PGS.TS Tô Bá Trượng
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
1. Đặt vấn đề.
Giáo dục nghề nghiệp(GDNN) Việt Nam có lịch sử phát triển rất sớm, gắn liền với sự phát triển của các làng nghề truyền thống, của sản xuất thủ công nghiệp. Hầu như ở bất cứ làng quê nào của đất nước cũng có ít nhất là một nghề. Những dấu ấn của sự học nghề và dạy nghề là nét đặc trung của mỗi làng quê Việt Nam. Trải qua nhiều sự thay đổi, nhưng GDNN đã khẳng định được vai trò của mình trong việc đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Hệ thống GDNN chính thức được luật hóa từ Luật Giáo dục năm 2005 và Luật Dạy nghề năm 2006, tuy nhiên, hệ thống lúc đó còn chưa thống nhất, phân mảnh ở cả các trình độ đào tạo và phạm vi quản lý nhà nước.
Ngày 27 tháng 11 năm 2014, Luật GDNN đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm 2015. Có thể nói, đây là một đạo luật đã thể chế hóa mạnh mẽ chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung, GDNN nói riêng. Luật GDNN có nhiều đổi mới, từ hệ thống GDNN đến tên gọi các cơ sở GDNN; tổ chức quản lý, đào tạo; tuyển sinh; thời gian đào tạo, chương trình đào tạo; kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp; đổi mới chính sách với người học, với nhà giáo, với cơ sở GDNN, với doanh nghiệp. Mới đây, ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã chính thức thông qua “Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi)”, Đây là lần sửa đổi, bổ sung toàn diện đối với Luật GDNN 2014 để tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống pháp luật Việt Nam.nâng cao tính tự chủ của cơ sở GDNN và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDNN.
Những năm qua, công tác GDNN bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức của xã hội, người dân, doanh nghiệp về GDNN đã có những chuyến biến tích cực; số lượng người tham gia vào GDNN ngày càng tăng; tỷ lệ người học sau tốt nghiệp có việc làm cao, thu nhập ổn định, góp phần quan trọng vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2. Một số yếu tố của giáo dục nghề nghiệp
2.1. Mụctiêu của GDNN
Giáo dục ngề nghiệp nhằm đào tạo những người lao động có kỹ năng và kiến thức phù hợp với các ngành nghề sản xuất, đồng thời hình thành được đạo đức và lương tâm nghề, phong cách nghề, đảm bảo người lao động có kỹ năng tìm được việc làm hiệu quả, thậm chí tự tạo cho mình một cơ hội tuyển dụng thích hợp. GDNN có thể áp dụng cho những cá nhân chưa có kỹ năng nghề nghiệp với hình thức đào tạo từ đầu, đồng thời cũng áp dụng cho những người đã có chuyên môn với mục đích nâng cao trình độ, tác phong nghiệp vụ để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
Đào tạo ở trình độ Trung cấp chuyên nghiệp có mục tiêu hình thành cho người lao động những kỹ năng, kiến thức cơ bản nhất đề hành nghề, tạo ý thức làm việc độc lập, kích thích khả năng sáng tạo và kỹ năng ứng dụng công nghệ vào hoạt động nghề nghiệp.
Đào tạo theo hình thức dạy nghề có mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật cao tham gia hiệu quả vào các hoạt động sản xuất và dịch vụ, có thể thực hành nghề thuần thục sau khi sau khi khóa dạy nghề kết thúc.
