GIÁO DỤC BẮT BUỘC: VÀI SUY NGHĨ VÀ BÌNH LUẬN

GS.TS. NSND Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực Tóm tắt: Tại sao tư tưởng giáo dục bắt buộc lại được manh nha rất sớm từ thời cổ đại và đến cuối thế kỷ 19, hầu hết các nước châu Âu, một số nước châu Á đã áp dụng giáo dục bắt buộc? Cho đến nay, giáo dục bắt buộc đã được áp dụng ở khắp các châu lục, không chỉ ở bậc tiểu học mà cả đối với bậc trung học. Giáo dục bắt buộc không chỉ nhằm mục tiêu cung cấp trình độ học vấn tối thiểu của người dân mà nó còn là
16:13 | 17/10/2025

GS.TS. NSND Nguyễn Thị Mỹ Lộc -

Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực

Tóm tắt: Tại sao tư tưởng giáo dục bắt buộc lại được manh nha rất sớm từ thời cổ đại và đến cuối thế kỷ 19, hầu hết các nước châu Âu, một số nước châu Á đã áp dụng giáo dục bắt buộc?

Cho đến nay, giáo dục bắt buộc đã được áp dụng ở khắp các châu lục, không chỉ ở bậc tiểu học mà cả đối với bậc trung học. Giáo dục bắt buộc không chỉ nhằm mục tiêu cung cấp trình độ học vấn tối thiểu của người dân mà nó còn là một chính sách đảm bảo cho sự công bằng trong tiếp cận giáo dục cho tất cả mọi người trong xã hội, nó là điều kiện tiên quyết để đạt mục tiêu nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, nó là minh chứng về sự quan tâm và trách nhiệm của một quốc gia đối với người dân.

Giáo dục bắt buộc là xu hướng chung của thế giới. Tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia quy định bậc học giáo dục bắt buộc có khác nhau.

Với Việt Nam, có thể khẳng định rằng, quan điểm giáo dục bắt buộc ở cấp sơ học và tiểu học đã được nêu ra và khẳng định liên tục ở Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ, các Luật Giáo dục và văn bản dưới luật.

Chính sách về giáo dục bắt buộc phải được nghiên cứu dựa trên những cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý và thực tiễn phát triển giáo dục Việt Nam. Nhận diện tiến trình phát triển của giáo dục Việt Nam đương đại, các nhà hoạch định chính sách sẽ có căn cứ xác định các nhiệm vụ đối với giáo dục Việt Nam nói chung, trong đó có giáo dục bắt buộc nói riêng.

Dựa trên đặc điểm phát triển tâm, sinh lý lứa tuổi, học sinh tiểu học, lứa tuổi 6 - 11 là “giai đoạn vàng” để hình thành đặc điểm, thái độ, tính cách đối với việc học tập, lao động và với cuộc sống của một con người. Chính vì vậy, giáo dục tiểu học được quy định là giáo dục bắt buộc, nó mang tính nhân văn với sự phát triển của cá nhân người học, nó thể hiện rõ quyền lợi và nghĩa vụ của nhà nước và các cá nhân liên quan.

Những nút thắt nào đối với giáo dục bắt buộc bậc tiểu học ở Việt Nam và những giải pháp nào để tháo gỡ những nút thắt đó? Bài viết trình bày một vài suy nghĩ và bình luận từ góc độ cá nhân.

Từ khóa: Giáo dục bắt buộc, giáo dục tiểu học, giáo dục phổ cập

1. Đặt vấn đề

Khi nhìn thấy chữ “giáo dục bắt buộc” (GDBB), đa phần mọi người sẽ có ý nghĩ không mấy tích cực, theo nghĩa nông cạn thì giáo dục bắt buộc dành cho các trẻ em/người phạm tội, theo nghĩa sâu sắc hơn thì sao lại là “bắt buộc”, khi mà giáo dục là quyền lợi, là sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia? Phải chăng, giáo dục là điều chẳng dễ dàng gì, đầy thách thức khó khăn, khổ ải nên phải cưỡng bức, cưỡng chế?

Tại sao tư tưởng GDBB lại được manh nha rất sớm từ thời cổ đại và đến cuối thế kỷ 19, hầu hết các nước châu Âu, một số nước châu Á đã áp dụng GDBB? Cho đến nay, GDBB đã được áp dụng ở khắp các châu lục, không chỉ ở bậc tiểu học mà cả đối với bậc trung học. GDBB không chỉ nhằm mục tiêu cung cấp trình độ học vấn tối thiểu của người dân mà nó còn là một chính sách đảm bảo cho sự công bằng trong tiếp cận giáo dục cho tất cả mọi người trong xã hội; nó là điều kiện tiên quyết để đạt mục tiêu nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực; nó là minh chứng về sự quan tâm và trách nhiệm của một quốc gia đối với người dân, bởi vì khi một quốc gia tuyên bố thực hiện GDBB đến cấp học nào có nghĩa quốc gia đó có năng lực bảo đảm đầy đủ các điều kiện để thực hiện cung cấp giáo dục đến bậc học đó cho người dân, miễn học phí. Phải chăng “giáo dục bắt buộc” là nhấn chủ ý đối với cha mẹ, người bảo trợ trẻ em, những cơ quan, tổ chức, đảm trách việc cung ứng điều kiện để mọi người dân được hưởng thụ trình độ giáo dục tối thiểu. Với cách nhìn như vậy, người viết dường như có cảm xúc tích cực hơn khi nghĩ về “giáo dục bắt buộc” trong bối cảnh chúng ta đang nỗ lực xây dựng “Nhà trường hạnh phúc”, “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.

Đặt vấn đề về GDBB ở Việt Nam thời điểm này là vô cùng cần thiết, bởi chúng ta đã trải qua hơn 30 năm triển khai Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (1991) và năm thứ năm triển khai quy định giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc (Luật Giáo dục năm 2019).

