Tô Bá Trượng -
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Mở đầu: Sau khi đọc toàn văn Bản dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng để lấy ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân do Báo Nhân dân công bố hôm 15/10/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Căn cứ vào những gợi ý góp ý một số nội dung thảo luận, góp ý của Ban tổ chức; với tư cách là một đảng viên lão thành, gần 60 năm tuổi đảng, trên 80 năm tuổi đời nhưng vẫn tràn đầy nhiệt huyết cách mạng, xin được đóng góp một số ý kiến như sau:
Trước hết, có thể khẳng định rằng, Bản dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được soạn thảo nghiêm túc, công phu, đảm bảo tính Đảng, tính khoa học, tính thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Với tầm nhận thức của cá nhân, xin được đóng góp một vài ý kiến bổ sung, làm rõ thêm một số ý trong Đánh giá việc thực hiện nghị quyết đại hội XIII của Đảng và bình luận một số quan điển, chỉ tiêu phát triển đất nước trong dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (2021) đã đề ra tầm nhìn, mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và 2045, thể hiện ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Sau hơn ba năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và tròn 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới (1986–2026), đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, khẳng định đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với quy luật phát triển cũng như thực tiễn Việt Nam.
Báo cáo này đã tập trung đánh giá khái quát tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, chỉ ra kết quả, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra sau 40 năm đổi mới – một chặng đường lịch sử đầy nỗ lực và tự hào của dân tộc ta.
Từ khóa: Góp ý, Dự thảo, Văn kiện, Đại hội, Toàn quốc lần thứ XIV, của Đảng
1. Về đánh giá thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và cơ đồ của đất nước sau 40 năm đổi mới
1.1. Nhận định, đánh giá tổng quát
Với ý chí tự cường, khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, chung sức, đồng lòng, thực hiện quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XIII đề ra.
- Kinh tế vĩ mô được giữ vững ổn định, bất chấp nhiều biến động phức tạp của tình hình thế giới.
- Chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh được củng cố; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững.
- Đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục đạt nhiều dấu ấn; vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao.
- Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
Nhìn tổng thể, đất nước ta đã chuyển mình mạnh mẽ, từ một quốc gia nghèo nàn, kém phát triển, bị tàn phá bởi chiến tranh, trở thành một nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng và ngày càng khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
1.2. Kết quả đạt được trên các lĩnh vực
1.2.1. Về phát triển kinh tế
Sau 40 năm đổi mới, quy mô và tiềm lực kinh tế nước ta tăng vượt bậc. GDP bình quân đầu người năm 2024 ước đạt khoảng 4.500 USD, tăng hơn 20 lần so với năm 1986.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ trọng chủ đạo, nông nghiệp giảm dần nhưng vẫn giữ vai trò nền tảng đảm bảo an ninh lương thực.
Việt Nam đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất và xuất khẩu lớn của khu vực, là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Môi trường đầu tư kinh doanh không ngừng được cải thiện, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh mẽ.
Nhiều công trình hạ tầng chiến lược được hoàn thành như cao tốc Bắc – Nam, sân bay quốc tế Long Thành (giai đoạn 1), các trung tâm năng lượng tái tạo, hạ tầng số và đô thị thông minh, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững.
1.2.2. Về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu.
Công tác quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường được chú trọng hơn, gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Việt Nam đã cam kết mạnh mẽ đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Nhiều chính sách về kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, bảo tồn rừng, biển, đa dạng sinh học được ban hành và bước đầu mang lại kết quả tích cực. Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường ở một số đô thị, khu công nghiệp và vùng nông thôn vẫn là thách thức lớn cần giải quyết triệt để.
1.2.3. Về phát triển văn hóa, con người và xã hội.
Văn hóa và con người Việt Nam được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu và động lực của phát triển.
Giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được ưu tiên đầu tư. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm nhanh; hệ thống bảo hiểm xã hội, y tế bao phủ rộng.
Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì ở mức khá (0,726 năm 2023, theo UNDP).
Đặc biệt, các giá trị văn hóa truyền thống được gìn giữ, phát huy, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại; đời sống tinh thần ngày càng phong phú, hướng tới xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
1.2.4. Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Công tác quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia, biên giới, biển đảo được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo.
Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam kiên định đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Nhiều hoạt động đối ngoại cấp cao mang tầm chiến lược được triển khai hiệu quả; quan hệ với các nước lớn, các đối tác chiến lược toàn diện được nâng tầm. Vai trò của Việt Nam trong ASEAN, Liên Hợp Quốc, APEC, CPTPP, RCEP ngày càng được khẳng định.
1.2.5. Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được triển khai toàn diện, đồng bộ và quyết liệt, gắn với phòng chống tham nhũng, tiêu cực.
Nhiều vụ việc lớn được xử lý nghiêm minh, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Bộ máy hệ thống chính trị từng bước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn; dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được phát huy.
1.3. Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
1.3.1. Hạn chế, yếu kém
- Năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng còn thấp; cơ cấu kinh tế chưa thật bền vững.
- Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp; công tác quản lý tài nguyên còn hạn chế.
- Văn hóa – xã hội phát triển chưa tương xứng với kinh tế; tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống ở một bộ phận xã hội đáng lo ngại.
- Cải cách hành chính, cải cách tiền lương, công tác cán bộ còn chậm; một bộ phận cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
- Công tác dự báo, hoạch định chính sách và năng lực thực thi ở một số cấp, ngành còn yếu; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm.
1.3.2. Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan
Tác động tiêu cực của biến động kinh tế – chính trị thế giới, cũng như những tác động của xung đột khu vực trên thế giới.
Đất nước trải qua đại dịch Covid ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước,
Việt Nam luôn chịu ảnh hưởng rất lớn với sự biến đổi khí hậu, cũng như bão lũ, sạt lở đất nghiêm trọng.
- Nguyên nhân chủ quan.
Trước hết phải thấy năng lực quản lý, tổ chức thực hiện còn hạn chế của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế, không muốn nói là yếu kém,
Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa đồng bộ mạnh nơi nào nơi đó làm
Tư duy đổi mới ở một số lĩnh vực, một số ngành, đặc biệt của một số cán bộ còn chậm,
Cơ chế giám sát, đánh giá chưa hiệu quả.
1.4. Bài học kinh nghiệm sau 40 năm đổi mới
- Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
- Đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
- Lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển, gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, kiên quyết, kiên trì phòng chống tham nhũng, tiêu cực.
- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, giữ vững độc lập, tự chủ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, sau 40 năm đổi mới và hơn ba năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam chưa bao giờ cao như hôm nay.
Tuy nhiên, chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức. Đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đổi mới tư duy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2. Quan điểm, Mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới
2.1. Dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm tới
2.1.1. Tình hình thế giới
Bối cảnh quốc tế những năm tới được dự báo tiếp tục biến động nhanh, phức tạp, khó lường. Một số xu thế lớn có thể chi phối mạnh mẽ đến phát triển của đất nước ta:
- Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn (đặc biệt là Mỹ - Trung, Mỹ - Nga, Trung Quốc - Ấn Độ...) diễn biến gay gắt hơn, tác động sâu sắc đến cấu trúc chính trị – an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
- Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có xu hướng điều chỉnh, chuyển sang mô hình “toàn cầu hóa chọn lọc”, tập trung vào các chuỗi cung ứng chiến lược và an ninh kinh tế.
- Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học và năng lượng tái tạo, đang tạo ra chuyển đổi sâu rộng trong sản xuất, quản trị và đời sống.
- Biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, xung đột tài nguyên, khủng hoảng di cư, an ninh mạng và dịch bệnh toàn cầu tiếp tục là những thách thức lớn đối với phát triển bền vững.
- Chuyển dịch năng lượng xanh, chuyển đổi số và kinh tế tri thức trở thành xu hướng chủ đạo của thế giới trong thập kỷ tới.
2.1.2. Tình hình trong nước
Việt Nam tiếp tục có thế và lực mới sau gần 40 năm đổi mới cụ thể:
- Nền kinh tế có quy mô trên 460 tỷ USD, là nền kinh tế lớn thứ 5 ASEAN; vị thế quốc tế ngày càng được củng cố.
- Cơ sở hạ tầng, nền tảng số, dân số vàng và hội nhập quốc tế sâu rộng tạo tiền đề thuận lợi cho phát triển nhanh và bền vững.