2.2. Hệ thống GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
Hệ thống GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam (Hình 1), bao gồm: Sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề

Hình 1. Hệ thống GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
2.3. Khung trình độ GDNNQuốc gia Việt Nam.
Theo quy định của Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Khung trình độ GDNN trình độ quốc gia Việt Nam, trong đó có 5 bậc thuộc về các trình độ đào tạo của GDNN (Hình 2)

Hình 2. Các trình độ GDNN trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam
2.4. Các trình độ đào tạo của GDNN
GDNN có ba trình độ đào tạo: Sơ cấp, trung cấp và cao đẳng (Hình 1). Thời gian, văn bằng chứng chỉ đào tạo được mô tả như Bảng 1 dưới đây:

2.5. Lĩnh vực đào tạo của GDNN
GDNN Việt Nam có sự đa dạng, phong phú nhất về các ngành nghề đào tạo, trong hệ thống giáo dục quốc dân. Với khoảng 825 nghề trình độ trung cấp, 559 nghề trình độ cao đẳng ở 21 lĩnh vực, 90 nhóm ngành nghề đào tạo, bao phủ mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, chưa kể đến hàng nghìn các nghề trình độ sơ cấp và chương trình đào tạo ngắn hạn khác.
Ngoài lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ như máy tính, công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật; kiến trúc và xây dựng; sản xuất và chế biến; nông lâm nghiệp thủy sản; môi trường và bảo vệ môi trường…. còn nhiều lĩnh vực khác như bồi dưỡng công chức, viên chức các loại; văn hóa nghệ thuật; ngôn ngữ (tiếng Anh, Đức, Pháp, Nhật…); báo chí thông tin; kinh doanh và quản lý; pháp luật; sức khỏe (y tế); dịch vụ xã hội, dịch vụ vận tải; du lịch khách sạn; an ninh quốc phòng.v.v….
2.6. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Cơ sở GDNN bao gồm: Trung tâm GDNN, trường trung cấp và trường cao đẳng để đào tạo các trình độ của GDNN:
- Trung tâm GDNN: Đào tạo trình độ sơ cấp; dưới sơ cấp.
- Trường trung cấp: Đào tạo các trình độ trung cấp; trình độ sơ cấp
- Trương cao đẳng: Đào tạo các trình độ cao đẳng; trung cấp; sơ cấp.
2.7. Loại hình cơ sở GDNN
Các cơ sở GDNN được hình thành ở 3 loại hình:
- Cơ sở GDNN công lập: Là cơ sở GDNN thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất.
- Cơ sở GDNN Tư thục: Là cơ sở GDNN do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở vật chất.
- Cơ sở GDNN nước ngoài: Là cơ sở GDNN có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở GDNN có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; cơ sở GDNN liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
2.8. Hình thức đào tạo trong GDNN
GDNN được thực hiện theo 2 hình thức: Đào tạo chính quy và Đào tạo thường xuyên:
- Đào tạo chính quy là hình thức đào tạo theo các khóa học tập trung liên tục toàn bộ thời gian ở các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng.
- Đào tạo thường xuyên là hình thức đào tạo vừa làm, vừa học, học từ xa hoặc tự học có hướng dẫn ở các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng, được thực hiện linh hoạt về chương trình, thời gian và phương pháp.
2.9. Chương trình và tổ chức đào tạo.
Theo Luật GDNN, Nhà nước không ban hành chương trình khung mà giao cho các cơ sở GDNN tự chủ xây dựng chương trình đào tạo dựa theo Chuẩn đầu ra của từng nghề do nhà nước ban hành.
Trong tổ chức quản lý đào tạo, ngoài đào tạo theo niên chế (truyền thống) sẽ có thêm 2 phương thức đào tạo mới: Đào tạo theo tích lũy mô đun và đào tạo theo tích lũy tín chỉ. Các cơ sở GDNN có quyền lựa chọn phương thức đào tạo theo điều kiện của từng cơ sở.
Theo phương thức đào tạo này, hệ thống GDNN sẽ là hệ thống mở, linh hoạt, đảm bảo liên thông thuận lợi giữa các cấp trình độ đào tạo trong cùng nghề hoặc với các nghề khác hoặc liên thông lên trình độ cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân; người học được coi là trung tâm của quá trình đào tạo, được học theo năng lực, điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, có thể học nhiều nội dung trong cùng thời gian và được công nhận theo hình thức tích lũy các năng lực; người học có thể học rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân người học.
