TS. Trần Thái Hà
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Email: [email protected]
Tóm tắt:
Trong những năm gần đây, Chính phủ, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp đã ban hành nhiều văn bản quy định về giao tiếp, ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Việc ban hành các quy định này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch và phục vụ Nhân dân; đồng thời góp phần hình thành, củng cố các chuẩn mực đạo đức, văn hóa ứng xử trong môi trường công vụ.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy chất lượng và hiệu quả của các quy định về giao tiếp, ứng xử vẫn còn những bất cập. Một số văn bản còn mang tính hình thức, nội dung chưa thật sự phù hợp với đặc thù của từng ngành, từng lĩnh vực; việc tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, dẫn tới hiệu quả chưa cao. Ở một số nơi, chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức vẫn chưa trở thành thói quen, văn hóa trong hoạt động công vụ và trong quan hệ xã hội.
Bài viết tập trung phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong việc xây dựng, nội dung và hình thức các văn bản quy định về giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức đã được ban hành; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quy định về chuẩn mực giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp và hiện đại.
Từ khóa: giao tiếp xã hội; chuẩn mực giao tiếp xã hội; quy định giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức.
Ngày nhận: 30/10/2025; Biên tập 30/10/2025; Duyệt đăng: 30/10/2025
1. Mở đầu
Giao tiếp xã hội (tiếng Anh: social communication) là một trong những phương thức thiết yếu giúp cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, đặc biệt là trong các cơ quan hành chính, thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao. Thông qua hoạt động giao tiếp, cán bộ, công chức không chỉ truyền đạt thông tin, định hướng hành động mà còn tạo lập sự hợp tác, tăng cường hiểu biết, xây dựng mối quan hệ phối hợp trong công việc và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi công vụ.
Trong môi trường công vụ, giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức mang tính đại diện cho cơ quan, tổ chức, đồng thời thể hiện hình ảnh, uy tín và văn hóa của nền hành chính nhà nước. Mỗi lời nói, cử chỉ, thái độ ứng xử không chỉ phản ánh phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn của người cán bộ, công chức mà còn tác động trực tiếp đến niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy công quyền.
Để bảo đảm hoạt động giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước phù hợp với yêu cầu phục vụ Nhân dân, hướng tới nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại và hiệu quả, cần thiết phải xây dựng, ban hành và thực hiện nghiêm các quy định về chuẩn mực giao tiếp, ứng xử trong hoạt động công vụ. Những quy định này không chỉ có ý nghĩa điều chỉnh hành vi, mà còn góp phần hình thành văn hóa công vụ, tạo nền tảng đạo đức, chuẩn mực nghề nghiệp và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Thực trạng quy định giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức cơ quan hành chính nhà nước
Hiện Nhà nước đã ban hành nhiều luật, văn bản quy phạm pháp luật có các nội dung liên quan trực tiếp đến giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức, viên chức cơ quan nhà nước. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (Luật số 55/2005/QH11 ngày 29-11-2005) có Điều 36. Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, trong đó xác định: “Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức; điểm a khoản 1 Điều 37 quy định một trong những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm là: “Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong khi giải quyết công việc”. Ngày 02-8-2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó có Mục 2 về giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, với Điều 8 về giao tiếp và ứng xử quy định: “Cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành nhiệm vụ phải thực hiện các quy định về những việc phải làm và những việc không được làm theo quy định của pháp luật. Trong giao tiếp và ứng xử, cán bộ, công chức, viên chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng. Ngôn ngữ giao tiếp phải rõ ràng, mạch lạc; không nói tục, nói tiếng lóng, quát nạt”, Điều 9 về giao tiếp và ứng xử với nhân dân; Điều 10 về giao tiếp và ứng xử với đồng nghiệp; Điều 11 về giao tiếp và ứng xử qua điện thoại. Trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Điều 16 về văn hóa giao tiếp ở công sở quy định: “1. Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc. 2. Cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ. 3. Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp”; Điều 17 về văn hóa giao tiếp với nhân dân quy định: “1. Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc. 2. Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ”. Điều 21 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (Luật số 36/2018/QH14 ngày 20-11-2018) đã quy định: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, ngành, lĩnh vực do mình quản lý; Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy chính quyền địa phương.
