GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ, MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Đinh Thị Thu Hiền – Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Tóm tắt: Giáo dục địa phương giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực, phẩm chất và bản sắc văn hóa của học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục tại khu vực này vẫn còn nhiều hạn chế do điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa. Bài báo này tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân và
06:01 | 17/09/2025

Đinh Thị Thu Hiền –

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Tóm tắt: Giáo dục địa phương giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực, phẩm chất và bản sắc văn hóa của học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục tại khu vực này vẫn còn nhiều hạn chế do điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa. Bài báo này tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục địa phương cho học sinh dân tộc thiểu số, hướng tới phát triển bền vững và bình đẳng trong giáo dục.

Từ khóa: giáo dục địa phương, dân tộc thiểu số, miền núi phía Bắc, chất lượng giáo dục, phát triển bền vững.

Nhận bài: 12/9/2025; Biên tập:15/9/2025; Duyệt đăng: 16/9/2025

1. Đặt vấn đề

Khu vực miền núi phía Bắc khi chưa sáp nhập bao gồm 14 tỉnh, với tổng diện tích là 95.222,3 km2 (chiếm 28,75% diện tích của cả nước), dân số trung bình khoảng 11,98 triệu người (chiếm 12,93% dân số cả nước) với khoảng 30 dân tộc cùng sinh sống. Vùng miền núi phía Bắc với lịch sử lâu đời, có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng – an ninh và đối ngoại của đất nước, là nơi cư trú của cộng đồng các dân tộc thiểu số, trong đó các dân tộc có dân số đông cư trú ở vùng miền núi phía Bắc, như: Tày, Nùng, Mông, Dao, Thái, Mường, Sán Chay, Sán Dìu,… Đây là khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của cả nước; có vai trò quyết định đối với môi trường sinh thái của cả vùng Bắc Bộ; có tiềm năng, lợi thế về nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu.

Để tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục ở vùng miền núi, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo vừa mang tính định hướng, vừa mang tính cụ thể trong tổ chức thực hiện. Trong đó, các văn bản mang tính pháp lý và định hướng cho phát triển giáo dục địa phương như sau:

Nghị quyết Số 88/2014/QH13 của Quốc hội xác định: “Thực hiện một CT GDPT thống nhất nhưng mềm dẻo, linh hoạt. Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chủ trì xây dựng, thẩm định và ban hành CT GDPT, quy định những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh (HS) cần đạt được sau mỗi cấp học, những lĩnh vực và nội dung GD bắt buộc đối với tất cả HS trên phạm vi toàn quốc; Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương tổ chức biên soạn bổ sung những nội dung về đặc điểm lịch sử, văn hóa và kinh tế - xã hội của địa phương, đồng thời dành thời lượng cho cơ sở GD chủ động vận dụng để xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch GD phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường.

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã nhấn mạnh, cần “ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách…”.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 khẳng định cần “đẩy mạnh giáo dục kỹ năng, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ số trong giáo dục - đào tạo… Tiến tới phổ cập trung học phổ thông gắn với phân luồng trong giáo dục. Giảm tỷ lệ mù chữ, bỏ học ở miền núi” (1).

Trong CT GDPT tổng thể, nội dung GD của địa phương (NDGDĐP) được xác định là một nội dung GD bắt buộc từ tiểu học (TH) đến hết trung học phổ thông (THPT): “Ở TH, NDGDĐP được tích hợp với Hoạt động trải nghiệm. Ở trung học cơ sở (THCS), THPT, NDGDĐP được tổ chức dưới hình thức chuyên đề” với thời lượng 35 tiết/năm (ở THCS và THPT). Để hỗ trợ các tỉnh/thành phố và các cơ sở GD triển khai kịp thời, có hiệu quả việc dạy học NDGDĐP khi thực hiện CTGDPT mới, Bộ GD&ĐT cần có hướng dẫn cụ thể.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Mục tiêu, vai trò của giáo dục địa phương

Giáo dục địa phương là bộ phận của chương trình giáo dục phổ thông, phản ánh đặc thù văn hóa, lịch sử, kinh tế - xã hội của từng địa phương, giúp học sinh hình thành năng lực gắn bó, trách nhiệm với cộng đồng. Nguyên tắc giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số: Bình đẳng, tôn trọng sự đa dạng văn hóa, lấy người học làm trung tâm và bảo tồn bản sắc.