2.10. Một số chính sách của nhà nước đối với GDNN
* Chính sách với người học
– Chính sách miễn học phí: Người học được miễn học phí nếu thuộc các đối tượng sau:
+ Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng là người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện KT-XH khó khăn và đặc biệt khó khăn; người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa;
+ Người tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS) học tiếp lên trình độ trung cấp;
+ Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu; người học các ngành, nghề chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.
– Chính sách hỗ trợ: Người học được hỗ trợ của nhà nước nếu thuộc các đối tượng sau:
+ Người học là phụ nữ, lao động nông thôn khi tham gia các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo dưới 03 tháng được hỗ trợ chi phí đào tạo theo quy định;
+ Học sinh tốt nghiệp trường THCS dân tộc nội trú, trường THPT dân tộc nội trú, nội trú dân nuôi được tuyển thẳng vào học trường trung cấp, cao đẳng công lập;
+ Người học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật; người học là người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc là người khuyết tật, có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo; học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú khi tham gia chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng được hưởng chính sách nội trú theo quy định.
– Chính sách sử dụng, tôn vinh
+ Người học sau tốt nghiệp được tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang theo quy định; ưu tiên đối với những người có bằng tốt nghiệp loại giỏi trở lên;
+ Được hưởng tiền lương theo thỏa thuận với người sử dụng lao động dựa trên vị trí việc làm, năng lực, hiệu quả làm việc nhưng không được thấp hơn mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu hoặc mức lương khởi điểm đối với công việc hoặc chức danh có yêu cầu trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng theo quy định của pháp luật.
+ Người học tốt nghiệp trình độ cao đẳng, được cấp bằng cao đẳng và công nhận danh hiệu: Cử nhân thực hành hoặc kỹ sư thực hành.
– Chính sách khác đối với người học
+ Trong quá trình học tập nếu người học đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc do ốm đau, tai nạn, thai sản không đủ sức khỏe hoặc gia đình có khó khăn không thể tiếp tục học tập hoặc đi làm thì được bảo lưu kết quả học tập và được trở lại tiếp tục học tập để hoàn thành khóa học. Thời gian được bảo lưu 05 năm;
+ Những kiến thức, kỹ năng mà người học tích lũy được trong quá trình làm việc và kết quả học tập đã tích lũy được trong quá trình học tập ở các trình độ được công nhận và không phải học lại khi tham gia học các chương trình đào tạo khác.
+ Nhà nước có chính sách đào tạo nghề nghiệp cho người lao động để đưa đi làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài. Trường hợp người đang học tập tại cơ sở GDNN mà đi làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài thì được bảo lưu kết quả học tập. Thời gian được bảo lưu 05 năm.
+ Người đạt giải trong các kỳ thi tay nghề quốc gia, thi tay nghề khu vực ASEAN hoặc thi tay nghề quốc tế được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
+ Người đạt một trong các giải nhất, nhì, ba tại các kỳ thi tay nghề quốc gia có bằng tốt nghiệp trung cấp và có bằng tốt nghiệp THPT hoặc đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa THPT theo quy định của pháp luật thì được tuyển thẳng vào trường cao đẳng để học ngành, nghề phù hợp với nghề đã đạt giải.
+ Người đạt một trong các giải nhất, nhì, ba tại các kỳ thi tay nghề khu vực ASEAN và thi tay nghề quốc tế, nếu có bằng tốt nghiệp THPT hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp, đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa THPT theo quy định của pháp luật thì được tuyển thẳng vào trường đại học để học ngành, nghề phù hợp với nghề đã đạt giải.
* Chính sách đối với cơ sở GDNN
Theo Luật GDNN, cơ sở GDNN có thêm một số chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước như:
– Được ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật về thuế; miễn thuế đối với phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực GDNN để lại để đầu tư phát triển;
– Miễn, giảm thuế theo quy định đối với lợi nhuận thu được từ sản phẩm, dịch vụ được tạo ra từ hoạt động đào tạo; ưu đãi về thuế đối với việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phù hợp với hoạt động đào tạo, xuất bản giáo trình, tài liệu dạy học, sản xuất và cung ứng thiết bị đào tạo, nhập khẩu sách, báo, tài liệu, thiết bị đào tạo.
