GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

PGS.TS. Phạm Viết Vượng - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Đặt vấn đề Địa phương (Local) là một vùng lãnh thổ có tên trên bản đồ, có tọa độ xác định, là nơi cư trú và lập nghiệp của các cộng đồng dân cư. Mỗi địa phương có những nét đặc thù về vị trí địa lí: miền biển, đồng bằng, thành phố, nông thôn, trung du, miền núi…; về cảnh quan thiên nhiên: núi non hùng vĩ, biển cả mênh mông, dòng sông hiền hòa, đồng ruộng thẳng cánh cò bay… Mỗi địa phương có lịch sử hình thành và phát triển, có những nét
16:15 | 25/08/2025

PGS.TS. Phạm Viết Vượng -

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Địa phương (Local) là một vùng lãnh thổ có tên trên bản đồ, có tọa độ xác định, là nơi cư trú và lập nghiệp của các cộng đồng dân cư. Mỗi địa phương có những nét đặc thù về vị trí địa lí: miền biển, đồng bằng, thành phố, nông thôn, trung du, miền núi…; về cảnh quan thiên nhiên: núi non hùng vĩ, biển cả mênh mông, dòng sông hiền hòa, đồng ruộng thẳng cánh cò bay…

Mỗi địa phương có lịch sử hình thành và phát triển, có những nét độc đáo về văn hóa, xã hội, về thành phần các dân tộc định cư, về trình độ phát triển kinh tế với các loại hình nghề nghiệp: nông, lâm, ngư nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ…

Địa phương còn là nơi sinh ra, lớn lên và trưởng thành của các thế hệ cư dân, đó là quê hương, nơi lưu giữ những kỷ niệm đẹp của mỗi người từ thời thơ ấu. Mọi công dân trong xã hội hiện đại đều được đến trường để học tập hiểu biết về thế giới văn minh, về đất nước giàu đẹp, về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc và cũng cần được học để biết về quê hương yêu dấu, nơi mình sinh ra, lớn lên và trưởng thành.

Chính vì lẽ đó, trong chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 có thêm nội dung giáo dục địa phương để dạy cho học sinh, đây là chủ trương đúng, cần thiết, phù hợp với xu thế của thời đại.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Những vấn đề chung về giáo dục địa phương

2.1.1. Giáo dục địa phương

Giáo dục địa phương (Local education) là môn học nghiên cứu về lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghề nghiệp…của các địa phương, nhằm giúp cho học sinh có được những hiểu biết về vùng đất và con người của quê hương yêu dấu.

Hiện nay một số trường đại học Việt Nam đã dạy cho sinh viên các giáo trình như: Hà Nội học, Việt Nam học… có nội dung và ý nghĩa tương đồng với môn học Giáo dục địa phương ở trường phổ thông.

Ở một số quốc gia như Nhật Bản, Philippines…sử dụng khái niệm Địa phương học (Local studies) trong nghiên cứu các lĩnh vực giáo dục và văn hóa, với mục đích nâng cao nhận thức xã hội về các giá trị lịch sử, văn hóa của từng địa phương, nhằm thúc đẩy quá trình phát triển bền vững.

Ngày 24 tháng 5 năm 2021 Thành ủy Hà Nội có Chỉ thị số 30-CT/TU về việc "Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng về xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh", trong đó đề cập tới việc đưa môn “Hà Nội học” vào giảng dạy trong các trường học của Thủ đô, nhằm giúp cho học sinh có được những hiểu biết về vùng đất, con người Hà Nội, góp phần phát huy các giá trị vốn có của mảnh đất ngàn năm văn hiến, từ đó tăng thêm lòng tự hào, khát vọng vươn lên để xây dựng Thủ đô văn minh, giàu đẹp.

Hà Nội học chính là Địa phương học nghiên cứu về lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật…của thủ đô Hà Nội.

Chương trình giáo dục địa phương năm 2018 được thiết kế cho 63 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Như vậy, khái niệm địa phương trong chương trình giáo dục là một tỉnh hay một thành phố trực thuộc trung ương.

Bộ sách giáo khoa giáo dục địa phương đã được biên soạn cho 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của cả nước, sau đây sẽ được điều chỉnh, bổ sung, biên tập lại cho phù hợp với cuộc cải cách thay đổi địa giới hành chính, hiện nay cả nước có 28 tỉnh và 6 thành phố.

2.1.2. Mục tiêu của giáo dục địa phương.

- Về kiến thức: Trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản và thời sự về địa lý, khí hậu, môi trường sinh thái, lịch sử, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, tập quán, danh nhân, trình độ phát triển kinh tế, các nghề truyền thống của địa phương.

- Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, niềm tự hào về truyền thống lịch sử, văn hóa, nghệ thuật…của địa phương, hình thành ý thức gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc cùng chung sống và vận dụng những điều đã học góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn ở địa phương, sẵn sàng tham gia xây dựng quê hương giàu đẹp.

- Về kỹ năng: Bồi dưỡng cho học sinh kỹ năng khám phá vùng đất quê hương, kỹ năng nghiên cứu lịch sử, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, kỹ năng tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, kỹ năng tìm hiểu nghề truyền thống ở địa phương, kỹ năng ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững.

2.1.3. Nội dung giáo dục địa phương

Nội dung giáo dục địa phương là những vấn đề cơ bản và thời sự về lịch sử, địa lí, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, nghề nghiệp…của 28 tỉnh và 6 thành phố của cả nước, cụ thể như sau:

- Địa lý, cảnh quan, môi trường thiên nhiên, dân cư, nghề truyền thống, đặc sản… của các địa phương.

- Lịch sử hình thành và phát triển của địa phương, di tích lịch sử, nghệ thuật dân gian, danh nhân văn hóa, phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống…của địa phương.

- Sự phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, an sinh xã hội, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán, trật tự, kỉ cương, ý thức tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường tại địa phương.

Ở cấp tiểu học nội dung giáo dục địa phương được tích hợp vào hoạt động trải nghiệm do giáo viên chủ nhiệm giảng dạy, đây là một lợi thế đem lại hiệu quả giáo dục cao.

Ở cấp trung học phổ thông nội dung giáo dục địa phương gồm 6 lĩnh vực, hay còn gọi là 6 phân môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Âm nhạc, Mỹ thuật, Giáo dục kinh tế và Pháp luật.

Nội dung giáo dục địa phương được biên soạn thành bộ tài liệu cho 3 cấp học phổ thông của 34 địa phương, bao gồm các bài học, các chủ đề hoặc nhóm chủ đề, có vai trò như sách giáo khoa.

2.1.4. Đặc điểm của môn học Giáo dục địa phương

Giáo dục địa phương là một môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, có những đặc điểm như sau:

Một là, nội dung môn học là những vấn đề tự nhiên và xã hội của địa phương nên gần gũi, thân quen với cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của học sinh, các em cảm thấy dễ hiểu, thiết thực, bổ ích nên có hứng thú học tập.

Hai là, nội dung môn học có tính tích hợp liên môn, phong phú về chủ đề, đa dạng về hoạt động, có thể tổ chức học trong và ngoài khuôn viên nhà trường.

Ba là, môn học có thể sử dụng nhiều hình thức và phương pháp dạy học linh hoạt để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Giáo viên tổ chức, hướng dẫn, tạo môi trường, tạo tình huống tư duy, nhận thức. Học sinh tích cực tham gia các hoạt động tìm tòi, khám phá những vấn đề thực tế địa phương, từ đó hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu.

Bốn là: môn học Giáo dục địa phương ở cấp trung học phổ thông có 6 phân môn, cần 6 giáo viên giảng dạy, khiến ban giám hiệu nhà trường băn khoăn, cân nhắc khi phân công giảng dạy, khi lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá hết môn một cách chi tiết.

Hiệu quả của cách tổ chức dạy học chia nội dung môn học thành 6 phân môn đang được giáo giới bàn luận.

2.1.5. Những điều kiện cần có để tổ chức thực hiện chương trình giáo dục địa phương có hiệu quả.

Để tổ chức thực hiện chương trình giáo dục địa phương có chất lượng và hiệu quả, các địa phương, nhà trường cần có những điều kiện sau đây:

Một là, địa phương có đội ngũ chuyên gia, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động xã hội am hiểu về lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội, văn học, nghệ thuật, nghề truyền thống…của địa phương, sẵn sàng hợp tác, hỗ trợ sở Giáo dục và Đào tạo sưu tầm tài liệu và tham gia biên soạn tài liệu, sách giáo khoa.

Hai là, bộ tài liệu giáo dục địa phương được biên soạn, thẩm định đúng thời hạn quy định, có chất lượng tốt về nội dung, đẹp về hình thức, được bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, nhà xuất bản Giáo dục ấn hành để giảng dạy trong nhà trường ở địa phương. Trước khi tiến hành giảng dạy, nhà trường phải có sách giáo khoa cho thầy và trò sử dụng.