Mục tiêu chung của GDĐP là hướng vào thực hiện mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Thực hiện nội dung GD ĐP nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp,… của địa phương. Từ đó, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học để góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa của cộng đồng dân cư các dân tộc, xây dựng văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Đồng thời với sự hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực chung, nội dung GDĐP còn hướng tới phát triển cho học sinh các năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp; năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội; vận dụng kiến thức tự nhiên, văn hóa, xã hội vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Trên cơ sở đó mà hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách toàn diện cho học sinh phù hợp với sự vận động, phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Giáo dục địa phương có vai trò quan trọng ngang hàng với các môn học khác, vừa bổ sung, phát triển mở rộng, cụ thể hóa nội dung, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, vừa khai thác thế mạnh của địa phương trong giáo dục. Giáo dục địa phương phối hợp với các môn học khác góp phần phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực cho học sinh, thực hiện mục tiêu giáo dục chung của nhà trường.

Mặt khác, giáo dục địa phương đi sâu vào những nội dung giáo dục chỉ có ở địa phương, góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc của địa phương. Giáo dục địa phương không chỉ phản ánh tính đa dạng của văn hóa dân tộc mà còn góp phần phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội của mỗi cá nhân. Nhờ đó mà bản chất người của mỗi cá nhân được phát triển cao hơn.

Giáo dục địa phương góp phần tạo lập môi trường xã hội trung gian, kết nối giữa môi trường giáo dục gia đình với môi trường giáo dục xã hội hẹp, làm nền tảng cho sự thích ứng của học sinh trong môi trường xã hội rộng. Nhân cách của học sinh được hình thành thông qua các mối quan hệ theo quy luật “Tu thân – Tề gia – Trị quốc – Bình thiên hạ”. Các mối quan hệ của học sinh được hình thành trước hết trong môi trường giáo dục gia đình, tiếp đó đến các mối quan hệ được hình thành trong môi trường giáo dục của nhà trường, tiếp theo nữa là các mối quan hệ được hình thành trong môi trường giáo dục của địa phương và cuối cùng là các mối quan hệ được hình thành trong môi trường xã hội rộng quốc gia, quốc tế. Theo đó, giáo dục địa phương là một nấc thang trong quá trình giáo dục phát triển nhân cách toàn diện của mỗi học sinh.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ, MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Các đại biểu dự Hội thảo khoa học về chủ đề "Giáo dục địa phương" tại tỉnh Bắc Kạn, ngày 10/4/2025

2.2. Những khó khăn, bất cập trong thực hiện nội dung giáo dục địa phương ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Thứ nhất, mạng lưới trường, lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học chưa đáp ứng yêu cầu.

Mặc dù Chính phủ đã có nhiều chính sách ưu tiên, ưu đãi, đã được tăng cường đầu tư, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển về quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt ở một số trường chuyên biệt vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Một số trường phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã được đầu tư xây dựng từ lâu, nên hầu hết các hạng mục công trình đã xuống cấp trầm trọng; nhiều hạng mục phục vụ cho hoạt động giáo dục và nuôi dưỡng học sinh chưa được đầu tư, như: phòng học bộ môn, thư viện, nhà tập đa năng, phòng y tế, công trình vệ sinh, nước sạch… Hơn nữa, nhiều hạng mục đầu tư nhỏ lẻ, thiếu đông bộ không sử dụng được. Đa phần cơ sở vật chất ở các trường phổ thông chưa được chú trọng đầu tư xây dựng, nâng cấp. Tỷ lệ phòng bán kiên cố còn chiếm quá nửa tổng số phòng học, còn nhiều điểm trường nhỏ lẻ, phân tán .

Thứ hai, do điều kiện sống khó khăn, nhận thức giản đơn

Phần đông đồng bào các vùng miền núi phía Bắc, các dân tộc ít người thường gặp khó khăn về kinh tế. Nhiều gia đình cho rằng, việc học tập của con cái không phải là quan trọng nhất, hoặc có suy nghĩ rằng học cũng chẳng làm được gì. Một số phụ huynh học sinh dân tộc thiểu số, miền núi chưa quan tâm nhiều đến việc học tập và phát triển của con mình; không ít cha, mẹ học sinh không muốn cho con tiếp tục tới trường để dành thời gian phụ giúp công việc hằng ngày. Vấn đề trường lớp xa nhà, đi lại khó khăn cũng là một trong những rào cản đối với việc học tập của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Thứ ba, Chính sách phát triển giáo dục miền núi phía Bắc chưa đủ mạnh.