- Tuy nhiên, đất nước cũng đối diện nhiều thách thức: năng suất lao động thấp, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, biến đổi khí hậu nặng nề ở đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung; chênh lệch vùng miền còn lớn; yêu cầu đổi mới thể chế, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo ngày càng cấp thiết.
Tổng thể, có thể nói thời kỳ 2026 – 2030 sẽ là giai đoạn bản lề quan trọng là thời điểm thực hiện mục tiêu cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII, đồng thời chuẩn bị điều kiện để Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2035 và phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
2.2. Về năm quan điểm chỉ đạo trong giai đoạn tới
Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần quán triệt sâu sắc năm quan điểm chỉ đạo lớn sau đây:
Quan điểm 1. Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Quan điểm này chính là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi đường lối, chính sách, cần phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.
Quan điểm 2. Lấy con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển.
Phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng, phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ, sức sáng tạo của người Việt Nam.
Quan điểm 3. Phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Quan điểm này cho thấy phải lấy đổi mới sáng tạo làm động lực chủ yếu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; tăng năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh quốc gia.
Quan điểm 4. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả.
Quan điểm này khảng định độc lập tự chủ phải đi đôi với hội nhập để tận dụng cơ hội, giảm thiểu rủi ro, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, mở rộng không gian phát triển quốc gia.
Quan điểm 5. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Quan điểm này cho thấy đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ.
2.3. Về mục tiêu phát triển
- Mục tiêu tổng quát đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; con người phát triển toàn diện; quốc phòng, an ninh vững chắc; vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao.
- Mục tiêu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, có nền kinh tế tri thức hiện đại, bản sắc văn hóa Việt Nam được gìn giữ và tỏa sáng, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xã hội hòa bình, ổn định, văn minh.
2.4. Các mục tiêu phát triển chủ yếu giai đoạn 2026 – 2030
2.4.1. Về kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt từ khoảng 10 %/năm trở lên.
- GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD/người vào năm 2030.
- Kinh tế số chiếm 30% GDP, tỷ trọng kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn đạt 15 – 20% GDP.
- Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đến năm 2030 khoảng 28 % GDP
- Năng suất lao động xã hội tăng bình quân khoảng 8,5 %/năm.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng khoảng 40 % GDP GDP; nợ công giữ dưới khoảng 35-36 % GDP.
2.4.2. Về xã hội, con người và văn hóa
- HDI đạt mức 0,78 – 0,80.
- 100% dân số có bảo hiểm y tế; tỷ lệ nghèo đa chiều dưới 1,0-1,5%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%%; lao động có kỹ năng số đạt 70%.
- Phát triển con người toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, an ninh con người được bảo đảm.
2.4.3. Về môi trường và phát triển bền vững
- Giảm 30% cường độ phát thải khí nhà kính so với năm 2020; đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
- 100% khu công nghiệp, đô thị mới có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn; 50% năng lượng tiêu thụ từ nguồn tái tạo.
- Từng bước hình thành nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và năng lượng sạch.
2.4.4. Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại
- Giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; chủ động xử lý hiệu quả các thách thức an ninh phi truyền thống.
- Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững chắc.
- Đẩy mạnh đối ngoại đa phương, nâng tầm vị thế Việt Nam trong các tổ chức quốc tế; phấn đấu trở thành quốc gia có vai trò kiến tạo hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực.
2.4.5. Tính khả thi và yêu cầu bứt phá
Những mục tiêu trên là rất cao nhưng khả thi, dựa trên nền tảng vững chắc của 40 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, XIII. Tuy nhiên, để đạt được, cần:
- Đẩy mạnh đổi mới thể chế, cải cách hành chính, phân cấp – phân quyền mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực;
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực số;
- Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo;
- Xây dựng môi trường chính trị – xã hội ổn định, tăng cường đoàn kết dân tộc và phát huy trí tuệ, sức sáng tạo của người Việt Nam.
Đây là kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, nơi khát vọng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” được cụ thể hóa bằng các chương trình, chiến lược và hành động thực tiễn mạnh mẽ.
Hy vọng rằng, với sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân với khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới, nhất định chúng ta sẽ đạt được những chỉ tiêu mà dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương khóa XIII trình Đại hội đại biểu khóa XIV.
Hà nội ngày 23 tháng 10 năm 2025