Các cơ sở GDNN không phân biệt công lập hay tư thục, được tham gia đấu thầu, nhận đặt hàng đào tạo của Nhà nước theo quy định của pháp luật về đấu thầu, đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; được vay vốn ưu đãi từ các chương trình, dự án trong nước và nước ngoài; được tham gia chương trình bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý GDNN trong nước và nước ngoài bằng kinh phí từ ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, các cơ sở GDNN được nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm như: Cơ sở GDNN có sử dụng ngân sách nhà nước được quyền quyết định việc huy động vốn, sử dụng vốn, tài sản gắn với nhiệm vụ được giao để mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo; tự chủ, tự chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng tài sản hình thành từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước. Cơ sở GDNN có vốn đầu tư nước ngoài được tự chủ về cơ cấu tổ chức bộ máy. Cơ sở GDNN công lập tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện; được tuyển dụng, sử dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên, tự quyết định số người làm việc và quyết đinh trả lương theo hiệu quả, chất lượng công việc.
* Chính sách với doanh nghiệp khi tham gia hoạt động GDNN
Doanh nghiệp tham gia hoạt động GDNN với vai trò là chủ thể có quyền và trách nhiệm như nhau trong hoạt động GDNN.
Doanh nghiệp được thành lập cơ sở GDNN; được tổ chức đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên; được tham gia vào hội đồng trường cao đẳng, trường trung cấp công lập, hội đồng quản trị trường cao đẳng, trường trung cấp tư thục; được tham gia xây dựng danh mục ngành, nghề đào tạo; xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo; tổ chức giảng dạy, hướng dẫn thực tập, đánh giá kết quả học tập của người học tại các cơ sở GDNN; được phối hợp với các cơ sở hoạt động GDNN để tổ chức đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo thường xuyên; được thực hiện đào tạo theo đặt hàng của cơ sở GDNN, đặt hàng của Nhà nước…. và được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với toàn bộ chi phí cho hoạt động GDNN.
3. Thực trạng hoạt động GDNN hiện nay.
Hiện nay trên cả nước cómột mạng lưới dày đặc các cơ sở GDNN, thế nhưng nguồn lao động có trình độ tay nghề cung ứng cho nhu cầu xã hội vẫn còn thiếu rất nhiều, điều đó đặt ra cho hoạt động GDNN một nhiệm vụ vô cùng to lớn và cũng rất nhiều thách thức. Ngay lúc này đây GDNN cần phải tìm phương án giải quyết và vượt qua,vì thế mà mục tiêu đổi mới GDNN được đặt lên hàng đầu trong sự nghiệp GDNN.
Kể từ năm 2017, Nhà nước đã bắt đầu cho phép tuyển sinh theo Luật GDNN; Triển khai đề án xây dựng trường nghề chất lượng cao, mục tiêu kế hoạch đến năm 2021 sẽ có 45 trường nghề chất lượng cao. Cũng từ năm này nhiều trường đã nhận được chính sách đầu tư, hỗ trợ xây dựng thành trường chất lượng cao. Đội ngũ giáo viên được nâng chuẩn, hệ thống cơ sở vật chất trang thiết bị dạy nghề cũng được đầu tư tăng cườngtheo hướng thiết thực, hiện đại. Các loại trường này đã đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu cho hoạt động đào tạo nghề đáp ứngvới thị trường lao động cũng như nhu cầu những đơn vị sử dụng lao động.
Tuy có nhiều đổi mới, cải tiến nhưng hoạt động GDNN đến nay vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức. Khó khăn đầu tiên ngay trong hoạt động GDNN là khâu tuyển sinh và phân luồng học viên theo các cấp học, hay việc đổi mới nâng cao hiệu quả GDNN, giải quyết nhu cầu tìm việc sau khi tốt nghiệp…
Mặc dù trên thực tế, chúng ta có khá đầy đủ cơ sở dạy nghề trên tất cả các tỉnh/thành trong cả nước thế nhưng thực trạng thiếu lao động có trình độ cao, tay nghề chuyên môn giỏi cung cấp cho các doanh nghiệp không đạt được yêu cầu. Các công ty, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc tuyển dụng lao động, đây cũng là vấn đề đang đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp.