Ba là, nhà trường có đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, am hiểu thực tế địa phương, có phương pháp sư phạm linh hoạt, sáng tạo để giảng dạy và tổ chức các hoạt động thực hành, trải nghiệm cho học sinh.

Bốn là, địa phương có các văn, nghệ sĩ, các nghệ nhân làng nghề, có các huấn luyện viên nghệ thuật, thể dục, thể thao…sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ nhà trường tổ chức, hướng dẫn học sinh luyện tập, thực hành, trải nghiệm.

Năm là, nhà trường có cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật dạy học trực quan, nghe nhìn, có sân chơi, bãi tập, thư viện, phòng truyền thống…Địa phương có các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, làng nghề, khu công nghiệp, vườn sinh thái…cho học sinh tham quan, học tập, nghiên cứu, thực hành, trải nghiệm.

Sáu là, ban giám hiệu nhà trường có năng lực quản lý, điều hành thực hiện chương trình giáo dục địa phương, phân công tổ chuyên môn phụ trách, giáo viên có năng lực giảng dạy, sắp xếp thời khóa biểu hợp lý, tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả môn học theo đúng quy chế.

2.2. Đặc điểm của các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

Theo quy định chung, một tỉnh có 2/3 diện tích ở độ cao từ 600m trở lên so với mặt nước biển, được gọi là tỉnh miền núi.

Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025 miền núi phía Bắc Việt Nam có 14 tỉnh, chia thành 2 tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc.

Vùng Đông Bắc có các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang.

Vùng Tây Bắc có các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình.

Các tỉnh miền núi phía Bắc có biên giới giáp với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở phía bắc, với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ở phía tây, chiếm 35% diện tích và 15% dân số của cả nước, đây là một địa bàn chiến lược về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của nước ta.

Sau cuộc cải cách thay đổi địa giới, từ ngày 1 tháng 7 năm 2025 miền núi phía Bắc có 11 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Quảng Ninh, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai (Lào Cai sáp nhập với Yên Bái), Thái Nguyên (Thái Nguyên sáp nhập với Bắc Kạn) Bắc Ninh (Bắc Ninh sáp nhập với Bắc Giang), Phú Thọ (Phú Thọ sáp nhập với Vĩnh Phúc và Hòa Bình). Như vậy là có hai tỉnh đồng bằng là Bắc Ninh và Vĩnh Phúc sáp nhập vào Bắc Giang và Phú Thọ là hai tỉnh miền núi.

Các tỉnh miền núi phía Bắc có những đặc điểm nổi bật như sau:

Hà Giang có cao nguyên đá Đồng Văn là điểm du lịch nổi tiếng ở miền núi phía Bắc. Lào Cai nổi tiếng với khu du lịch Sa Pa, có dãy núi Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, có ruộng bậc thang Mù Cang Chải. Lạng Sơn có động Tam Thanh cổ kính. Cao Bằng có thác Bản Giốc, thác nước đẹp nhất Việt Nam. Tuyên Quang có khu di tích lịch sử Tân Trào, nơi trung ương Đảng họp ra quyết định tổng khởi nghĩa năm 1945. Bắc Kạn nổi tiếng với hồ Ba Bể - hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất cả nước. Quảng Ninh có Vịnh Hạ Long một kỳ quan thiên nhiên được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa thế giới. Phú Thọ nổi tiếng với khu di tích Đền Hùng nơi thờ các vị Vua Hùng có công dựng nước, có hồ thủy điện Hòa Bình rộng mênh mông. Bắc Ninh có làn điệu dân ca quan họ nổi tiếng, có khu di tích khởi nghĩa nông dân Yên Thế chống thực dân Pháp đầu thế kỷ XX. Sơn La được biết đến với các làn điệu dân ca, múa xòe và nhảy sạp của dân tộc Thái. Điện Biên có khu di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Các tỉnh miền núi phía Bắc là nơi cư trú của 20 dân tộc anh em, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 56,2%, tạo nên sự đa dạng về văn hóa, nghệ thuật dân gian cần được bảo tồn, khai thác.

Các tỉnh miền núi phía Bắc giàu tài nguyên thiên nhiên với nhiều loại nông, lâm, thổ sản quý hiếm, có nhiều mỏ kim loại, vàng bạc, đá quý… Đây là một địa phương có nhiều tiềm năng kinh tế cần được khai thác phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước.

Tuy vậy, các tỉnh miền núi phía Bắc có địa hình phức tạp, đèo cao, suối sâu, đường giao thông qua lại giữa các bản làng không thuận tiện, trình độ dân trí chưa cao, nên hiện nay vẫn là vùng khó khăn, vùng nghèo nhất của cả nước, cần được đầu tư xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống và trình độ học vấn cho người dân.