Chiến lược phát triển giáo dục dân tộc thiểu số giai đoạn 2011 - 2020 đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên vùng dân tộc thiểu số, với nhiều chế độ và chính sách ưu đãi đối với giáo viên được triển khai thực hiện, song hệ thống chính sách đó chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của địa phương, đặc biệt ở một số trường chuyên biệt vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Chế độ, chính sách khuyến khích giáo viên vùng khó khăn trong một thời gian dài chưa được thực hiện triệt để. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến đội ngũ giáo viên ở vùng miền núi, dân tộc thiểu số hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng ở các cấp học.

Quảng cáo

Thứ tư, đặc điểm của học sinh miền núi phía Bắc còn nhiều khó khăn trong học tập

Với xuất phát điểm thấp, các em học sinh dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn về tiếng nói, chữ viết và chương trình học tập. Học sinh sử dụng ngôn ngữ nói là tiếng dân tộc trong sinh hoạt gia đình và cộng đồng, nhưng viết và sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính tại trường. Ngoài ra, do đặc thù, các dân tộc thiểu số khác nhau không có tiếng nói và bộ chữ viết thống nhất, nên rất khó xây dựng chương trình và sách giáo khoa tiếng dân tộc. Đa số dân tộc thiểu số có tiếng nói và 2 bộ chữ viết trở lên hoặc không có chữ viết; chỉ có số ít dân tộc thiểu số có tiếng nói và một bộ chữ viết thống nhất. Tỉ lệ bỏ học, nghỉ học còn cao. Rào cản ngôn ngữ ảnh hưởng đến tiếp thu kiến thức.

Nội dung giáo dục địa phương còn nặng lý thuyết, chưa gắn nhiều với thực tiễn sản xuất, sinh hoạt của cộng đồng. Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và hạn chế về kỹ năng khai thác văn hóa bản địa trong dạy học.

Những vấn đề đặt ra: Làm thế nào để nội dung giáo dục địa phương phản ánh đúng đặc thù văn hóa - xã hội của từng dân tộc? Giải pháp nào để nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên trong bối cảnh đa ngôn ngữ, đa văn hóa? Làm thế nào để kết nối giữa giáo dục nhà trường với cộng đồng, gia đình và chính quyền địa phương?

2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục địa phương cho học sinh dân tộc thiểu số, miền núi phía Bắc

Để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phía Bắc, góp phần thực hiện chính sách “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp:

Một là, tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện dạy, học cho các trường phổ thông vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, điều kiện dạy, học đáp ứng quy mô giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi ngày càng phát triển và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Các địa phương cần có kế hoạch tổng thể và kế hoạch cụ thể theo từng giai đoạn, từng năm học. Kết hợp đầu tư mới và sửa chữa, nâng cấp cơ sở đã có. Kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ. Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất các trường điểm lẻ để tăng quy mô huy động trẻ đến lớp; ưu tiên hoàn thiện mạng lưới các trường phổ thông, bảo đảm đáp ứng nhu cầu đi học của học sinh trong độ tuổi; đầu tư phát triển hệ thống các trường dự bị đại học dân tộc để nâng cao chất lượng đào tạo. Việc đầu tư từng hạng mục cơ sở vật chất, trường, lớp cần đáp ứng môi trường cảnh quan, hiệu quả giáo dục và sử dụng nguồn lực tài chính. Trong đầu tư kiên cố hóa trường, lớp, cần ưu tiên những hạng mục phù hợp cảnh quan thiên nhiên nơi vùng cao và miền núi, phù hợp đặc điểm, nội dung giáo dục địa phương nhằm khai thác lợi thế không gian mở trong tổ chức hoạt động giáo dục.

Hai là, thiết kế chương trình giáo dục địa phương sát hợp với thực tiễn cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi.

Thực chất của giải pháp này là đổi mới nội dung và phương pháp dạy học. Xây dựng chương trình giáo dục địa phương dựa trên đặc thù văn hóa, lịch sử, sản xuất của từng dân tộc. Kết hợp giữa lý thuyết với trải nghiệm thực tế: tham quan làng nghề, tìm hiểu phong tục tập quán, thực hành sản xuất nông - lâm nghiệp. Ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng học liệu số đa ngôn ngữ.

