gian học tập. Hệ thống theo dõi thời gian học sinh dành cho mỗi tài liệu hoặc bài giảng trực tuyến. Nếu học sinh ít tương tác, giáo viên sẽ nhận được thông báo để hỗ trợ.
Phần mềm phân tích hành vi học tập của học sinh, sinh viên. Ứng dụng phân tích dữ liệu có thể xác định hành vi học tập của học sinh, chẳng hạn như cách họ tương tác với bài giảng, làm bài tập, hay tham gia thảo luận nhóm. Phân tích hành vi như tua nhanh, xem lại, hoặc bỏ qua nội dung. Nếu nhiều học sinh bỏ qua một phần cụ thể, hệ thống sẽ báo cáo để giáo viên có thể cải thiện nội dung đó.
Phần mềm dự đoán kết quả học tập của học sinh, sinh viên. Phân tích dữ liệu có thể dự đoán kết quả học tập của học sinh dựa trên các chỉ số, điểm số trong các bài kiểm tra trước, thời gian hoàn thành bài tập, mức độ tương tác trên nền tảng học tập trực tuyến. Sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để dự đoán khả năng học sinh đạt điểm cao hoặc có nguy cơ không hoàn thành môn học. Hệ thống này sẽ gợi ý các tài liệu học tập bổ sung hoặc cảnh báo giáo viên để kịp thời hỗ trợ.
Phần mềm đánh giá hiệu quả giảng dạy của giáo viên. Hệ thống phân tích dữ liệu không chỉ hỗ trợ học sinh mà còn giúp giáo viên cải thiện phương pháp giảng dạy, phân tích mức độ hiệu quả của bài giảng thông qua tương tác của học sinh, gợi ý các phương pháp giảng dạy mới dựa trên dữ liệu, cung cấp báo cáo chi tiết về hiệu suất của giáo viên, như tần suất sử dụng công nghệ trong lớp học, phản hồi từ học sinh, và kết quả học tập của lớp.
Ứng dụng phân tích dữ liệu học tập đang trở thành xu hướng tất yếu trong giáo dục hiện đại. Với sự hỗ trợ của các công cụ như LMS, AI và phân tích dữ liệu lớn. Việt Nam có thể xây dựng một hệ thống giáo dục thông minh, giúp học sinh, giáo viên và nhà trường phát triển toàn diện. Tuy nhiên, để thành công, cần sự đầu tư bài bản, đồng bộ và đảm bảo quyền riêng tư của người học.
2.4.4. Ứng dụng công nghệ số trong đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới thi kiểm tra, đánh giá học sinh.
Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong quá trình dạy học đang thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên. Dù các nhà trường có muốn hay không thì công nghệ số, trí tuệ nhân tạo vẫn tiếp tục phát triển và vẫn thâm nhập vào quá trình giáo dục và đào tạo. Trong tương lai sẽ còn xuất hiện các phiên bản mới của trí tuệ nhân tạo AI và có thể sẽ xuất hiện nhiều ứng dụng khác mạnh hơn, có nhiều ưu điểm và nhiều độc hại hơn. Vấn đề quan trọng nhất là phải đổi mới cách dạy, cách học và đổi mới thi, kiểm tra cho phù hợp với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ hiện đại. Quá trình nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong dạy học chính là quá trình hiện đại hóa giáo dục, đào tạo góp phần hoàn thiện quá trình giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo trong kỷ nguyên số.