Căn cứ các văn bản luật và quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hầu hết các bộ, ngành trung ương và ủy ban nhân dân cấp tỉnh, một số ủy ban nhân dân cấp huyện đã ban hành các văn bản quy phạm nội bộ về giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức; một số cơ quan lồng ghép quy định về giao tiếp, ứng xử trong quy chế làm việc của cơ quan, quy định văn hóa công sở, chuẩn mực văn hóa của cán bộ, công chức.
Về loại hình văn bản, hầu hết các cơ quan sử dụng loại hình quy tắc giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức ban hành kèm theo quyết định của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chủ tịch ủy ban nhân dân; một số ít cơ quan sử dụng loại hình quy chế văn hóa của cán bộ, công chức. Việc sử dụng loại hình quy tắc giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức là thể theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó gộp cả giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức.
Về kết cấu văn bản, nhìn chung, trong quy tắc giao tiếp, ứng xử của các bộ, cơ quan ngang bộ đều có phần đầu quy định các nguyên tắc chung và phần cuối về điều khoản thi hành, bao gồm cả biện pháp xử lý đối với những trường hợp vi phạm. Trong phần nội dung, văn bản của các cơ quan được thể hiện theo các kết cấu khác nhau: theo các mối quan hệ công tác của cán bộ, công chức (quy tắc ứng xử với lãnh đạo, với đồng nghiệp, với công dân); theo hoàn cảnh giao tiếp (khi thi hành nhiệm vụ, khi tiếp công dân); kết hợp cả hai kiểu kết cấu trên.
Về nội dung văn bản, hầu hết các bản quy tắc giao tiếp, ứng xử đều quy định những điều khoản chế định về những việc cán bộ, công chức phải làm và những việc cán bộ, công chức không được làm; các chuẩn mực hành vi giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ, bao gồm thái độ, tác phong, cử chỉ, hành vi, ngôn ngữ và trang phục. Các nội dung về những việc cán bộ, công chức phải làm và những việc cán bộ, công chức không được làm cơ bản là vận dụng Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, có thể có nội dung chi tiết hơn phù hợp với đặc thù của ngành. Các chuẩn mực hành vi giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ đều có các quy định: quy tắc giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ, khi tiếp công dân; quy tắc giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức với cấp trên, cấp dưới, với đồng nghiệp và khách; quy tắc giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức với các cơ quan báo chí, tổ chức nước ngoài… Về các quy tắc giao tiếp, ứng xử, hầu hết các văn bản đều quy định những nguyên tắc cơ bản trong giao tiếp, ứng xử (tuân thủ pháp luật, ứng xử có văn hóa, nhã nhặn, lắng nghe, tôn trọng đối tượng giao tiếp, không sách nhiễu, trì hoãn, chậm trễ, gây khó khăn, phiền hà…); quy định thái độ cần có khi giao tiếp (lịch sự, thân thiện, cởi mở, hợp tác, không hách dịch…); quy định về tác phong (nhanh nhẹn, tích cực…); quy định về cử chỉ, hành vi (cách bắt tay, cách đi đứng…); quy định về trang phục (gọn gàng, lịch sự) và lời nói (lịch sự, rõ ràng, mạch lạc, không nói tục, nói tiếng lóng…).
Có thể thấy, các quy định về giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức đã cụ thể hóa các quy định của pháp luật phù hợp với hoạt động công vụ của cán bộ, công chức cơ quan nhà nước trong từng lĩnh vực và ở từng địa phương, tạo cơ sở để cán bộ, công chức rèn luyện, thực hiện và cơ quan quản lý cán bộ, công chức kiểm tra, công dân giám sát, góp phần cải thiện tinh thần, thái độ giao tiếp của đội ngũ cán bộ, công chức và nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ quan nhà nước, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân, doanh nghiệp.