Hơn thế nữa, Don Foster, nhà giáo dục người Anh đưa ra bốn lý do cho sự cần thiết có giáo dục bắt buộc:

- Kinh tế: Nền kinh tế của chúng ta là một nền kinh tế phụ thuộc vào một lực lượng lao động có kiến thức.

- Xã hội: Có liên hệ rõ ràng giữa giáo dục và sự phân hóa xã hội.

- Dân chủ: Quyền công dân được phát huy và thực hiện hiệu quả phụ thuộc vào trình độ dân trí của cử tri.

- Giải pháp của các vấn đề toàn cầu: Những con người có thể đóng góp giải pháp của mình với những vấn đề này vẫn là một nhu cầu cấp thiết.

Chúng ta cần những công dân hữu ích và hạnh phúc.

2. Cơ sở lý thuyết

2.1. Một số thuật ngữ

Giáo dục bắt buộc (Compulsory Education): Đề cập đến một thời kỳ giáo dục bắt buộc của tất cả mọi người và được áp đặt bởi chính phủ, được miễn học phí. GDBB là quá trình thực hiện giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện.

Tùy thuộc vào quốc gia, GDBB có thể diễn ra tại nhà trường công lập, hoặc một trường đã đăng ký hoặc ở nhà. GDBB liên quan đến cả cha mẹ, người bảo trợ theo luật pháp để đảm bảo rằng con cái họ được dạy dỗ, và đặc quyền của mọi đứa trẻ phải là có học thức. Như vậy, GDBB đề cập đến quyền lợi và nghĩa vụ học tập của mỗi con người; đồng thời, đề cập đến trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước, của các bậc làm cha mẹ đối với việc học tập của con em.

Đi học bắt buộc, khác với GDBB điều đó có nghĩa là cha mẹ có nghĩa vụ phải gửi con đến một trường nào đó.

Giáo dục phổ cập (Universal Education): Được hiểu là quá trình thực hiện giáo dục tại các cấp học để mọi công dân trong độ tuổi đều được học tập và đạt đến trình độ học vấn nhất định theo quy định của pháp luật.

Phổ cập giáo dục (PCGD), theo “Từ điển tiếng Việt” được hiểu là việc tổ chức dạy học nhằm nâng cao toàn thể hay một tỷ lệ cao thành viên trong xã hội ở một độ tuổi nhất định, theo đó, mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để thực hiện PCGD và hoàn thành GDBB.

Phổ cập giáo dục được quy định tại khoản 8, Điều 5, Luật Giáo dục năm 2019: PCGD là quá trình tổ chức hoạt động giáo dục để mọi công dân trong độ tuổi đều được học tập và đạt đến trình độ học vấn nhất định theo quy định của pháp luật. Theo Luật Giáo dục 2019, PCGD tại Việt Nam bao gồm phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Như vậy, sự khác biệt giữa PCGD và GDBB là ở tính chất giáo dục, đối với PCGD là thực hiện tại các cơ sở giáo dục và có tính khuyến khích, chưa có chế tài.

2.2. Đối sánh giáo dục bắt buộc ở một số quốc gia trên thế giới

Năm 1948, Liên hợp quốc công bố Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, trong đó, Điều 26 quy định: “Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng (tiểu học) và căn bản (đến THCS). Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập... ”, từ đó, GDBB được triển khai một cách mạnh mẽ hơn ở nhiều nước trên thế giới. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đòi hỏi rằng nguyên tắc GDBB phải là miễn phí cho tất cả mọi người trong một số năm hợp lý.

Giáo dục bắt buộc là xu hướng chung của thế giới. Tất cả các nước châu Âu áp dụng GDBB từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hầu hết các nước thực hiện GDBB từ 9 năm trở lên. Trong đó, nhiều nước như Anh, Ba Lan, Hà Lan, Pháp… GDBB 12 năm (từ 6 đến 18 tuổi). Ở Anh, Luật Giáo dục tiểu học năm 1870 mở đường bằng việc thành lập hội đồng giáo dục nhằm để thiết lập trường học ở những nơi chưa có trường. Trẻ em tham gia vào chương trình giáo dục bắt buộc đến 10 tuổi vào năm 1880. Đến nay, Luật Giáo dục năm 1996 của Anh quy định nghĩa vụ của phụ huynh đảm bảo cho con em đi học theo toàn thời gian từ 5 đến 16 tuổi. Luật này còn cho phép “hình thức giáo dục khác” ngoài trường học, như giáo dục tại gia (homeschooling) và đến năm 2013, GDBB ở Anh tăng lên đến 18 tuổi.

Hà Lan là một trong những quốc gia giàu có nhất châu Âu, trẻ em bắt buộc đi học từ khi 5 tuổi và phải tham dự giáo dục toàn thời gian cho đến khi đủ 16 tuổi. Tuy nhiên, GDBB vẫn áp dụng cho những học sinh tuổi dưới 18 khi mà người đó chưa đạt trình độ học vấn tối thiểu, ít nhất là một bằng HAVO, VWO để có điều kiện tham gia vào giáo dục nghề nghiệp.

Ba Lan là một quốc gia triển khai GDBB khá sớm, Hiến pháp Ba Lan năm 1997, Điều 70 quy định: (1) Mỗi người có quyền học tập. Việc học tập đến 18 tuổi là bắt buộc. Phương pháp thực hiện nghĩa vụ nhà trường do luật định; (2) Học tập trong các trường công là miễn phí.