2.3. Những khó khăn của giáo dục trung học phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc.

Hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục trung học phổ thông nói riêng của các tỉnh miền núi phía Bắc còn có nhiều khó khăn:

Một là, do địa hình phức tạp, núi non trùng điệp, kinh tế chưa phát triển, trình độ dân trí chưa cao, nên mạng lưới các trường học chưa thật hoàn chỉnh, trường sở, sân bãi, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học… chưa đáp ứng các yêu cầu phát triển về quy mô và chất lượng giáo dục.

Hai là, trước ngày 1 tháng 7 năm 2025 mỗi huyện của các tỉnh miền núi phía Bắc đều có trường trung học phổ thông, tuy nhiên diện tích của một huyện khá rộng, trường học xa nơi cư trú, đèo cao, suối sâu, nắng mưa, lũ quét mùa hè, giá rét mùa đông…thường xảy ra nên có ảnh hưởng rất lớn đến việc đi học hàng ngày của học sinh.

Mỗi tỉnh miền núi phía Bắc còn có trường phổ thông dân tộc nội trú dành cho học sinh là con em của đồng bào các dân tộc thiểu số và học sinh người Kinh định cư lâu dài ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Trường phổ thông dân tộc nội trú có hai cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Ba là, trình độ dân trí của cư dân địa phương còn thấp, suy nghĩ giản đơn, một số phụ huynh vẫn chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con em, không ít gia đình muốn cho con nghỉ học để lên nương phụ giúp cha mẹ, ở nhà làm vườn, chăn nuôi, chạy chợ, đi làm thuê… để có thu nhập hàng ngày.

Bốn là, nhà nước tuy đã rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên cho vùng đồng bào các dân tộc miền núi, đã có nhiều chính sách ưu đãi được triển khai, song đội ngũ giáo viên ở vùng này vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu về số lượng và chất lượng giáo dục.

Giáo viên trung học phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều người từ miền xuôi lên công tác theo chính sách thu hút hoặc luân chuyển có thời hạn, đa số còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm công tác, chưa am tường lịch sử, địa lý, văn hóa, phong tục tập quán của địa phương, ít người biết ngôn ngữ dân tộc, nên có khó khăn trong giảng dạy và giao tiếp với chính quyền và nhân dân địa phương.

Hơn thế nữa, họ chưa thật sự yên tâm công tác lâu dài ở vùng cao, luôn mong hết thời hạn để về miền xuôi lập gia đình, ổn định công tác và cuộc sống lâu dài.

Năm là, học sinh trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc đa số là con em đồng bào các dân tộc, do điều kiện kinh tế khó khăn, phương tiện đi lại chưa thuận tiện, nhiều em chưa có dịp đi xa khỏi nơi cư trú, chưa được tiếp cận với các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, với cuộc sống văn minh ở các thành phố lớn, khu đô thị hiện đại…nên nhận thức xã hội còn hạn chế, thiếu tự tin, thậm chí có nhiều học sinh muốn nghỉ học để đi làm kiếm tiền, ở nhà lấy chồng, lấy vợ, xây dựng gia đình.

Sáu là, đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường ở các tỉnh miền núi phía Bắc cũng ở trong tình trạng tương tự như đội ngũ giáo viên, nhiều người còn trẻ, không phải là người địa phương, chưa thật sự am hiểu về địa lý, lịch sử, văn hóa truyền thống của địa phương, còn thiếu kinh nghiệm tổ chức thực hiện chương trình giáo dục địa phương.

2.4.Thực trạng tổ chức thực hiện chương trình giáo dục địa phương ở các tỉnh miền núi phía Băc trong những năm qua.

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo tổ chức biên soạn và thẩm định tài liệu giáo dục địa phương, trình Bộ phê duyệt để xuất bản và triển khai giảng dạy trong các nhà trường.

Tiếp đó Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố lại giao cho các sở Giáo dục và Đào tạo đứng ra tổ chức thực hiện công việc này.

Quảng cáo

Chương trình giáo dục địa phương lần đầu tiên được triển khai ở nước ta, cho nên các địa phương nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng chưa có kinh nghiệm tổ chức thực hiện nên gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ cần phải tháo gỡ, cụ thể như sau:

Một là, do thiếu nhân lực có trình độ cao, thiếu thông tin, tài liệu, thiếu cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật, một số địa phương gặp khó khăn trong các khâu: tổ chức biên soạn, thẩm định, phê duyệt, xuất bản… nên tài liệu biên soạn thường chậm trễ, những năm đầu triển khai chương trình một số địa phương chưa có sách giáo khoa xuất bản chính thức để sử dụng giảng dạy.