Bên cạnh các ưu điểm, việc ban hành các quy định về giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức cơ quan nhà nước còn một số bất cập.
Một là, chưa có sự thống nhất về thể loại, chủ đề của văn bản
Hiện nay, văn bản quy định về giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức khá đa dạng, không thống nhất về loại hình và chủ đề. Về thể loại, đa số văn bản là quy tắc, nhưng có một số văn bản được ban hành là theo thể loại quy định, quy ước, quy chế. Về nội dung, đa số văn bản đề cập cả giao tiếp và ứng xử, nhưng một số văn bản chỉ đề cập về ứng xử của cán bộ, công chức.
Hai là, các nội dung về giao tiếp, ứng xử còn được quy định ở nhiều văn bản khác nhau dẫn đến tình trạng phân tán và trùng lắp, chồng chéo
Nhiều nội dung liên quan đến giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức được chế định trong bản quy tắc giao tiếp, ứng xử, nhưng một số nội dung lại được nêu trong quy định về văn hóa công sở, quy định về đạo đức cán bộ, công chức, nhất là các nội dung về những việc cán bộ, công chức phải làm và những việc cán bộ, công chức không được làm. Vốn dĩ quy định về những việc cán bộ, công chức không được làm có phạm vi rộng hơn nhiều so với những hành vi giao tiếp, ứng xử mà cán bộ, công chức không được làm.
Tình trạng trùng lắp nội dung giữa văn bản quy định của các cấp bắt nguồn từ việc phân cấp cho các cơ quan ban hành văn bản. Do chưa có quy định phân cấp rõ ràng, nên văn bản của cấp dưới gần như sao chép văn bản của cấp trên, chỉ bổ sung một số khía cạnh mang tính đặc thù của cơ quan, đơn vị, địa phương. Trên thực tế, nội dung chính của nhiều văn bản của các bộ, ngành, địa phương lặp lại gần như nguyên văn các quy định trong Luật Cán bộ, công chức, Luật Phòng, chống tham nhũng, Quy chế văn hóa công sở do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg và quy định của cấp trên.
Ba là, trong các văn bản còn thiếu một số nội dung cần thiết, đồng thời lại nêu cả những nội dung không thuộc lĩnh vực giao tiếp, ứng xử
Nhìn chung, các bản quy tắc mới chủ yếu đề cập về giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức đối với công dân và doanh nghiệp, có đề cập chừng mực nhất định tới việc giao tiếp, ứng xử trong các quan hệ nội bộ cơ quan, ít đề cập đến giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình thực thi công vụ. Về hình thức giao tiếp cũng mới chỉ chú trọng các giao tiếp trực tiếp tại công sở, ít đề cập đến giao tiếp qua điện thoại, hầu như chưa nêu về giao tiếp trên môi trường mạng. Một số bộ quy định cả các nội dung về trình độ, năng lực công tác của cán bộ, công chức (nắm vững kiến thức pháp luật, am hiểu đặc điểm của các loại hình doanh nghiệp…), về đạo đức (cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, đoàn kết nội bộ, gương mẫu…), về ý thức tổ chức kỷ luật (tự giác chấp hành Hiến pháp, pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan; chấp hành nghiêm sự phân công của tổ chức, nhiệm vụ do cấp trên giao…).
Bốn là, nhiều quy định chủ yếu mới là những nguyên tắc, chưa thật cụ thể
Trong văn bản của nhiều bộ, ngành vẫn dùng các quy định mang tính khái quát cao, như: nghiêm túc, đúng mực, tích cực, tận tình, thân thiện, lịch sự… mà chưa định hình, định lượng cụ thể, nên có thể được hiểu và thực hiện khác nhau, việc chấn chỉnh, xử lý vi phạm của các cơ quan sẽ gặp khó khăn.