Ở Mỹ, giáo dục công chủ yếu do chính phủ liên bang, tiểu bang, và địa phương điều hành và cung cấp tài chính. Giáo dục công có tính chất bắt buộc ở cấp tiểu học và trung học. Độ tuổi bắt buộc đi học ở Mỹ thay đổi tùy theo bang. Hầu hết trẻ em bắt đầu chương trình giáo dục tiểu học sau khi học xong mẫu giáo (thường là 5 hoặc 6 tuổi) và hoàn thành chương trình giáo dục trung học sau khi học xong lớp 12 (thường vào lúc 18 tuổi). Theo luật định, việc đến trường là bắt buộc và kết thúc ở độ tuổi 16 đối với 30 bang, ở độ tuổi 17 với 9 bang và ở độ tuổi 18 với 11 bang cùng với hạt Columbia. Khi hết độ tuổi bắt buộc, học sinh có quyền nghỉ học, nếu có sự đồng ý của cha mẹ. Mỹ thực hiện GDBB 9 năm trở lên ở tất cả các bang, trong đó, nhiều bang đã thực hiện miễn học phí hoàn toàn cho đến cấp THPT.

Nhật Bản là nước châu Á áp dụng GDBB sớm nhất, GDBB đối với giáo dục tiểu học được thành lập không lâu sau cuộc cải cách Minh Trị năm 1868. Ban đầu, GDBB bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hệ thống giáo dục nước Phổ. Sau thế chiến thứ hai, nó được tái xây dựng ở mức độ lớn, và nền giáo dục mới hiện đại được ảnh hưởng rộng rãi bởi mô hình giáo dục Hoa Kỳ. Luật Giáo dục cơ bản năm 1947 của Nhật Bản quy định GDBB 9 năm. Cùng với việc thành lập Bộ Giáo dục năm 1871, nhà nước Nhật Bản đã sớm có chính sách phát triển hệ thống giáo dục tiểu học bắt buộc và bình đẳng với tất cả trẻ em bắt đầu từ 6 tuổi. Chính sách GDBB cũng được thực thi và điều chỉnh theo từng giai đoạn thích hợp. Số năm bắt buộc được nâng dần từ 3 - 4 năm (năm 1886) lên 6 năm (năm 1908). Nhờ vậy, tỷ lệ trẻ em đến trường tiểu học tăng mạnh giai đoạn từ 1890 đến 1900, đạt tới 97% năm 1910 và 100% những năm sau đó. Nhờ GDBB mà ngay từ đầu thế kỷ 20, nước Nhật sớm hoàn thành PCGD tiểu học, một thành tựu giáo dục cơ bản mà ở thời đó chưa có mấy nước thực hiện được. Hiến pháp mới của Nhật Bản ra đời năm 1946, trong đó có quy định GDBB 9 năm (6 năm tiểu học và 3 năm THCS). GDBB miễn phí và bình đẳng về cơ hội giáo dục với mọi người được quy định tại Luật Cơ bản về giáo dục năm 1947. Chính sách này tạo cơ sở cho Nhật Bản sớm hoàn thành PCGD THCS vào những năm 1950 và phổ cập THPT những năm 1970. Đây chính là một trong những nền tảng cơ bản tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần rất lớn đưa Nhật Bản trở thành một cường quốc về kinh tế.

Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đều thực hiện GDBB 9 năm trở lên, trong đó Cu Ba và Triều Tiên dù chưa phát triển, còn khó khăn hơn Việt Nam nhưng đã thực hiện GDBB 12 năm.

GDBB ở Trung Quốc: Là quốc gia có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, nhưng đời sống của nhân dân ở các vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa của Trung Quốc vẫn còn khó khăn, làm hạn chế việc đi học của người dân. Vì vậy, để nâng cao sự công bằng trong cơ hội tiếp cận giáo dục cho người dân, Trung Quốc đã ban hành Luật GDBB 9 năm vào năm 1986 (8 năm sau đổi mới), trong Luật này quy định miễn phí cho học sinh THCS; và các doanh nghiệp không được thuê lao động chưa có trình độ bậc học này. Tuy nhiên, Trung Quốc không phải thực hiện miễn phí THCS ngay một lúc mà từng bước, nơi thuận lợi làm trước, nơi khó khăn làm sau. Luật GDBB đã chia đất nước Trung Quốc thành 3 nhóm đối tượng: (1) 3 thành phố và các vùng phát triển về kinh tế ở các tỉnh ven biển và một số ít các vùng phát triển khác; (2) các thị trấn, thị xã và vùng phát triển ở mức trung bình; (3) các vùng còn tụt hậu về kinh tế. Tiến độ và phương thức triển khai khác nhau cho từng nhóm đối tượng. Nhóm thứ ba, gồm các vùng nông thôn chậm phát triển kinh tế (khoảng 25% dân số), sẽ được phổ cập giáo dục không theo mốc thời gian ấn định và ở các mức độ khác nhau tùy theo tình hình phát triển kinh tế ở địa phương. Trong quá trình đó, Trung Quốc lập Quỹ hỗ trợ GDBB 9 năm cho các vùng khó khăn, nhờ vậy, đến năm 2006, nước này thực hiện miễn phí THCS 100% trên phạm vi toàn quốc. GDBB 9 năm được cho là thành công. Nền GDBB mang những ảnh hưởng to lớn về những phương diện khác nhau của đời sống người dân. Số lượng sinh viên trở nên lớn hơn và tỷ lệ số người bỏ học giảm nhiều, kể cả khu vực nông thôn. Mục đích của việc thành lập GDBB ở Trung Quốc là hướng đến “phổ cập đại học”, cân bằng giáo dục giữa thành thị và nông thôn. Tuy nhiên GDBB 9 năm vẫn còn nhiều vấn đề cần được cải thiện. Hầu hết sinh viên bỏ học, rời trường học bởi vì không đủ khả năng chi trả học phí, do đó, cải tiến GDBB của Trung Quốc vẫn là cần thiết trong xã hội hiện đại.