Hai là, chất lượng bộ tài liệu đã được biên soạn không đồng đều giữa các địa phương, một số tỉnh có nhiều tiềm năng, có chuyên gia giàu kinh nghiệm, có thư viện lưu trữ tài liệu về lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa…bộ tài liệu biên soạn có chất lượng tốt được các nhà giáo, học sinh hoan nghênh và ngược lại có một số địa phương do thiếu những điều kiện kể trên, chất lượng tài liệu còn có những hạn chế.

Ba là, khi triển khai thực hiện chương trình giáo dục địa phương Ban giám hiệu các trường trung học phổ thông còn lúng túng trong khâu phân công cho tổ chuyên môn nào phụ trách ? giáo viên môn nào giảng dạy ?

Nếu ở cấp tiểu học, giáo viên chủ nhiệm dạy tất cả các môn học, nay tiếp tục dạy nội dung giáo dục địa phương, nên có nhiều thuận lợi trong việc xây dựng các chủ đề dạy tích hợp, tổ chức các hoạt động thực hành, trải nghiệm, học sinh cảm thấy môn học dễ hiểu, thiết thực, bổ ích, từ đó có hứng thú học tập, nên kết quả học tập tốt.

Đối với cấp trung học phổ thông thời lượng môn học là 35 tiết chia cho 6 phân môn: Ngữ văn 9 tiết; Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật mỗi phân môn 6 tiết; Âm nhạc, Mĩ thuật mỗi môn 4 tiết trong một năm học.

Như vậy, nội dung môn học Giáo dục địa phương có liên quan đến nhiều tổ chuyên môn, đến nhiều giáo viên giảng dạy, ban giám hiệu nhà trường băn khăn không biết nên phân công cho tổ chuyên môn nào phụ trách, giáo viên môn nào giảng dạy, cũng như việc sắp xếp thời khóa biểu làm sao để không chồng chéo và lập kế hoạch tổ chức kiểm tra thường xuyên và đánh giá hết môn đúng quy chế.

Bốn là, các trường trung học phổ thông miền núi chưa có giáo viên dạy hai môn Âm nhạc và Mỹ thuật nên phải phân cho giáo viên các môn khác dạy thay, do không phù hợp về chuyên môn, nên kết quả dạy 2 phân môn này chưa đạt được mục tiêu mong muốn.

Năm là, các trường trung học phổ thông miền núi chưa có đủ phương tiện kỹ thuật dạy học như: thiết bị nghe nhìn, phòng truyền thống, sân chơi, bãi tập đạt tiêu chuẩn… lại ở xa các khu di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, nên có nhiều khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh đi tham quan, thực hành, trải nghiệm.

Một số địa phương chưa có bảo tàng lịch sử, bảo tàng văn hóa, nghệ thuật, cũng như chưa có thư viện lưu trữ tài liệu, nên cả thầy và trò không có điều kiện nghiên cứu lịch sử, tìm tòi thông tin, tài liệu phục vụ cho giảng dạy, học tập và thực hành.

Các trường trung học phổ thông miền núi chưa có kinh nghiệm vận động các văn, nghệ sĩ, các nghệ nhân làng nghề, các tài năng nghệ thuật dân gian ở địa phương hợp tác, hỗ trợ nhà trường tổ chức thực hành, trải nghiệm môn giáo dục địa phương.

Sáu là, các trường trung học phổ thông miền núi còn lúng túng trong khâu kiểm tra, đánh giá môn học. Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo môn giáo dục địa phương có 4 bài kiểm tra thường xuyên và định kỳ, nhà trường phải dành ra 4 tiết để kiểm tra, nên thời lượng thực dạy chỉ còn 31 tiết.

Có nhiều ý kiến băn khoăn: những phân môn chỉ có 4 tiết, không có thời gian để kiểm tra và giáo viên cũng không thể nhận xét, đánh giá phẩm chất và năng lực của học sinh vì thời gian học quá ngắn, do vậy cần có một giáo viên giảng dạy toàn bộ chương trình môn học.

2.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai chương trình giáo dục địa phương ở các trường trung học phổ thông miền núi phía Bắc

Để khắc phục những khó khăn, bất cập trong triển khai hiện tại, đồng thời để nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình giáo dục địa phương ở các trường trung học phổ thông miền núi phía Bắc một cách bền vững, chúng tôi đề xuất các giải pháp sau đây:

Một là, đào tạo giáo viên người địa phương cho các tỉnh miền núi .