Đứng trước thực trạng này, các ban ngành, đoàn thể chức năng về giáo dục nghề nghiệp của nhà nước đã thực hiện các giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề thiếu lao động tay nghề cao. Trong đó mục tiêu lớn nhất được xác định đó chính là tạo ra những chuyển biến có tính đột phá về mặt chất lượng của khâu đào tạo, kết hợp nâng cao sự cạnh tranh trong nền kinh tế hội nhập và mục tiêu đến 2030 sẽ đạt được 85% lao động học nghề sẽ có việc làm ngay sau khi khóa học và có được mức thu nhập hấp dẫn, ổn định.
Để thực hiện được các mục tiêu trên, GDNN cần phải có những giải pháp trước mắt và lâu dài một cách đồng bộ.
4. Một số giải pháp
4.1. Tạo mối liên kết giữa cơ sở GDNN với nơi cung ứng nguồn tuyển sinh.
Theo thống kê của Nhà nước, đến tháng 3/2018 cả nước có 1.974 cơ sở hoạt động GDNN, bao gồm các trường trung cấp, cao đẳng và nhiều nhất là các Trung tâm GDNN. Trung tâm giáo dục ngoài công lập chiếm 44%, một mạng lưới dày và rộng khắp đã phủ khắp các miền Tổ quốc, từ đó mà tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho người lao động dễ dàng đăng ký tham gia học nghề.
Hoạt động tuyển sinh đã có nhiều chuyển biến tích cực,trong đó nhiều cơ sở GDNN đã xác định việc tuyển sinh chính là nhiệm vụ tiên quyết, nắm giữ và quyết định tới sự phát triển của cơ sở giáo dục nghề nghiệp,nên nhiều cơ sở GDNN việc tuyển sinh đã đạt được kế hoạch đề ra. Trong đó các ngành nghề có nhu cầu tuyển sinh cao nhất trên toàn quốc bao gồm: công nghệ ô tô, điện công nghiệp, quản trị mạng, hàn, công nghệ thông tin đã đạt và vượt chỉ tiêu tuyển sinh.Chất lượng đào tạo đã được cải thiện từng bước,cơ hội tìm kiếm việc làm ngày càng nhiều hơn. Có được những kết quả như vậy là nhờ các cấp quản lý cơ sở GDNN đã nỗ lực trong việc thực hiện các giải pháp thiết thực nhất nhằm thu hút học viên tìm hiểu GDNN và tích cực tham gia vào hệ thống GDNN.
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã phối hợp hiệu quả với hệ thống trường học từ THCS đến THPT để tiến hành tổ chức tuyển sinh, hướng nghiệp cho học sinh và hướng dẫn học sinh tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp.Đẩy mạnh phân luồng, thu hút học sinh tốt nghiệp THCS vào học theo chương trình 9+.Nhờ vậy kết quả đạt được rất khả quan, số học sinh tham gia vào GDNN ngày càng nhiều hơn, số học sinh sau khi tốt nghiệp có thể tìm được việc làm và tự tạo ra việc làm đạt 70% , một số nghề hót còn đạt được 90% tổng số đào tạo và tìm việc làm. Mức lương cũng tương đối khá, khoảng từ 7 đến 10 triệu mỗi tháng.
4.2. Đảy mạnh hoạt động đào tạo nghề chất lượng cao.
Căn cứ vào dự báo của cục việc làm thì tới năm 2021 sẽ có mức cung đạt được 58,3 triệu lao động, con số này tăng lên 62 triệu vào năm 2025. Ngành nghề được xác định sẽ có nhiều lao động nhất chính là nghề chế biến, chế tạo, hoạt động trong ngành dịch vụ, thương mại, kinh doanh bất động sản và du lịch.