Giáo dục bắt buộc ở Singapore: Trước năm 1999, Singapore gần như đã phổ cập hoàn toàn giáo dục tiểu học và trung học nhưng vẫn có một tỷ lệ nhỏ trẻ em không được học trường công lập. Chính phủ lo ngại các trẻ em đó không được trang bị những kỹ năng và kiến thức cần thiết để có thể trở thành những công dân có năng lực trong một nền kinh tế tri thức. Do đó, Ủy ban Giáo dục Phổ cập Singapore (CCES) được thành lập năm 1999 để xem xét việc PCGD. Sau đó, Luật GDBB đã được thông qua bởi Quốc hội ngày 09/10/2000 và được phê duyệt vào ngày 16/10/2000. Theo Luật này, độ tuổi giáo dục phổ cập là trẻ em từ 6 đến 15 tuổi. Nếu một trẻ không là học sinh chính quy của một trường tiểu học công lập hoặc một trường được chỉ định (hoặc được phép học ở nhà) thì phụ huynh hoặc người giám hộ của trẻ đó có thể xem là vi phạm Luật GDBB. Người bị kết án về hành vi phạm luật GDBB bị phạt tiền không quá 5.000 đô la, hoặc phạt tù có thời hạn không quá 12 tháng, hoặc cả hai.

Ngoài Singapore, các nước khác ở Đông Nam Á Philippines áp dụng GDBB 10 năm, Indonesia, Thailand và Campuchia áp dụng GDBB 9 năm; trong đó, Indonesia đang áp dụng thí điểm GDBB 12 năm tại thủ đô Jakarta; Malaysia áp dụng GDBB 6 năm.

3. Cơ sở khoa học và pháp lý của giáo dục bắt buộc ở Việt Nam

Chính sách về giáo dục bắt buộc phải được nghiên cứu dựa trên những cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý và thực tiễn phát triển giáo dục Việt Nam. Nhận diện tiến trình phát triển của giáo dục Việt Nam đương đại, các nhà hoạch định chính sách sẽ có căn cứ xác định các nhiệm vụ đối với giáo dục Việt Nam nói chung, trong đó có GDBB nói riêng.

Ngày 04/11/2013, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đây thực chất là cuộc chấn hưng giáo dục, hiện đại hóa giáo dục. Có những nhà nghiên cứu gọi cuộc đổi mới này là thực hiện tam hóa giáo dục:

- Hiện đại hóa tinh hoa tư tưởng giáo dục của tiền nhân cho đến ngày hôm nay.

- Việt Nam hóa các giá trị giáo dục tiên tiến của thời đại vào tiến trình giáo dục.

- Lành mạnh hóa đời sống thực tiễn của giáo dục với mục tiêu: “Dạy ra dạy - Học ra học”, “Trường ra trường - Lớp ra lớp”, “Thầy ra thầy - Trò ra trò” như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng có huấn đức.

3.1. Năm thời kỳ của giáo dục Việt Nam đương đại

Giáo dục ngày nay được hiểu không chỉ có giáo dục nhà trường mà còn có giáo dục gia đình, giáo dục xã hội. Theo nghĩa này, giáo dục Việt đã trải qua năm thời kỳ: Giáo dục thời Văn Lang

- Âu Lạc; Giáo dục thời tiếp biến văn hóa Hán; Giáo dục thời Việt - Nho; Giáo dục thời tiếp biến văn hóa Pháp; Giáo dục thời hiện đại.

Có hai thời kỳ tạo nên nền giáo dục đương đại: (i) Thời Việt - Nho (939 - 1864) với các khai minh của Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Quang Trung… đã góp phần làm nên sức mạnh văn hóa Việt; khẳng định quyết liệt: “Sơn hà cương vực đã chia/Phong tục Bắc Nam cũng khác”. (ii) Thời giáo dục đương đại (từ 02/9/1945)… với sự tiếp thu lý tưởng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, và nhận thức minh triết “Khai dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh” của Phan Chu Trinh. Thời kỳ này, các nhà khai phóng Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đã kiến tạo quốc học toàn diện có cả quốc văn, quốc ngữ, làm nên quốc sử hiển hách đánh bại mọi âm mưu của kẻ thù hung bạo.

3.2. Ba lần đổi mới/cải cách giáo dục Việt Nam đương đại

3.2.1. Đổi mới giáo dục lần thứ nhất: Chuyển giáo dục thực dân phong kiến sang giáo dục dân tộc, dân chủ

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ trình bày Đường lối nội chính. Về giáo dục, ông khẳng định: “Nền giáo dục đang ở thời kỳ tổ chức, chắc chắn là bậc sơ học sẽ cưỡng bách, bậc trung học không có học phí, học trò nghèo sẽ được cấp học bổng. Việc giảng dạy hết sức thiết thực, sẽ đặc biệt chú trọng đến sự rèn luyện đức tính cần thiết trong cuộc đời đoàn thể rộng rãi và năng lực kỹ thuật cần lao của con người”.

Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (03/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: “Mở chiến dịch chống giặc dốt”. Ngày 08/9/1945 (chưa đầy một tuần sau ngày Tuyên ngôn Độc lập), Chính phủ ký 4 sắc lệnh về giáo dục:

- Sắc lệnh số 16/SL đặt ra ngành Thanh tra giáo dục, cử ông Đặng Thai Mai làm Thanh tra Giáo dục trung học, ông Nguyễn Hữu Tảo làm Thanh tra Giáo dục tiểu học.

- Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ.

- Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng, làng nào thị trấn nào cũng phải có lớp bình dân học vụ.

- Sắc lệnh số 20/SL cưỡng bức học chữ quốc ngữ, với thời hạn một năm, tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.

Khai trường năm học 1945 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi học sinh Việt Nam khẳng định quyết tâm của chính quyền mới, xây dựng nền giáo dục để đào tạo học sinh Việt Nam thành những người công dân hữu ích, nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của học sinh Việt Nam.

Ngày 10/8/1946, Chính phủ ký Sắc lệnh số 146/SL về việc đặt những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới. Sắc lệnh này quy định nền giáo dục bao gồm: Bậc học cơ bản 4 năm, bậc học tổng quát và chuyên nghiệp, bậc đại học. Cùng ngày, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 147/SL quy định bậc học cơ bản không phải trả tiền, các môn học dạy học bằng tiếng Việt…

Kháng chiến toàn quốc (19/12/1946) làm gián đoạn một số mục tiêu chung, nhưng ở vùng tự do, chính quyền cách mạng điều hành nền giáo dục mới tiếp tục phát triển bình dân học vụ, bậc học phổ thông và đại học. Từng có những hình ảnh hào hùng của thời kỳ này: “Có những mái trường xưa/Vừa chống càn vừa học/Giặc lui trong phút chốc/Thầy trò lại ngâm thơ”.

Năm 1950, ở vùng tự do, tiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất xác định mục tiêu đào tạo con người lấy hệ giá trị “Nhân - Nghĩa - Trí - Dũng - Liêm” là các giá trị cốt lõi của nhân cách.

Thành quả của cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất đã thúc đẩy giáo dục góp phần xứng đáng vào Chiến thắng Điện Biên Phủ (tháng 5/1954), chấm dứt sự cai trị của thực dân Pháp.

Năm 1956, miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, có mục tiêu xây dựng nhà trường lao động với nguyên lý giáo dục:

“Học đi với lao động

Lý luận đi với thực hành. Cần cù đi với tiết kiệm.”

Thành quả của cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai là đào tạo lớp người góp phần xứng đáng vào chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh chống sự xâm lược của Mỹ, tái thống nhất đất nước (30/4/1975).

Ba tượng đài anh hùng giáo dục mà các cuộc cải cách giáo dục đã kiến tạo được, gồm:

- Trường cấp 2 Bắc Lý với minh triết giáo dục “Tất cả vì học sinh thân yêu”.

- Trường Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình với sự tổ chức có hiệu quả “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”.

- Trường học xã Cẩm Bình đề ra phương thức giáo dục cho mọi người và huy động sức mạnh của xã hội cho phát triển giáo dục. (Education for All/EFA ~ All for Education/AFE).

Cải cách giáo dục lần thứ ba tiến hành vào năm 1979. Ngày 30/4/1975, Sài Gòn giải phóng, tuy nhiên, phải qua 4 năm mới thực hiện sự hợp nhất hệ thống giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hệ thống giáo dục ở miền Nam có từ trước 30/4/1975 thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, bao quát 5 ngành học:

- Giáo dục nhà trẻ mẫu giáo (ngày nay là giáo dục mầm non);

- Giáo dục phổ thông;

- Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp;

- Giáo dục đại học;

- Giáo dục bổ túc - tại chức (ngày nay là giáo dục thường xuyên).

3.2.2. Đổi mới giáo dục lần thứ hai: Chuyển giáo dục từ chỗ chi phối bởi kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Quảng cáo

Từ tháng 12/1986: Chuyển động thái giáo dục từ sự chi phối bởi kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa để phát triển giáo dục rộng khắp tiến đến xã hội học tập.

Tháng 12/1986, đất nước có sự điều chỉnh chiến lược đặt ra mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngày 21/8/1987, ngành Giáo dục có sự chuyển hướng theo tổng lộ tuyến này. Nhà nước có chủ trương tái lập trường ngoài công lập (1989).

Tháng 4/1990 Chính phủ thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở hợp nhất hai bộ: Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Bộ Giáo dục.

Ngành giáo dục đào tạo từ 1990 có các giải pháp thúc đẩy sự nghiệp giáo dục quốc dân thích ứng đường lối đổi mới, định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sau thời điểm này, đất nước tiến hành các kế hoạch và chiến lược theo tinh thần PPP (Public - Private Partnership): Công tư cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp phát triển giáo dục.

Từ năm 1990, đặc biệt từ sau khi Việt Nam tham gia WTO, hệ thống trường tư thục được phát triển mạnh mẽ tại các thành phố lớn. Hiện nay, đã hình thành một số nhân tố có tính “Tập đoàn giáo dục” phát triển nhà trường liên cấp từ mầm non đến đại học. Nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư đáng kể vào việc xây dựng các trường chất lượng cao, trường theo tiêu chí “trường học hạnh phúc”.

3.2.3. Đổi mới giáo dục lần thứ ba: Từ bỏ giáo dục “Quyền uy - Kiêu ngạo - Tư duy đồng phục” tiến đến giáo dục “Hợp tác - Nhân văn - Sáng tạo”

Hai lần đổi mới giáo dục trên dù mang lại nhiều thành tựu; song, ở một số nơi, một số nhà trường, tư tưởng sư phạm quyền uy ban ơn vẫn còn nặng nề. Minh triết giáo dục “tất cả vì học sinh thân yêu” chưa thực sự thấm sâu vào quá trình dạy học.

Ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết này xác định đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết từ tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung phương pháp, cơ chế, chính sách…

Một số nhà nghiên cứu coi đây là “đổi mới trạng thái văn hóa của giáo dục”, kiến tạo được nền giáo dục tiến tới tính toàn vẹn theo mục tiêu: “Giáo dục của dân, do dân, vì dân”.

Bác Hồ từng đề cập trong Di chúc (1969) “Đầu tiên là công việc với con người”, giáo dục phải hướng vào hạnh phúc của con người.

Sự phát triển giáo dục phải đặt trên phương châm: “Phát triển nhân văn” (Human Development). Đó là sự phát triển không ngừng đáp ứng nhu cầu của con người, nâng cao năng lực lựa chọn của con người và mở rộng cơ hội lựa chọn cho con người.

4. Con đường phía trước của giáo dục Việt Nam đương đại

4.1. Vô luận hoàn cảnh nào, giáo dục phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế song là sự tăng trưởng quán triệt năm yêu cầu cốt lõi

Giáo dục ngày nay vô luận hoàn cảnh nào cũng phải vừa là mục tiêu vừa là động lực của kinh tế, tác động vào quá trình kinh tế giúp cho kinh tế có sự tăng trưởng GDP song đó là sự tăng trưởng quán triệt 5 yêu cầu sau:

- Tăng trưởng không mất việc làm;

- Tăng trưởng không mất tiếng nói;

- Tăng trưởng không mất lương tâm;

- Tăng trưởng không mất gốc rễ;

- Tăng trưởng không mất tương lai.