Năm là, chế tài khen thưởng, xử lý vi phạm chưa được quy định rõ ràng
Trong phần tổ chức thực hiện, hoặc trong mục điều khoản thi hành, của các bản quy tắc, quy chế thường có quy định: Cá nhân, đơn vị thực hiện tốt quy định này sẽ được khen thưởng, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực hiện tốt là yêu cầu bắt buộc, không phải thành tích, nên đặt vấn đề khen thưởng là không hợp lý; vi phạm về giao tiếp, ứng xử có nhiều mức độ khác nhau, nhiều vi phạm chỉ cần nhắc nhở để rút kinh nghiệm, sửa chữa, vi phạm nặng hơn cũng chỉ xử lý kỷ luật hành chính, không đến mức phải xử lý trước pháp luật. Vả lại, các quy định của pháp luật cũng không cụ thể đối với giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, nên rất khó áp dụng. Mặt khác, việc thiếu các chế tài khen thưởng, xử lý vi phạm trong quy tắc giao tiếp của cán bộ, công chức dẫn đến không khuyến khich cán bộ, công chức khắc phục khó khăn, có những cải tiến, sáng tạo trong giải quyết các kiến nghị của công dân và doanh nghiệp; không kịp thời chấn chỉnh những hành vi vi phạm khiến người dân, doanh nghiệp phàn nàn, bực dọc, làm giảm uy tín của cơ quan nhà nước.
3. Định hướng hoàn thiện quy định giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức cơ quan hành chính nhà nước
Để hoàn thiện quy định giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức, viên chức cơ quan nhà nước, trước hết là cơ quan hành chính nhà nước, trong điều kiện hoạt động mới, cần quan tâm thực hiện nhiều giải pháp.
Một là, thống nhất quan niệm về văn bản quy định giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức cơ quan nhà nước
Giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức cơ quan nhà nước là một trong những phương thức hoạt động và bổn phận của cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình thực thi công vụ; một nội dung của văn hóa công sở; thể hiện tinh thần kiến tạo, tôn trọng và phục vụ nhân dân của Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Do đó, khi xây dựng quy định về giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức cơ quan nhà nước cần xác định giao tiếp xã hội vừa là một bộ phận trong văn hóa công sở, vừa bao gồm cả giao tiếp của cán bộ, công chức với nhân dân nơi cư trú, tại nơi công cộng.
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đều sử dụng khái niệm “quy tắc ứng xử”; Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02-8-2007 sử dụng khái niệm “quy chế văn hóa công sở”, “giao tiếp và ứng xử”; Luật Cán bộ, công chức năm 2008 sử dụng khái niệm “văn hóa giao tiếp ở công sở” (Điều 16), “văn hóa giao tiếp với nhân dân” (Điều 17). Mỗi cách diễn đạt đều có ý nghĩa, nhưng sử dụng nhiều khái niệm dễ gây ra những cách hiểu khác nhau không cần thiết. Thật ra, ứng xử là cách thức trong quá trình giao tiếp, nên không nhất thiết phải tách ra thành giao tiếp và ứng xử. Văn hóa giao tiếp là yêu cầu đối với hoạt động giao tiếp, nên bản thân quy định về giao tiếp đã chứa đựng trình độ, ý thức văn hóa; cán bộ, công chức thực hiện đúng quy định về giao tiếp là đã thể hiện được văn hóa giao tiếp. Vì vậy, chỉ nên quy định về giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức.
Về thể loại văn bản, nên thống nhất xây dựng “quy tắc giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước”. Khái niệm “quy tắc” thể hiện tính cụ thể hơn các khái niệm “quy chế”, “quy định”. Từ điển Tiếng Việt phân biệt: quy tắc là “những điều quy định mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó”(1) với quy chế là “tổng thể nói chung những điều quy định thành chế độ để mọi người thực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó”(2) và quy định là những điều “định ra để phái theo, phải thực hiện”(3).