Đẩy mạnh hoạt động GDNNchất lượng cao, các nhà quản lý GDNN đã đề ra các nhiệm vụ quan trọng trong GDNN đó là đồng bộ hóa các giải pháp, vừa đổi mới, vừa nâng cao kiểm định chất lượng GDNN, từ đó có thể đáp ứng được nhu cầu thiết yếu nhất trong vấn đề phát triển KT-XH của đất nước.
Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng nhất là các điều kiện về chương trình, giáo trình, về nhà giáo, cán bộ quản lý; về cơ sở vật chất, thiết bị phù hợp với đặc thù Việt Nam và tiếp cận các nước trong ASEAN-4 và các nước phát triển trong nhóm G20; Chuẩn hóa khâu giám sát chất lượng, đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, đổi mới phương pháp giảng dạy cho nhà giáo, cán bộ quản lý GDNN, người dạy tại các doanh nghiệp; Thí điểm đào tạo liên thông từ trung cấp lên cao đẳng đối với học sinh tốt nghiệp THCS; Đẩy mạnh việc thành lập các trung tâm kiểm định và hoạt động kiểm định chất lượng GDNN; đàm phán, công nhận văn bằng, chứng chỉ, kỹ năng nghề giữa Việt Nam và các nước...
Tập trung nguồn lực đầu tư cho một số cơ sở GDNN chất lượng cao, ngành, nghề trọng điểm đã được quy hoạch theo các cấp độ (quốc tế, khu vực ASEAN và quốc gia) và các cơ sở GDNN chuyên ngành, các nhóm đối tượng đặc thù. Khuyến khích thành lập mới cơ sở GDNN tư thục, cơ sở GDNN của doanh nghiệp và có vốn đầu tư nước ngoài.
4.3. Đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về GDNN.
Tập trung hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về GDNN; xây dựng các chiến lược, chương trình, đề án phát triển GDNN; Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về GDNN; thúc đẩy xã hội hóa GDNN. Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, hướng nghiệp, phân luồng để tăng quy mô tuyển sinh; chú trọng đào tạo cập nhật bổ sung kiến thức kỹ năng nghề cho người lao động đáp ứng yêu cầu tăng năng suất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN, theo đó rà soát, sắp xếp cơ sở GDNN theo hướng chuẩn hóa, giảm đầu mối, và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động; Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN theo hướng mở, bảo đảm quy mô, cơ cấu, hợp lý về ngành, nghề, trình độ đào tạo (đa ngành, chuyên ngành), vùng miền, chuẩn hóa, hiện đại hóa, có phân tầng chất lượng. Sáp nhập hoặc giải thể các cơ sở GDNN yếu kém, hoạt động không hiệu quả, không đủ năng lực triển khai tự chủ; từng bước sáp nhập trường trung cấp công lập vào trường cao đẳng; sáp nhập trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trung tâm GDNN thành một cơ sở GDNN trên địa bàn và hợp tác chặt chẽ với các trường cao đẳng, trung cấp để tổ chức đào tạo. Tập trung nguồn lực đầu tư một số trường chất lượng cao, ngành, nghề trọng điểm; khuyến khích phát triển các cơ sở ngoài công lập; phát triển mạnh mẽ các mô hình đào tạo nghề trong doanh nghiệp; hợp tác với doanh nghiệp để đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN.
Thực hiện tự chủ toàn diện; chuyển đổi hoạt động của các cơ sở GDNN công lập đủ điều kiện sang cơ chế tự chủ, đi đôi với trách nhiệm giải trình, tăng cường sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước và xã hội. Đối với các cơ sở GDNN đang hoạt động có hiệu quả, có khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm thì tiếp tục triển khai thực hiện đào tạo theo quy định hiện hành sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN thời kỳ 2021 -2030.