Cần phải thiết kế chương trình giáo dục địa phương linh hoạt và chuyên biệt trong giảng dạy phù hợp với mức độ nhận thức của học sinh dân tộc thiểu số. Đối với những năm đầu bậc tiểu học, cần xác định phương pháp và thời lượng giảng dạy phù hợp để học sinh biết đọc và viết tiếng Việt, đồng thời thích ứng với trường lớp, tạo tiền đề cho những năm học tiếp theo. Đối với các bậc học khác, phương pháp giáo dục phân hóa, phụ đạo học sinh cần được các cơ sở giáo dục và giáo viên chú trọng, tăng cường. Nhà trường lập kế hoạch, giáo viên xây dựng chương trình giảng dạy, phụ đạo để học sinh dân tộc thiểu số nắm được kiến thức, theo kịp chương trình, đáp ứng yêu cầu giáo dục.

Việc tổ chức xây dựng nội dung giáo dục địa phương cần phải giao cho các nhà trường trên địa bàn đề xuất, tỉnh duyệt rồi mới mời chuyên gia viết sách, viết tài liệu giáo dục địa phương. Giáo viên các tổ chuyên môn căn cứ nội dung môn học để xác định nội dung nào cần phải bổ sung, phát triển cho phù hợp với địa phương.

Ba là, phát triển đội ngũ giáo viên là người địa phương, mời các chuyên gia là người địa phương tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục địa phương.

Cần phải có chính sách đào tạo, bồi dưỡng giáo viên người dân tộc thiểu số tại chỗ tham gia giảng dạy các nội dung giáo dục địa phương. Bồi dưỡng kỹ năng dạy học tích hợp văn hóa dân tộc, phương pháp dạy học phân hóa. Tăng cường giáo viên là người dân tộc thiểu số hoặc am hiểu ngôn ngữ, văn hóa bản địa. Khuyến khích mô hình “giáo viên cắm bản” nhằm tạo

Đẩy mạnh liên kết, hợp tác, trao đổi giữa các cơ sở giáo dục thuộc các dân tộc thiểu số trên các địa bàn khác nhau trong và ngoài tỉnh. Qua các chương trình trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ, giao lưu văn hóa…, giáo viên cơ sở giáo dục dân tộc thiểu số có cơ hội nâng cao chuyên môn, lòng yêu nghề, chú trọng gìn giữ bản sắc dân tộc địa phương nơi giảng dạy. Thầy cô tâm huyết với nghề, gắn bó với học sinh, có kiến thức và am hiểu văn hóa địa phương sẽ quyết định hiệu quả giáo dục vùng dân tộc thiểu số.

Bốn là, hoàn thiện chính sách đào tạo, sử dụng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của địa phương.

Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trong kỷ nguyên mới. Chú trọng giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi ra trường, đặc biệt cần tránh lãng phí trong đầu tư ngân sách cho giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Các bộ, ngành và địa phương cần chủ động, tích cực huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn kinh phí hỗ trợ trong và ngoài nước; tiếp tục rà soát các chính sách đối với người dạy, người học và các cơ sở giáo dục vùng dân tộc miền núi, thiểu số để đề xuất với Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung, ban hành mới chính sách phát triển giáo dục, đào tạo vùng dân tộc thiểu số, miền núi phù hợp với điều kiện, tình hình mới.

Tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Huy động người có uy tín, nghệ nhân dân gian tham gia giảng dạy, hướng dẫn hoạt động trải nghiệm. Phối hợp giữa nhà trường - gia đình - chính quyền để quản lý, hỗ trợ học sinh. Khuyến khích mô hình “trường học gắn với làng bản” để kết nối giáo dục với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.

Bảo đảm chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số: học bổng, nội trú, bán trú. Đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, đặc biệt là công nghệ thông tin và thư viện số. Đẩy mạnh giáo dục song ngữ: tiếng Việt - tiếng dân tộc, giúp học sinh hội nhập mà vẫn giữ bản sắc.

3. Kết luận

Nâng cao chất lượng giáo dục địa phương cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc không chỉ góp phần thực hiện bình đẳng giáo dục mà còn bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển bền vững. Việc triển khai cần có sự đồng bộ giữa Nhà nước, ngành giáo dục, địa phương và cộng đồng. Những giải pháp đề xuất trong bài báo nếu được áp dụng hiệu quả sẽ giúp giáo dục địa phương thực sự trở thành động lực phát triển con người và xã hội miền núi phía Bắc Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1.. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, ngày 04 tháng 11 năm 2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Khóa XI,

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021.

3. Quốc hội (2014), Nghị quyết. Về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Nghị quyết số: 88/2014/QH13, ngày 28 tháng 11 năm 2014

4. Vụ Giáo dục Dân tộc: “Chú trọng công tác hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dân tộc thiểu số”, Trang thông tin điện tử Bộ GD&ĐT.