Về tính thống nhất đối với tất cả cán bộ, công chức các cơ quan nhà nước và tính đặc thù của cán bộ, công chức công tác trong các ngành, nên xây dựng, ban hành Bộ quy tắc giao tiếp xã hội chung cho tất cả cán bộ, công chức áp dụng cho tất cả các cơ quan nhà nước, bởi giao tiếp của cán bộ, công chức là một trong những yếu tố cơ bản của văn hóa công vụ, Chính phủ - cơ quan hành chính nhà nước cao nhất - cần thống nhất quản lý vấn đề giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức các cơ quan nhà nước thuộc tất cả các ngành, các cấp bằng một bộ quy tắc giao tiếp xã hội chung. Bộ quy tắc này cụ thể hóa tất cả các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của cán bộ, công chức nhà nước; tham khảo quy định của Đảng về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; chọn lọc những điểm hợp lý trong các quy định của các bộ, ngành. Để xây dựng bộ quy tắc này, cơ quan chủ trì việc soạn thảo (Bộ Nội vụ, hoặc Văn phòng Chính phủ) cần tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh và ý kiến của chính đội ngũ cán bộ, công chức và các đối tượng giao tiếp liên quan. Nội dung của bộ quy tắc này cần bao quát tất cả các vấn đề về giao tiếp, ứng xử công vụ, trong đó xác định rõ các nguyên tắc, yêu cầu, tiêu chí đánh giá và những quy định cụ thể về thái độ, tác phong, cử chỉ, hành vi, ngôn ngữ và trang phục của cán bộ, công chức khi thực thi công vụ. Nếu thấy cần thiết, có thể tiến hành áp dụng thử nghiệm trong thực tế ở một số cơ quan, lấy ý kiến phản hồi từ nhiều phía để chỉnh sửa, bổ sung và ban hành chính thức.
Trên cơ sở bộ quy tắc giao tiếp xã hội chung do Chính phủ ban hành, các cơ quan nhà nước ở trung ương (các bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) ban hành quy tắc giao tiếp xã hội phù hợp với đặc thù riêng của từng ngành áp dụng cho cả cán bộ, công chức ở cơ quan trung ương và cán bộ, công chức ở các cơ quan theo ngành dọc ở cấp tỉnh, cấp cơ sở; ủy ban nhân dân địa phương không cần ban hành quy tắc giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức địa phương. Để tránh trùng lặp, nếu ngành nào thấy không nhất thiết phải ban hành quy tắc riêng thì có thể áp dụng theo bộ quy tắc chung.
Hai là, xác định đúng phạm vi điều chỉnh của quy tắc, đầy đủ các nội dung cần thiết, nhưng không lấn sang các lĩnh vực khác
Về phạm vi nội dung, văn bản nên bao gồm cả quy tắc giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước tại công sở; quy tắc giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước tại nơi cư trú, ở nơi công cộng và quy tắc giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước qua điện thoại, trên không gian mạng. Trong thực tế, giao tiếp của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước ở các môi trường khác nhau có những yêu cầu chung và các yêu cầu riêng. Hiện nay, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước thường xuyên sử dụng điện thoại, thư điện tử để trao đổi công việc với các cơ quan khác; công chức chính quyền, công an cơ sở sử dụng cả mạng xã hội để thông tin cho nhân dân và nắm bắt thông tin phản ánh của nhân dân trên địa bàn dân cư. Vì thế, cũng nên có những quy định đối với loại hình giao tiếp này.
Trong quy tắc giao tiếp xã hội chỉ đề cập những nội dung liên quan đến hoạt động giao tiếp của cán bộ, công chức, không nên đề cập những nội dung về văn hóa công sở, như: trang trí công sở, cảnh quan môi trường…; những nội dung về đạo đức công vụ, như: trung thành với Tổ quốc, liêm chính, chí công, vô tư, trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đoàn kết, kỷ cương, chấp hành nghiêm các nội quy của cơ quan, đề cao tinh thần, trách nhiệm trong công việc, không ngừng phấn đấu vươn lên, tôn trọng ý kiến góp ý của đồng nghiệp và nhân dân, gương mẫu trong lời nói và hành động, có tình yêu thương với mọi người, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc và cuộc sống… Những nội dung về văn hóa công sở, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức được quy định tại loại văn bản khác.