Giáo viên là nhân vật trung tâm của các hoạt động giáo dục, không có giáo viên giỏi không thể nói đến chất lượng giáo dục tốt, vì vậy cần phải đào tạo giáo viên đủ về số lượng và có chất lượng tốt, đồng thời phải phù hợp, đáp ứng yêu cầu giáo dục của các địa phương, vùng miền.

Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc “địa phương hóa” giáo viên là một giải pháp quan trọng có thể đem lại hiệu quả giáo dục bền vững lâu dài. Giáo viên người địa phương am hiểu thực tế địa phương, biết rõ đặc điểm tâm lý học sinh, biết tiếng địa phương, sẽ rất thuận lợi trong việc giảng dạy và vận động các tổ chức xã hội hỗ trợ nhà trường tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục địa phương.

Tuy vậy, giáo viên người dân tộc thiểu số ở địa phương phải được đào tạo chính quy, bài bản qua các trường đại học sư phạm, phải có trình độ chuyên môn vững và phẩm chất nhân cách tốt, sẵn sàng cống hiến lâu dài cho giáo dục địa phương.

Việc tổ chức đào tạo giáo viên cho các địa phương miền núi có thể thực hiện bằng nhiều con đường như: Cử tuyển học sinh khá, giỏi của địa phương đi đào tạo giáo viên, Hợp đồng đào tạo giáo viên cho địa phương với các trường đại học sư phạm, Vận động học sinh khá, giỏi của trường dự bị đại học dân tộc vào học trường đại học sư phạm đào tạo giáo viên.

Bản chất của giải pháp này là thu hút được nhiều học sinh khá, giỏi của địa phương vào các trường đại học sư phạm để đào tạo trở thành giáo viên có phẩm chất và năng lực sư phạm tốt, trở về công tác lâu dài ở địa phương, bổ sung, tăng cường cho đội ngũ giáo viên hiện có nhằm thực hiện tốt mọi nhiệm vụ giáo dục.

Nhà nước đã miễn học phí, cấp học bổng cho sinh viên sư phạm, có chính sách ưu đãi về lương bổng, phụ cấp cho giáo viên miền núi, tiếp theo đây cần xây nhà công vụ đảm bảo nơi ăn, chốn ở, sinh hoạt và làm việc thuận lợi cho đội ngũ giáo viên, để tạo động lực cho họ yên tâm công tác lâu dài tại địa phương.

Các trường đại học sư phạm cần phải thiết kế các học phần “Lý luận và phương pháp giáo dục địa phương” hay “Địa phương học” đưa vào chương trình đào tạo, giúp cho sinh viên có kiến thức và phương pháp giảng dạy môn Giáo dục địa phương sau khi tốt nghiệp.

Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật cần đào tạo đủ giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật cho các trường trung học phổ thông để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông toàn diện.

Hai là, rà soát, biên tập lại bộ sách giáo khoa Giáo dục địa phương đảm bảo có chất lượng tốt.

Sách giáo khoa là văn bản thể hiện chi tiết chương trình môn học, là công cụ để giáo viên giảng dạy và học sinh học tập, sách giáo khoa phải có chất lượng tốt về nội dung, đẹp về hình thức, được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, nhà xuất bản ấn hành, nhà trường phải có đủ sách giáo khoa trước khi tổ chức quá trình dạy học.

Sau cải cách thay đổi địa giới hành chính, các địa phương vừa sáp nhập như Lào Cai, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh cần rà soát lại bộ sách giáo khoa đã biên soạn, biên tập lại về nội dung với nguyên tắc là không để trùng lặp và cũng không bỏ sót thông tin, tài liệu của các địa phương thành viên vừa sáp nhập.

Thận trọng hơn, các địa phương nên tổ chức hội thảo khoa học mời các chuyên gia của hội Khoa học Lịch sử, hội Văn hóa Nghệ thuật, hội Cựu Giáo chức…của địa phương tham dự để thảo luận, xem xét tính khoa học, tính sư phạm và tính thực tiễn của bộ sách.

Tốt hơn nữa địa phương nên thành lập hội đồng khoa học thẩm định lại bộ sách, trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, nhà xuất bản Giáo dục ấn hành để có tài liệu giảng dạy ngay từ đầu năm học 2025-2026 và sử dụng lâu dài về sau.

Ba là, phân công giảng dạy môn Giáo dục địa phương.