Nhà trường ở mỗi cộng đồng phấn đấu là vầng trán khai minh trí tuệ nhân dân cộng đồng, là trái tim hòa hợp nhân tâm cộng đồng, là đôi tay dẫn dắt cộng đồng đi tới các tiến bộ mới.

Người thầy trong mỗi nhà trường phấn đấu hoàn thành ba sứ mệnh: Người truyền đạo - Người giải hoặc - Người thụ nghiệp; thực hiện được năm nhiệm vụ: Dạy kiến thức - Phương pháp - Động cơ - Truyền cảm hứng - Khơi dậy hoài bão cho trò.

4.2. Giáo dục Việt Nam đương đại phấn đấu giúp cho “dân giàu”, làm cho “dân vui”, khích lệ cho “dân tin” hăng hái thực hiện “lẽ sống mới”

80 năm phát triển giáo dục của kỷ nguyên mới cho thấy:

Ở Việt Nam ngày nay dù gặp hoàn cảnh nào, nan đề gì, nút thắt gì, điểm nghẽn gì thì giáo dục đều hướng đến mục tiêu: Phục vụ cho sự nghiệp vì nhân dân, làm cho dân giàu, dân vui, dân tin hăng hái theo lẽ sống mới làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù muốn phá hoại hòa bình, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của đất nước.

Kinh tế đất nước ngày nay dù còn nhiều khó khăn song cố gắng cung ứng các điều kiện để mọi công dân được đi học, học hết bậc phổ cập có tính bắt buộc, có cơ hội phát triển tài năng.

Hiện nay, dân số Việt Nam là trên 90 triệu người thì số người đi học từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học là trên 23 triệu (trên 1/4 dân số).

Phường xã nào cũng có trường mầm non, trường tiểu học, trường THCS; cho đến trước tháng 7 năm 2025, quận huyện nào cũng có trường THPT; tỉnh thành nào cũng có trường cao đẳng, một số tỉnh/thành có trường đại học địa phương.

Hệ thống trường chuyên ở bậc THPT có mặt tại nhiều tỉnh/thành trên toàn quốc và gắn vào nhiều trường đại học.

Chi cho giáo dục từ ngân sách nhà nước chiếm tới 20% tổng chi ngân sách (bằng khoảng 5% GDP). Tuy nhiên, gia đình Việt Nam nào cũng có tâm niệm “con hơn cha là nhà có phúc” nên không tiếc công, tiếc của cho sự tiến bộ của con em. Nếu tính cả chi phí của nhà nước và các gia đình cho việc học tập thì con số không dừng lại ở 5% GDP mà có thể gấp tới hơn 2 lần mức đã công bố.

“Lẽ sống mới” của người Việt trong cuộc sống hôm nay là lẽ sống thực hiện được “Cần - Kiệm, Liêm - Chính” chống được lười biếng, tham nhũng, phù hoa, xa xỉ, lấy hệ giá trị “Nhân – Nghĩa - Trí - Dũng - Liêm” trong tư duy và hành động, biết tự trọng, tự tin có hoài bão làm được việc tốt cho đất nước. Lẽ sống này phải là nền tảng để mỗi nhà trường, gia đình, cộng đồng bồi dưỡng cho con em “Tu thân tích cực”, “Xử thế sáng khôn”, “Dưỡng sinh hiệu quả”. Lẽ sống này là mục tiêu, là nội dung của chương trình giáo dục bắt buộc ngõ hầu thực hiện GDBB thành công, hiệu quả.

4.3. Các nhà trường thấm nhuần tâm nguyện/huấn đức của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu toàn Đảng, toàn xã hội quan tâm đến giáo dục:

“Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó.

Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và Nhân dân ta; do đó, các ngành, các cấp Đảng và chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới” (Hồ Chí Minh - Thư gửi ngành Giáo dục năm 1968).

Nhà văn hóa Phạm Văn Đồng huấn thị cho các địa phương thực hiện (năm 1980, khi ông đang giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Cải cách Giáo dục Trung ương):

“Trường ra trường, lớp ra lớp; Thầy ra thầy, trò ra trò; Dạy ra dạy, học ra học”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp xác định sứ mệnh của giáo dục: “Giáo dục là mục đích cuộc sống, vì con người không chỉ có sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mà còn có sứ mệnh tạo ra những giá trị văn hóa, đạo đức, thể mỹ và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội” (Tâm thư gửi Bộ Chính trị, năm 2009).

Có thể khẳng định rằng, quan điểm GDBB ở cấp sơ học và tiểu học đã được nêu ra và khẳng định liên tục tại Hiến pháp của Việt Nam, các Luật Giáo dục và văn bản dưới luật.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập và Chính phủ nhanh chóng ban hành các sắc lệnh làm cơ sở pháp lý cho giáo dục phát triển. Ngày 08/9/1945, Sắc lệnh số 20-SL nêu rõ: “Trong khi chờ đợi lập được nền tiểu học cưỡng bách, việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền đối với tất cả mọi người”.

Sau đó, các Sắc lệnh số 146-SL và 147-SL được ban hành năm 1946. Nội dung của hai sắc lệnh này đề cập đến các vấn để cơ bản của giáo dục, đó là: (1) Khẳng định tôn chỉ mục đích của nền giáo dục nước nhà là phụng sự quốc gia và dân chủ; ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục là dân tộc, khoa học và đại chúng; (2) Tất cả trẻ em từ 7 - 13 tuổi đều có thể đến trường không phải trả tiền học và từ năm 1950, tiểu học sẽ là bậc học cưỡng bách.

Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, ở Điều 15, quy định: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo dược Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước”; Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959, Điều 33 đã khẳng định: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyền học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách...”; Hiến pháp Việt Nam năm 1980, Điều 60 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục phổ thông bắt buộc, thực hiện chế độ học không phải trả tiên và chính sách cấp học bổng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân học tập”.

Luật Giáo dục năm 2019 của Việt Nam quy định rõ: Giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc. Điều 14 Luật Giáo dục 2019 quy định:

1. Giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc. Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

2. Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện GDBB trong cả nước, quyết định kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục.

3. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để thực hiện PCGD và hoàn thành GDBB.

4. Gia đình, người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để thực hiện PCGD và hoàn thành GDBB.

Giáo dục tiểu học là GDBB, tức là đến 06 tuổi mọi trẻ em không phân biệt giàu, nghèo, giới tính, hoàn cảnh… đều phải đến trường và học chương trình GDTH.

Theo đó, nhà nước phải bảo đảm miễn phí và đầu tư đầy đủ các yêu cầu cơ bản cho giáo dục bắt buộc. Việc xã hội hóa giáo dục cần có cơ chế rõ ràng để khuyến khích, nhưng phải bảo đảm nguyên tắc không thương mại hóa giáo dục và cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi. Ngoài ra, nhà nước còn đưa ra chính sách không thu học phí của người học ở các trường công lập cho nhóm đối tượng trẻ em mầm non 5 tuổi, học sinh THCS và đương nhiên với học sinh tiểu học thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của nhà nước đối với GDPC và GDBB. Cụ thể là:

Với chương trình GDBB thì học sinh không phải nộp học phí. Nhà nước bảo đảm các điều kiện cơ bản để thực hiện GDBB, ở địa bàn không đủ trường công lập, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ đóng học phí đối với học sinh của các trường tư thục (Điều 97); Trách nhiệm của gia đình tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập (Điều 88).

Thực hiện GDBB phải có chương trình GDBB. Mục tiêu của chương trình GDBB là phụ thuộc vào mục đích GDBB của quốc gia, phụ thuộc các thời kỳ phát triển khác nhau. GDBB ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào mục tiêu chính trị của đất nước đó và phụ thuộc vào sự phát triển của hệ thống giáo dục của đất nước đó.

Vào đầu thế kỷ 20, mục tiêu GDBB là giúp cho người dân phải thành thạo các kỹ năng thể chất cần thiết có thể đóng góp cho quốc gia và đưa các giá trị về đạo đức, khả năng giao tiếp xã hội vào tâm trí của thanh thiếu niên. Ngày nay GDBB đã được coi là quyền của mọi công dân ở nhiều quốc gia. GDBB chủ yếu được sử dụng để nâng cao chất lượng giáo dục của mọi công dân, giảm thiểu học sinh ngừng đi học vì lý do kinh tế gia đình, và cũng cân bằng giáo dục giữa nông thôn và thành thị. GDBB là cần thiết và quan trọng với mỗi người dân, và có luật pháp nghiêm ngặt về GDBB. Quốc gia càng thịnh vượng thì bậc học GDBB càng cao hơn, và ngược lại GDBB càng ở bậc học cao hơn sẽ làm cho đất nước thịnh vượng.

Thông qua GDBB, có thể thấy, mục tiêu của việc thực hiện chương trình dạy học bắt buộc là cung cấp, trang bị kiến thức, kỹ năng cũng như rèn luyện đạo đức, lối sống, nhân cách cho con người để hòa nhập với cộng đồng của mình. Theo đó, căn bản về mục tiêu giáo dục tương ứng với mỗi thời đại nhất định trong quá trình phát triển xã hội, bao gồm hệ thống các yêu cầu xã hội cụ thể, các chuẩn mực của một hình mẫu nhân cách cần hình thành ở một người được giáo dục nhất định. Đối với các giai đoạn phát triển xã hội, mục tiêu giáo dục cũng có nhiều thay đổi nên việc giáo dục bắt buộc sẽ giúp cho đất nước phát triển và văn minh hơn.

Người giám hộ có thể là cha mẹ, anh chị ruột, ông bà có trách nhiệm tạo điều kiện để con em trong gia đình được học tập, được đến trường thực hiện PCGD và hoàn thành chương trình giáo dục Tiểu học. Trên thực tế, còn có trẻ em vùng miền núi, hải đảo khó khăn chưa tốt nghiệp GDTH.

Tiến tới ban hành Luật GDBB: Hầu hết các nước chia GDPT làm 2 giai đoạn: Giáo dục cơ bản (tiểu học và THCS) và giáo dục phân hóa, định hướng nghề nghiệp (THPT). Giai đoạn giáo dục cơ bản là GDBB và quy định chung trong Luật Giáo dục hoặc quy định thành luật riêng.

GDBB khác với GDPC mà nước ta đang áp dụng hiện nay, đó là GDBB quy định mọi người dân trong độ tuổi bắt buộc có quyền và nghĩa vụ đi học. Bản thân học sinh và gia đình nếu có điều kiện mà không đi học là vi phạm luật, sẽ bị phạt tiền hoặc thậm chí có thể bị phạt tù. Trong trường hợp người dân không có đủ điều kiện để đi học thì nhà nước hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ để người dân đó được đi học, ít nhất đạt trình độ GDBB.

Nâng cao trình độ tối thiểu cho người dân không phải vì thành tích của một địa phương hay quốc gia đạt phổ cập bậc học này hay bậc học khác, mà quan trọng hơn là giúp cho người dân nâng cao trình độ học vấn của mình, từ đó theo học một hoặc vài ngành nghề nào đó, giúp họ tìm được việc làm, nuôi sống bản thân và gia đình, cao hơn là đóng góp cho cộng đồng, xã hội. Đây chính là ý nghĩa sâu xa, rất nhân văn mà GDBB và miễn học phí hướng tới, và dẫn đến tư duy mới: đi học là quyền lợi, là nghĩa vụ để phát triển bản thân, phát triển cộng đồng và quốc gia.