Ba là, nội dung bộ quy tắc cần vừa khái quát, vừa cụ thể
Quy tắc về chuẩn mực giao tiếp xã hội cần được thiết kế gồm ba cấp độ: những nguyên tắc cơ bản; những chuẩn mực chung cho từng đối tượng (cán bộ quản lý và công chức, viên chức chuyên môn, nghiệp vụ); những quy định cụ thể, chi tiết đến các hành vi đối với từng đối tượng (những hành vi được phép và những hành vi không được phép khi cán bộ, công chức giao tiếp với cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp; với tổ chức, người dân có nhu cầu giao dịch tại công sở, qua điện thoại, qua mạng internet, qua mạng xã hội). Trong bộ quy tắc cũng cần xác định rõ các chế tài về khen thưởng và xử lý vi phạm.
Bốn là, cập nhật các chủ trương mới về cải cách hành chính nhà nước và chuyển đổi số quốc gia
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, xây dựng và thực hiện chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số… Thúc đẩy việc xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng hướng tới cơ quan nhà nước “không giấy tờ”. Hoàn thiện các hệ thống thông tin một cửa điện tử, cổng dịch vụ công các cấp kết nối với cổng dịch vụ công quốc gia. Hoàn thành kết nối, liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp và các doanh nghiệp. Hoàn thiện các quy trình, thủ tục hành chính phù hợp với hoạt động của chính phủ số, cắt giảm tối đa giao dịch trực tiếp”(4). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đề ra mục tiêu đến năm 2030: “Quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số, hình thành sàn giao dịch dữ liệu. Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hóa số đạt mức cao của thế giới”. Sắp tới, quy mô cấp tỉnh, cấp xã sẽ lớn hơn và không còn cấp huyện. Trong điều kiện đó, giao tiếp trên môi trường số, giao tiếp số ngày càng phổ biến, thay thế dần cho giao tiếp trực tiếp bằng văn bản giấy, lời nói, cử chỉ; cán bộ, công chức không chỉ giao tiếp xã hội tại công sở, trong giờ hành chính, mà giao tiếp mọi nơi, mọi lúc; không chỉ giao tiếp với một người mà có thể giao tiếp đồng thời với nhiều người. Hướng dẫn công dân sử dụng các dịch vụ công trực tuyến trở thành hoạt động chính của cán bộ, công chức. Giao tiếp xã hội của cơ quan nhà nước với các tổ chức, doanh nghiệp và công dân tập trung ở các trung tâm phục vụ hành chính công. Để giải quyết tốt các thủ tục hành chính trên môi trường mạng đòi hỏi các cán bộ, công chức trong cùng cơ quan và giữa các cơ quan liên quan phải có sự giao tiếp hợp lý để tạo lập được sự phối hợp, hợp tác hết sức chặt chẽ, nhịp nhàng trong giải quyết công việc theo đề nghị của các tổ chức, doanh nghiệp và công dân. Tất cả những điểm mới đó cần được thể hiện và quy định trong quy tắc giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức.
4. Kết luận
Nhằm góp phần xây dựng các cơ quan nhà nước theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, thân thiện, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp, trong những năm qua các cơ quan nhà nước đã xây dựng, ban hành các văn bản quy định về giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức dưới các loại hình, với các nội dung và hình thức đa dạng. Bên cạnh các ưu điểm, nhiều văn bản quy định về giao tiếp xã hội của các bộ, ngành, địa phương có một số hạn chế. Để có được bộ quy tắc giao tiếp xã hội của cán bộ, công chức có chất lượng tốt, đúng tính chất và khả thi, cần thống nhất về quan niệm, phạm vi nội dung, xử lý hài hòa các mối quan hệ: giữa các nguyên tắc chung với quy định cụ thể; giữa người đứng đầu với cán bộ, công chức chuyên môn; giữa những việc được làm và những việc không được làm; giữa khuyến khích và chế tài xử lý vi phạm; v.v..
Tài liệu tham khảo
1. Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, tr. 812–813.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Sự thật, Hà Nội, tr. 148–149.