Để tổ chức dạy môn Giáo dục địa phương có kết quả tốt, ban giám hiệu các trường trung học phổ thông có băn khoăn nên phân công cho tổ chuyên môn nào phụ trách và giáo viên môn nào giảng dạy?

Từ thực tiễn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục địa phương trong mấy năm qua, chúng tôi thấy có 3 phương án có thể lựa chọn sau đây:

Phương án thứ nhất: trả nội dung giáo dục địa phương của 6 phân môn về cho các môn học cùng tên để giáo viên bộ môn dạy tích hợp vào môn học chính. Phương án này có thuận lợi về chuyên môn, nhưng có hạn chế là nội dung môn học bị chia nhỏ, khó cho việc ra đề, chấm thi, đánh giá với tư cách là một môn học độc lập.

Phương án thứ hai: phân cho một tổ chuyên môn thuộc khối khoa học xã hội phụ trách, có thể là tổ Ngữ văn hoặc tổ Lịch sử, Địa lý đảm nhiệm. Phương án này thuận tiện cho các khâu tổ chức giảng dạy, kiểm tra giữa kỳ và đánh giá hết môn.

Qua khảo sát cho thấy có nhiều địa phương thực hiện theo phương án này, đã đem lại những kết quả nhất định, tuy nhiên nhiều giáo viên vẫn còn băn khoăn về hai phân môn Âm nhạc và Mỹ thuật, vì các trường trung học phổ thông chưa có giáo viên dạy hai môn học này.

Phương án thứ ba: các trường đại học sư phạm thiết kế, tổ chức giảng dạy giáo trình “Lý luận và phương pháp dạy giáo dục địa phương”, hay “Địa phương học” cho sinh viên các khoa trong toàn trường, để sau khi tốt nghiệp họ có thể dạy môn học này có chất lượng và hiệu quả lâu dài.

Bốn là, đa dạng hóa hình thức tổ chức và phương pháp dạy học môn Giáo dục địa phương.

Nội dung môn học Giáo dục địa phương rất gần gũi với thực tiễn cuộc sống của học sinh, để đạt được chất lượng và hiệu quả giáo dục tốt, giáo viên cần sử dụng nhiều hình thức tổ chức và phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo và kinh nghiệm sẵn có của học sinh. Cụ thể như sau:

- Cùng với bài giảng trên lớp giáo viên nên tổ chức cho học sinh sưu tầm tài liệu về lịch sử, địa lý, văn hóa, nghệ thuật, nghề nghiệp truyền thống…của địa phương trong thư viện nhà trường, của tỉnh, hoặc gặp gỡ trao đổi với các bậc cao niên, già làng, những người có thành tích trong kháng chiến, trong lao động ở quê hương để có thông tin, ư liệu sau đó tổ chức thảo luận ở tổ, nhóm, hoặc trình bày trước lớp.

- Tổ chức cho học sinh sưu tầm ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, các làn điệu dân ca, dân vũ, trang phục dân tộc truyền thống, tranh, ảnh về cuộc sống trong quá khứ và hiện tại của địa phương.

- Tổ chức cho học sinh khảo sát lấy tài liệu, số liệu về các nghề truyền thống, các loại đặc sản địa phương, các lĩnh vực sản xuất ở khu công nghiệp và các loại hàng hóa ở chợ làng quê.

- Tổ chức cho học sinh đi tham quan các danh lam thắng cảnh, khu di tich lịch sử, viện bảo tàng, khu công nghiệp, rừng nguyên sinh...

- Tổ chức cho học sinh thi làm đồ thủ công, mỹ nghệ, trang phục dân tộc, ẩm thực truyền thống địa phương.

- Tổ chức cho học sinh thi hát dân ca, dân vũ, nhảy sạp, múa xòe, trình diễn trang phục dân tộc địa phương.

- Tổ chức cho học sinh thi các môn thể thao truyền thống của các dân tộc miền núi như: đấu vật, ném còn, đẩy gậy, đu quay, đua ngựa và các trò chơi dân gian…

- Tổ chức cho học sinh tham dự các hoạt động lễ hội truyền thống cùng với nhân dân địa phương vào các dịp lễ, tết, ngày nông nhàn…hướng dẫn các em quay phim, chụp ảnh để có tư liệu học tập.

Sau tất cả các hoạt động sưu tầm tài liệu, thực hành, trải nghiệm, tham quan…, học sinh viết thu hoạch, trình bày trước tổ, nhóm hoặc trước lớp, giáo viên nhận xét, đánh giá, nhà trường có phần thưởng dành cho các bài viết, sản phẩm xuất sắc để khuyến khích học sinh học tập.

Năm là, sử dụng thiết bị trực quan trong giảng dạy môn Giáo dục địa phương.

Đặc điểm của môn Giáo dục địa phương là có tính thực tế rất cao, tuy nhiên do nhiều lý do như: thiếu kinh phí, thiếu phương tiện giao thông…, nên thầy, trò không thể đến được các danh lam thắng cảnh, viện bảo tàng, các lễ hội truyền thống…để tham quan, nghiên cứu, học tập, do vậy sử dụng phương tiện trực quan là giải pháp hỗ trợ, thay thế hết sức cần thiết.

Hiện nay khoa học và công nghệ đã nghiên cứu và sản xuất được nhiều phương tiện dạy học trực quan nghe, nhìn hiện đại, có thể hỗ trợ nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục địa phương.

Đối với giáo viên: phương tiện trực quan giúp cho bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn, tạo hứng thú cho học sinh, chất lượng bài giảng tốt.

Đối với học sinh: phương tiện trực quan giúp cho học sinh được nghe, được nhìn nắm bắt thông tin nhanh chóng, đồng thời còn làm tăng trí nhớ các sự kiện.

Trong bài giảng lý thuyết giáo viên sử dụng tranh ảnh, phim tài liệu, video để minh họa, giúp thông tin được khắc sâu.

Trong giờ thảo luận giáo viên sử dụng video, tranh ảnh phong cảnh thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, các video hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ hội truyền thống, các cuộc thi đấu thể thao, các phong tục tập quán…của cộng đồng dân cư địa phương để học sinh quan sát, học tập, tiếp nhận thông tin…

Tuy nhiên để thực hiện giải pháp này có kết quả tốt, địa phương, nhà trường cần đầu tư, mua sắm các thiết bị đồng bộ và có chất lượng để thầy, trò sử dụng dạy và học, không có đủ phương tiện học tập là một thiệt thòi lớn và hiệu quả giáo dục không cao.

3. Kết luận:

Giáo dục địa phương là môn học thiết thực, bổ ích đối với học sinh các cấp phổ thông, nhằm bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương, niềm tự hào về truyền thống lịch sử, văn hóa của vùng đất nơi mình được sinh ra, lớn lên và trưởng thành, để sẵn sàng đóng góp công sức xây dựng quê hương giàu đẹp.

Lần đầu tiên ở nước ta tổ chức biên soạn tài liệu và giảng dạy môn Giáo dục địa phương, đặc biệt là ở các trường trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc, nên bên cạnh những thuận lợi cũng còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc cần phải có giải pháp khắc phục.

Chúng tôi đề xuất năm giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình giáo dục đại phương cho các trường trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc đó là: Đạo tạo giáo viên người địa phương; Biên tập lại bộ sách giáo khoa cho các tỉnh mới sáp nhập; Phân công hợp lý cho tổ chuyên môn phụ trách và giáo viên giảng dạy; Đa dạng hóa hình thức tổ chức và phương pháp dạy học môn Giáo dục địa phương và Sử dụng các phương tiện trực quan nghe nhìn giúp học sinh nhận biết được những hình ảnh sống động của thiên nhiên và xã hội…khi không có điều kiện tiếp cận đối tượng.

Thực hiện các giải pháp có tính đồng bộ trên đây không chỉ để tháo gỡ những khó khăn, bất cập trước mắt, mà còn tạo ra hiệu quả bền vững, lâu dài cho môn học Giáo dục địa phương ở các trường trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc.

Tài liệu tham khảo

1. Công văn số 3899/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2023-2024.

2. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

3. Thanh Thủy. Giáo dục vùng dân tộc thiểu số chuyển mình, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 19-3-2019

4. Thành ủy Hà Nội Chỉ thị số 30-CT/TU ngày 24 tháng 5 năm 2021

5. Thông tư số 32/2018/TT của Bộ GD&ĐT Ngày 26/12/2018 ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới.

6. Thông tư số 04/2023/TT-BGDĐT ngày 23/02/2023 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú.

7. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

8. Vụ Giáo dục Dân tộc: “Chú trọng công tác hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dân tộc thiểu số”, Trang thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo.

9. Vụ Giáo dục Dân tộc: “Một số định hướng phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số miền núi”, Trang thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo,

10. Phạm Viết Vượng (2018) Lý luận giáo dục NXB Giáo dục Hà Nội

11. Phạm Viết Vượng (2014) Lý luận dạy học đại học NXB ĐHSP Hà Nội.