Việt Nam sau gần 40 năm đổi mới, thực hiện Luật Phổ cập giáo dục tiểu học nhưng vẫn chưa ban hành Luật GDBB thành luật riêng là quá chậm, cần xác định nút thắt và tháo gỡ. Qua những năm tháng triển khai GDBB bậc tiểu học, Việt Nam cũng đã có những kinh nghiệm nhất định. GDBB của Việt Nam cần quan tâm một số vấn đề sau:

Thứ nhất, để triển khai GDBB, khó khăn lớn nhất là về tài chính. Việt Nam có tỷ lệ đầu tư cho giáo dục so với GDP là khoảng 5% (đứng thứ hai Đông Nam Á, sau 7,6% của Thái Lan), chi cho giáo dục trong tổng chi ngân sách nhà nước đạt xấp xỉ 20%. Tuy vậy, cần nghiên cứu có số liệu cụ thể chi cho từng cấp bậc học, chi cho GDBB là bao nhiêu, nếu không, với những số liệu công bố như vậy khó tăng thêm để thực hiện GDBB.

Thứ hai, nhà nước cần phân loại, chia thành các nhóm đối tượng theo vùng khu vực phát triển kinh tế để thực hiện chính sách miễn học phí, nơi phát triển thuận lợi làm trước, nơi khó khăn, chậm phát triển hơn làm sau, làm dần dần có thể miễn học phí một phần rồi tiến đến toàn phần.

Tiến độ và phương thức triển khai khác nhau cho từng nhóm đối tượng. Các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa chậm phát triển kinh tế sẽ được hoàn thành giáo dục bắt buộc không theo mốc thời gian ấn định và ở các mức độ khác nhau tùy theo tình hình phát triển kinh tế ở địa phương. Đồng thời, bên cạnh đó, nhà nước cần lập quỹ hỗ trợ GDBB cho các vùng khó, dựa trên phương thức xã hội hóa, huy động hỗ trợ của các khu vực phát triển cho khu vực chậm phát triển nếu không muốn sự bất công ngày càng lớn giữa vùng phát triển và vùng chậm phát triển.

Thứ ba, thực chất tiền học phí của Việt Nam thu quá thấp không tương xứng với mục tiêu, yêu cầu chương trình giáo dục đề ra. Dù nhà nước thực hiện miễn học phí cho tiểu học nhưng các nhà trường muốn đạt được mục tiêu, yêu cầu của chương trình vẫn huy động đóng góp của gia đình học sinh và của xã hội, điều này làm giảm đi vai trò của nhà nước trong hoàn thành GDBB.

Thứ tư, có thể thấy, thực chất chúng ta vẫn đang thực hiện phổ cập GDTH chưa phải là GDBB. Việt Nam đã miễn học phí cho bậc tiểu học, song GDTH vẫn mang tính vận động, không dùng các biện pháp cưỡng bức, trong trường hợp học sinh/cha mẹ không cho đi học vẫn không bị xử phạt mà chỉ vận động học sinh đó trở lại trường. Vì vậy, hiện nay tất cả các tỉnh thành ở Việt Nam đều đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS nhưng vẫn còn một tỷ lệ khá cao người dân từ 15 tuổi trở lên chưa tốt nghiệp tiểu học.

Do đó, để tiến tới đạt bậc giáo dục THCS là GDBB còn khá nhiều thách thức với Việt Nam.

Trước mắt, cần có các giải pháp quyết liệt hơn để hoàn thành GDBB đối với bậc Tiểu học.

5. Kết luận

Giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, trong đó thì thực hiện giáo dục bắt buộc cũng làm nên sự tiến bộ, tiến hóa của loài người so với các loài động vật khác. Có giáo dục và phát triển giáo dục một cách đồng đều thì con người sẽ có trí tuệ, có thể học những kiến thức, kỹ năng để làm tốt công việc nào đó. Giáo dục bắt buộc không chỉ giúp tạo ra một con người mà còn góp phần đổi mới xã hội thông qua những hoạt động, suy nghĩ của các cá nhân trong đó.

Tóm lại, giáo dục bắt buộc có vai trò giúp một người có thể hòa nhập vào cộng đồng thông qua các mối quan hệ, hoạt động của bản thân, qua công việc làm. Thông qua quá trình giáo dục mà con người có kiến thức, kỹ năng, giúp con người sống có trách nhiệm hơn với bản thân, với gia đình và xã hội. Với thành quả giáo dục của bản thân, con người có khả năng giải quyết vấn đề, có kiến thức, hiểu biết về khoa học - xã hội để thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội tốt nhất.

GDPC và GDBB đều nhằm mục đích để thực hiện quá trình giảng dạy về các kiến thức, kỹ năng và các thói quen giúp hình thành một mẫu người đạt tiêu chuẩn và đáp ứng được yêu cầu của xã hội.

Tài liệu tham khảo

1. Trần Ngọc Thêm (2020), Những vấn đề về triết lý giáo dục Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ray Thomas (Phạm Thị Hương dịch) (2015), “Giáo dục bắt buộc ở Anh trong tương lai”, Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 3/2015.

3. Nguyễn Như Ất (2010), “Liên bang Nga: Xây dựng hệ thống giáo dục phổ thông 11 năm phân ban bậc giáo dục miễn phí”, Tạp chí Giáo dục, số 230.

4. Hồ Sỹ Anh, Phạm Thị Xuân Hương (2016), “Giải pháp chuẩn bị triển khai giáo dục bắt buộc 9 năm sau 2020”, Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 4/2016.

5. Minh Đức (2008), “Đánh giá, nghiệm thu kết quả phổ cập giáo dục bắt buộc ở Trung Quốc”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 39/2008.

6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1993), Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000.

7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1991), Luật Giáo dục phổ cập tiểu học, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 9, thông qua ngày 12/8/1991.

8. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Luật Giáo dục, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2019.