Thực tiễn giáo dục đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều các phương pháp dạy và học mới theo hướng ứng dụng công nghệ số. Tuy nhiên, với sự phát triển tràn lan các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục thông qua việc ứng dụng công nghệ số, đặc biệt sử dụng trí tuệ nhân tạo AI đang đặt ra vấn đề cho quản lý. Phải làm thế nào để quá trình đổi mới phương pháp giáo dục trong kỷ nguyên số đảm bảo tính giáo dục và tính tư tưởng. Đổi mới phương pháp dạy học không phải chỉ trang bị kiến thức mà phải hướng tới phát triển phẩm chất năng lực của người học. Dạy chữ phải kết hợp với dạy người. Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đã xác định 5 phẩm chất và 10 năng lực mà giáo dục hướng đến cho người học, điều mà máy tính không thể thay thế các thầy, cô giáo. Vì vậy, thầy, cô giáo phải là người tổ chức và định hường cho học sinh sử dụng trí tuệ nhân tạo AI, sao cho phù hợp mục tiêu giáo dục.
Để khắc phục tình trạng gian lận trong thi, kiểm tra do sử dụng AI ChatGPT cần phải thay đổi cách thi, kiểm tra. Đổi theo hướng nào thì cần phải nghiên cứu sao cho phù hợp với từng môn học cụ thể. Đối với một số môn học có thể yêu cầu học sinh, sinh viên phản biện các bài thi, bài viết do ChatGPT xuất bản, tìm ra chỗ sai, chỗ bất hợp lý của các bài thi, bài viết đó. Cũng có thể yêu cầu học sinh, sinh viên chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện hoặc bình luận về các bài thi, bài viết của ChatGPT. Đối với các môn học khác cũng cần phải thay đổi cách thức thi, kiểm tra là một yêu cầu tất yếu. Nội dung kiểm tra thay vì tập trung kiểm tra kiến thức phải chuyển mạnh sang kiểm tra kỹ năng để phát huy được tư duy sáng tạo, phản biện của học sinh.
3. Kết luận
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, việc ứng dụng công nghệ số và số hóa trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đang nổi lên như một vấn đề nóng, trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà khoa học, của đội ngũ nhà giáo và học sinh, sinh viên. Việc ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo chủ yếu được thực hiện dựa trên nền tảng của mạng xã hội trong kỷ nguyên số. Kể cả trí tuệ thông minh AI cũng được xây dựng dựa vào nguồn thông tin dữ liệu trên mạng xã hội. Trong khi đó, thông tin trên mạng xã hội rất khó kiểm soát. Bên cạnh những thông tin tích cực, mạng xã hội đồng thời chứa đựng nhiều thông tin tiêu cực, độc hại, tác động xấu đến các đối tượng học sinh, sinh viên.
Kỷ nguyên số mang đến những cơ hội lớn để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, để tận dụng tối đa những cơ hội này, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, giải quyết các thách thức, và đảm bảo rằng không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi. Điều đó đặt ra vấn đề phải nghiên cứu tìm ra giải pháp khắc phục, tạo cơ hội cho sự phát triển của giáo dục trong bối cảnh liên tục chịu sự tác động đa chiều của mạng xã hội.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục và Đào tạo https://csdl.moet.gov.vn/
2. Clayton M. Christensen, Michael E. Raynor, và Rory McDonald (2015), “Đổi mới đột phá là gì?”, Tạp chí Harvard Business Review, tháng 12 năm 2015.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Văn phòng Trung ương Đảng. Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
6. Klaus Schwab (2017), Cuộc Cách mạng Công nghiệp Lần thứ tư, Diễn đàn kinh tế thế giới, Người dịch: Đồng Bích Ngọc và Trần Thị Mỹ Anh.
7. Manuel Castells (2014), “Ảnh hưởng của Internet đối với xã hội: Góc nhìn Toàn cầu”, MIT Technology Review, 8 tháng 9, 2014.
8. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/6/2020 Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
9. Trần Đình Tuấn (2023), Tác động của mạng xã hội, ChatGPT đến học sinh, sinh viên và giải pháp thích ứng của giáo dục. Kỷ yếu hội thảo khoa học toàn quốc, Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục, Nxb Lao động, HN 2023. Tr. 226-237.
10. Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục (2022), Dạy học trực tuyến, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lao động, Hà Nội.