4.4. Tăng cường gắn kết GDNN với doanh nghiệp, các cơ sở sử dụng người lao và thị trường lao động.
Phát huy vai trò của các đơn vị sử dụng lao động, người sử dụng lao động, hiệp hội nghề nghiệp trong đổi mới, nâng cao chất lượng GDNN. Hình thành mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ sở GDNN và các Trung tâm dịch vụ việc làm, sàn giao dịch việc làm, hội chợ việc làm nhằm hỗ trợ người học tìm việc làm sau tốt nghiệp. Chú trọng phát triển tinh thần khởi nghiệp trong GDNN. Thí điểm thành lập các hội đồng kỹ năng ngành trong một số lĩnh vực ưu tiên; xây dựng mô hình hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực GDNN.
Tăng cường gắn kết GDNN với thị trường lao động và việc làm bền vững và tăng cường sự tham gia của hiệp hội nghề nghiệp, doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động trong hoạt động GDNN. Nâng cao chất lượng hoạt động dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu việc làm và nhu cầu đào tạo theo lĩnh vực, ngành nghề, cấp trình độ đào tạo; trao quyền tự chủ cho các cơ sở GDNN gắn với trách nhiệm, đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước, giám sát của xã hội; hình thành cơ sở dữ liệu về cung cầu thị trường lao động.
4.5. Đấy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý nhà nước về giáo dục nghê nghiệp.
Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về GDNN theo hướng hiện đại. Xây dựng cơ chế để người học và người sử dụng lao động tham gia chủ động vào đánh giá chất lượng đào tạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trong GDNN. Thúc đẩy xã hội hóa GDNN, xây dựng xã hội học tập; đẩy mạnh hình thức vừa làm, vừa học của người lao động trong các doanh nghiệp.Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, hướng nghiệp, phân luồng để tăng quy mô tuyển sinh; chú trọng đào tạo cập nhật bổ sung kiến thức kỹ năng nghề cho người lao động đáp ứng yêu cầu tăng năng suất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.Đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành các cơ sở GDNN, đặc biệt ứng dụng công nghệ mới trong giảng dạy và đào tạo nghề kỹ thuật cao.Phát triển hệ thống thông tin, thị trường lao động nhằm đáp ứng chiến lược đổi mới trong dạy nghề. Thông qua cơ sở dữ liệu về cung, cầu lao động có phân tích và đánh giá theo định kỳ để dự báo đúng nhu cầu thị trường lao động xác định đúng cơ cấu, nội dung đào tạo.
5.Kết luận
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại nhiều cơ hội mới cho các nền kinh tế, song thách thức cũng không hề nhỏ khi mà các ngành nghề ngày càng đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ và kỹ thuật cao. Vì vậy, công tác đào tạo nguồn nhân lực cũng phải thay đổi để phù hợp với yêu cầu mới. GDNN được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi đây là một khâu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết 29-NQ/TW nhấn mạnh: “Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế”.
-----------------
Tài liệu tham khảo.
[1].Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Giáo dục, số 39/2005/QH11 ngày 14/06/2005, sử đổi bổ sung 2009.
[2].Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Giáo dục, số 43/2019/QH14 ngày 14/06/2019, có hiệu lực từ ngày 01/07/2020.
[3].Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Giáo dục nghề nghiệp, số 74/2014/QH13 ngày 27/11/2014, có hiệu lực từ ngày 1/07/2015.
[4].Chính phủ CHXHCN Việt Nam, Nghị định quy định chi tiết về một số điều và biện pháp thi hành Luật Giáo dục nghề nghiệp, số 15/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019.
[5].Tổng cục giáo dục nghề nghiệp, Giới thiệu hệ thống giáo dục nghề nghiệp
[6].Nguyễn Đức Trí (chủ biên),(2011),Giáo trình giáo dục học nghề nghiệp, NXB Giáo dục.
[7].Nguyễn Đức Trí (2010), Giáo dục nghề nghiệp-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học và Kỹ thuật.
[8].Phan Văn Kha (2007), Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Giáo dục.
[9].Nguyễn Văn Anh (2009), Phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong khu công nghiệp, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam.