GS.TS Phạm Hồng Quang-
Chủ tịch Hội đồng GS ngành KHGD
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, tự chủ đại học và toàn cầu hóa giáo dục, môi trường giáo dục đại học (GDĐH) đang chuyển dịch từ mô hình điều kiện vật chất hỗ trợ dạy học sang hệ sinh thái học thuật – xã hội – công nghệ đa chiều. Bài báo phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện tiêu chuẩn môi trường GDĐH trên nền tảng xã hội học giáo dục. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, tiếp cận hệ thống và khung lý thuyết xã hội học giáo dục để đánh giá cấu trúc tiêu chuẩn hiện hành và đề xuất hướng hoàn thiện. Kết quả cho thấy hệ thống tiêu chuẩn hiện nay đã hình thành bốn cấu phần cơ bản gồm: môi trường giảng dạy – học tập, môi trường khoa học công nghệ, môi trường hợp tác – phát triển cộng đồng và môi trường quản trị đại học. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn cần được bổ sung theo hướng tích hợp môi trường số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, vốn xã hội học thuật và cơ chế tự chủ – trách nhiệm giải trình. Bài báo đề xuất khung tiêu chí mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển GDĐH trong bối cảnh mới theo quan điểm xã hội học giáo dục.
Từ khóa: môi trường giáo dục đại học, xã hội học giáo dục, tự chủ đại học, chuyển đổi số, tiêu chuẩn đánh giá.
1. Đặt vấn đề
Giáo dục đại học đang trải qua những biến đổi sâu sắc do tác động của chuyển đổi số, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. Trong bối cảnh này, môi trường GDĐH không còn được hiểu đơn thuần là cơ sở vật chất hay điều kiện kỹ thuật phục vụ dạy học, mà là một hệ sinh thái xã hội – học thuật – công nghệ có tính tương tác cao. Các nghiên cứu gần đây về môi trường GDĐH trong bối cảnh tự chủ đại học đã chỉ ra rằng môi trường giáo dục là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và khả năng đổi mới sáng tạo của cơ sở GDĐH. Tuy nhiên, hệ thống tiêu chuẩn đánh giá môi trường GDĐH ở Việt Nam vẫn còn tập trung chủ yếu vào đo lường điều kiện đầu vào hơn là đánh giá năng lực tạo ra giá trị học thuật và vốn xã hội cho người học.
Vai trò của xã hội học giáo dục có thể dự báo hậu quả không mong muốn của cải cách GD với cách nhìn GD như một phần trong hệ thống xã hội phức tạp, ví dụ “trách nhiệm giải trình” của cải thiện chất lượng nhà trường lại thúc đẩy dạy học để đạt đề thi chuẩn hóa, bỏ qua học sinh yếu hoặc vấn đề bình đẳng trong tuyển sinh đại học, đầu tư tài chính với mục tiêu ngắn hạn của chủ thể khi có quyền “tự quyết”. Bởi vậy, chính sách tự chủ nhìn từ xã hội học còn phải lưu ý giải quyết các vấn đề sâu sắc hơn. Từ góc nhìn xã hội học giáo dục, môi trường GDĐH là không gian xã hội nơi diễn ra quá trình tái sản xuất và sáng tạo tri thức, hình thành vốn văn hóa, vốn xã hội và vốn nghề nghiệp cho người học. Vì vậy, hoàn thiện tiêu chuẩn môi trường GDĐH cần tiếp cận theo hướng hệ sinh thái xã hội học thuật thay vì chỉ là hệ thống điều kiện vật chất. Bài báo này nhằm: (1) Phân tích cơ sở lý luận của môi trường GDĐH dưới góc độ xã hội học giáo dục; (2) Nhận xét cấu trúc tiêu chuẩn hiện hành theo quan điểm xã hội học; (3) Đề xuất khung hoàn thiện tiêu chuẩn môi trường GDĐH trong bối cảnh mới.
2. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
2.1. Quan điểm phát triển môi trường giáo dục đại học trong bối cảnh mới theo tiếp cận xã hội học
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và tác động sâu rộng của cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục đại học (GDĐH) đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ cả về mô hình quản trị, cấu trúc tổ chức, hệ giá trị học thuật và quan hệ xã hội của nhà trường. Theo tiếp cận xã hội học, môi trường GDĐH không chỉ được hiểu như một hệ thống điều kiện vật chất và cơ chế quản lý, mà là một hệ sinh thái xã hội học thuật, trong đó các quan hệ giữa con người, thiết chế, văn hóa học thuật và các lực lượng xã hội bên ngoài tương tác với nhau để hình thành chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Từ góc nhìn này, quan điểm phát triển môi trường GDĐH trong bối cảnh mới cần đặt trọng tâm vào ba trục chính: môi trường quản trị – môi trường khoa học công nghệ – môi trường hợp tác xã hội. Vị trí của trường đại học trong hệ sinh thái phát triển vùng, địa phương không chỉ nằm ở giới hạn địa lí mà giá trị của nó còn được xác định bởi ý nghĩa gắn kết, sức sáng tạo và cống hiến cho cộng đồng từ phạm vi lân cận đến không gian mở. Nghị quyết 71/TW đã xác định: “Đầu tư hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, mở rộng không gian phát triển cho các cơ sở giáo dục đại học hoạt động hiệu quả”. Do vậy, về tương lai, môi trường ĐMST do giáo dục đại học đem lại sẽ là giá trị lớn nhất từ việc chuẩn bị nhân lực chất lượng cao cho đất nước đến những đóng góp học thuật có ý nghĩa toàn cầu. Không gian của giáo dục đại học sẽ là "vô tận" về khía cạnh kiến thức, phạm vi học tập và hình thức tiếp cận, không còn bó hẹp trong nhà trường truyền thống. Mục tiêu của NQ 71/TW (2025) đã xác định rõ:“Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của quốc gia và của các vùng. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của các vùng và địa phương, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu các ngành, lĩnh vực trọng điểm…”. Do vậy, cần xác định 5 quan điểm sau:
(1). Quan điểm xã hội học xem môi trường giáo dục đại học là một hệ thống xã hội phức tạp, bao gồm các điều kiện vật chất và tinh thần (văn hóa, quan hệ xã hội, cơ chế quản lý) tác động đến hoạt động dạy - học, nghiên cứu và sự phát triển nhân cách của sinh viên. Nó đóng vai trò là thiết chế xã hội quan trọng, kết nối giữa tri thức và xã hội. Cần xác định đúng vị trí của nhà trường là bộ phận chiến lược gắn bó máu thịt đối với địa phương và đất nước, trong đó GDĐH còn có sứ mạng dẫn dắt sự phát triển.
(2). Phát triển môi trường quản trị đại học theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội chính là mô hình trường đại học được quyền tự quyết cao trong học thuật, tổ chức, nhân sự và tài chính dựa trên khung pháp lý, đồng thời cam kết công khai, minh bạch về chất lượng đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Mô hình này chuyển từ quản lý hành chính sang chủ động phát triển, đảm bảo hiệu quả, chất lượng và đáp ứng nhu cầu xã hội.
(3). Phát triển môi trường khoa học công nghệ như một hệ sinh thái học thuật. Tại đây, hệ thống bên trong như giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp…được thụ hưởng giá trị của giáo dục đại học đem lại, mặt khác chính hệ sinh thái giáo dục đã “nuôi dưỡng” và cung cấp “nguyên liệu” cho giáo dục đại học trong chu trình IPO (đầu vào -quá trình-đầu ra).
(4). Phát triển môi trường hợp tác xã hội và hệ sinh thái đại học – doanh nghiệp – cộng đồng. bao gồm sự kết nối nhiều bên nhằm chia sẻ nguồn lực, tri thức và lợi ích, bao gồm: đào tạo và phát triển nhân lực (thực tập, huấn luyện), NCKH và chuyển giao công nghệ (R&D), khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, và cơ chế chính sách hỗ trợ. Trong quá trình này, môi trường GDĐH chính là nơi sản sinh, kiểm chứng các chính sách. Hiệu quả đem lại cho các doanh nghiệp, cho cộng đồng là thước đo của chính sách.
(5). Ý nghĩa của tiếp cận xã hội học trong phát triển môi trường giáo dục đại học góp phần khẳng định: Tự chủ đại học tạo điều kiện cho các chủ thể học thuật phát huy sáng tạo; môi trường khoa học công nghệ tạo nền tảng sản sinh tri thức mới trong môi trường dân chủ; hệ sinh thái hợp tác xã hội đảm bảo tính ứng dụng và đóng góp của GDĐH đối với phát triển kinh tế – xã hội là thực chất với sự “kiểm định” giầu tính thực tiễn. Văn hóa học thuật dân chủ được duy trì, minh bạch và sức sáng tạo trở thành động lực của phát triển bền vững bởi nền tảng cống hiến của cá nhân và cộng động khoa học. Cách tiếp cận này góp phần tăng mức độ “chụm” giữa khái niệm “giáo dục” và khái niệm “văn hóa”. Khái niệm gốc của giáo dục là “dạy dỗ, chỉ bảo, hướng dẫn”...Exducere – có nghĩa là dẫn, vượt ra khỏi -đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere”–“Ex-Ducere” (Education). Giáo dục là dẫn con người vượt ra khỏi hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn thiện hơn, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn. Khái niệm văn hóa “culture” là vun trồng, có gốc tiếng Latinh là “cultus" (có nghĩa là "gieo trồng") và tiếng Hán "văn hoá" (có nghĩa là "văn" đẹp đẽ, "hoá" biến đổi). Theo tiếng Latinh, nó mang ý nghĩa "gieo trồng ruộng đất" (cultus agri) và "gieo trồng tinh thần" (cultus animi), tức là giáo dục và bồi dưỡng tâm hồn con người. Như vậy, khái niệm văn hóa và giáo dục có chung ý nghĩa và đích đến là vun đắp, phát triển con người.
2.2. Các phương pháp nghiên cứu
Phân tích tài liệu: Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu về môi trường GDĐH, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng, tự chủ đại học và chuyển đổi số giáo dục. Đồng thời, tham khảo các nhận định từ kết quả của quá trình kiểm định chất lượng ở một số trường đại học.
Tiếp cận hệ thống: Môi trường GDĐH được xem là một hệ thống gồm các thành tố tương tác: giảng dạy – nghiên cứu – hợp tác – quản trị được xem xét bên trong và bên ngoài nhà trường, trong chu kì, giai đoạn trước và sau khi Luật sửa đổi Giáo dục đại học (2018) được thực thi trong giai đoạn qua; với tham chiếu của Luật mới (2025).
Tiếp cận xã hội học giáo dục: Vận dụng lý thuyết vốn xã hội, vốn văn hóa và cấu trúc trường học thuật (academic structure) để phân tích vai trò của môi trường giáo dục trong việc hình thành cơ hội phát triển cho người học. Đồng thời, sản phẩm của giáo dục đại học là nhân cách chuyên gia giáo dục bậc cao (Higher Education) với năng lực ĐMST và cống hiến, do vậy coi trọng phân tích kết quả định tính có giá trị xã hội-văn hóa và PVCĐ của chuẩn đầu ra là quan trọng.
Phương pháp đề xuất khung tiêu chí: Trên cơ sở phân tích, xây dựng khung tiêu chuẩn mở rộng phạm vi ảnh hưởng và tác động của giáo dục đại học theo hướng xã hội học giáo dục phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số và tự chủ đại học.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Cấu trúc tiêu chuẩn môi trường GDĐH hiện hành
Hệ thống tiêu chuẩn hiện nay được cấu trúc thành bốn nhóm chính: (1) Môi trường giảng dạy – học tập, bao gồm chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, học liệu, cơ sở vật chất, môi trường học tập sáng tạo và hỗ trợ người học. (2) Môi trường khoa học công nghệ, bao gồm năng lực nghiên cứu của giảng viên, sinh viên; công bố khoa học; cơ sở dữ liệu; hoạt động chuyển giao công nghệ. (3) Môi trường hợp tác và phát triển cộng đồng, liên kết đào tạo với doanh nghiệp, hợp tác nghiên cứu, quốc tế hóa giáo dục. (4) Môi trường quản trị đại học, chiến lược phát triển, đảm bảo chất lượng, hệ thống quản trị thông tin và văn hóa tổ chức. Cấu trúc này thể hiện bước tiến quan trọng theo hướng hệ sinh thái giáo dục. Tuy nhiên, phân tích cho thấy vẫn còn một số khoảng trống mặc dù trong gần 10 năm tự chủ đại học, kết quả đạt được khá ấn tượng.
3.2. Những hạn chế của hệ thống tiêu chuẩn hiện nay
Tiếp cận chiều sâu các hoạt động của nhà trường có thể nhận diện 4 hạn chế: (i) Chưa tích hợp đầy đủ môi trường số và dữ liệu học tập, do vậy đang có sự chậm chễ thực thi chiến lược chuyển đối số bởi 4 thành tố của công nghệ (H-nguồn lực người; I-nguồn lực thông tin; O-nguồn lực tổ chức; T-nguồn lực kĩ thuật) đang thiếu đồng bộ, mới chỉ tập trung chủ yếu vào nguồn lực kĩ thuật (T); (ii) Chưa đánh giá sâu vốn xã hội học thuật và mạng lưới nghề nghiệp của người học. Do thiếu nghiên cứu chỉ số đo hiệu quả và hiệu suất trong đào tạo và giá trị đem lại của nguồn lực được đào tạo và chưa có sự phân tích các tập hợp những quan hệ xã hội mang tính nghề nghiệp mà người học xây dựng và khai thác để đạt được cơ hội việc làm, học tập nâng cao, phát triển chuyên môn và vị thế xã hội; (iii) Chưa đo lường mức độ bình đẳng cơ hội trong tiếp cận tài nguyên học thuật; (iv) Chưa phản ánh đầy đủ cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình từ góc nhìn xã hội học, chủ yếu từ cách quản lí hành chính.
Tiếp cận tiêu chuẩn KĐCL (theo Thông tư 12 của Bộ GD-ĐT) ở tiêu chuẩn 21-Kết nối phục vụ cộng đồng của trường đại học, căn cứ dữ liệu KĐCL trường đai học có điểm tồn tại chung: Quy định về quản lý và hướng dẫn về hoạt động kết nối và cung cấp các dịch vụ PVCĐ chủ yếu từ trong ra ngoài. Các hoạt động PVCĐ đã triển khai trong những năm qua vẫn tập trung nhiều ở các đóng góp hỗ trợ cải thiện môi trường, đào tạo ngắn hạn, các câu lạc bộ của các tổ chức đoàn thể, hội SV; các hoạt động có thể mạnh được lồng ghép vào dịch vụ khá nhiều nhưng chưa phát huy hết tiềm năng của trường. Việc đo lường và giám sát được các hoạt động PVCĐ có hệ thống với các chỉ số, chỉ báo cụ thể cho từng loại hoạt động chưa thực sự khoa học nên việc xác định mức độ cải thiện trong từng hoạt động này chưa được rõ ràng. Ở tiêu chuẩn 24-Kết quả phục vụ cộng đồng còn những hạn chế: chưa xây dựng, ban hành được hệ thống văn bản hướng dẫn và quy trình giám sát, đối sánh cụ thể cho từng loại hình và khối lượng tham gia vào các loại hoạt động kết nối và PVCĐ. Một số trường chưa chú ý xây dựng CSDL thu thập ý kiến phản hồi các bên liên quan về tác động của các hoạt động PVCĐ tích hợp trên cùng một hệ thống và có kế hoạch cải tiến chất lượng thường xuyên. Do vậy, triết lí, mục tiêu, sứ mạng, tầm nhìn và giá trị cốt lõi của nhiều trường đại học chưa thật sự được thừa nhận ở cộng đồng, chủ yếu là “độc tôn” nhà trường, sức sống của nhà trường đại học với giá trị xuyên thế kỉ phải được lắng đọng, như “trầm tích văn hóa” kể cả trong lịch sử và trong xã hội hiện đại. Nhất là trong bối cảnh mới thực hiện NQ 71/TW yêu cầu cần tập trung “mở rộng không gian giáo dục đại học”, định hướng ĐMST là yêu cầu cấp bách.
3.3. Định hướng hoàn thiện tiêu chuẩn theo quan điểm xã hội học giáo dục
(1). Bổ sung tiêu chuẩn môi trường số, gồm: Hạ tầng số và nền tảng LMS; dữ liệu học tập mở; hệ sinh thái học tập kết hợp (blended learning); ứng dụng AI trong quản trị và giảng dạy. Khẩn trương tiếp cận giáo dục số trong hệ sinh thái số quốc gia.
(2). Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, gồm: Không gian sáng tạo và khởi nghiệp; liên kết doanh nghiệp – đại học; thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Quan hệ này cần dựa trên nền tảng chung ở giai đoạn đầu là lợi ích, quy luật cung -cầu và giai đoạn sau cao hơn là khát vọng cống hiến của các chủ thể trong và ngoài trường.
(3). Đánh giá vốn xã hội học thuật, gồm: Mức độ tham gia mạng lưới nghiên cứu; cơ hội thực tập và nghề nghiệp; hoạt động cố vấn học thuật. Mở rộng cơ hội để nhiều thành phần tham gia vào giáo dục đại học ở các giai đoạn phát triển.
(4). Tăng cường tiêu chí công bằng và bao trùm, gồm: Hỗ trợ sinh viên yếu thế; chính sách học bổng và tiếp cận tài nguyên; môi trường học tập không phân biệt. Có thể lấy ví dụ về triết lý giáo dục của Đại học Cornell (Hoa Kỳ) dựa trên nguyên tắc sáng lập "Một tổ chức nơi bất kỳ ai cũng có thể tìm thấy sự hướng dẫn trong bất kỳ nghiên cứu nào". Cornell tập trung vào sự kết hợp giữa nghiên cứu học thuật đỉnh cao, ứng dụng thực tế, tư duy phản biện và cam kết phục vụ cộng đồng trên phạm vi toàn cầu.
(5). Gắn với tự chủ và trách nhiệm giải trình, gồm: Minh bạch tài chính; hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ; công bố dữ liệu hoạt động. Toàn bộ trách nhiệm này phải giải trình với xã hội để tạo lập niềm tin, đáp ứng kì vọng cũng như gắn kết hệ sinh thái giáo dục đại học bền vững cùng cộng đồng. Đây là xu hướng quản trị hiện đại, thúc đẩy sự chủ động, sáng tạo và nâng cao chất lượng. Nâng tầm trách nhiệm của các thành phần xã hội về chức năng đóng góp, giải trình, giám sát, thụ hưởng với giáo dục đại học theo quan điểm của UNDP về phát triển nguồn nhân lực là “phát triển nhân tính, khả năng của con người và sử dụng khả năng ấy”.
4. Kết luận và kiến nghị
4.1. Kết luận
Môi trường GDĐH trong bối cảnh mới là một hệ sinh thái xã hội – học thuật – công nghệ và văn hóa. Hoàn thiện tiêu chuẩn môi trường GDĐH cần chuyển từ tiếp cận điều kiện sang tiếp cận năng lực tạo giá trị và cơ hội phát triển. Tiêu chuẩn mới phải tích hợp: môi trường số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, vốn xã hội học thuật, quản trị đại học tự chủ và minh bạch. Tiêu chuẩn mới cần hòa quyện giữa giáo dục ĐMST và văn hóa, tạo ra môi trường có sức hấp dẫn cao đối với mọi lứa tuổi, một môi trường luôn vun trồng những giá trị mới và lan tỏa những giá trị văn minh của nhân loại.
Về phương diện quản lí, Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT, chuẩn cơ sở giáo dục đại học gồm 6 tiêu chuẩn với 20 tiêu chí: Tổ chức và quản trị; Đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất; Tài chính; Tuyển sinh và đào tạo; Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Bộ chuẩn này đã quan tâm đến môi trường giáo dục nhưng chủ yếu ở khía cạnh vật chất và quản trị, trong khi môi trường văn hóa, xã hội, tâm lý và sinh thái – những yếu tố ngày càng quan trọng trong giáo dục đại học hiện đại – cần được thể chế hóa thành một tiêu chuẩn độc lập. Điều này gợi ý nhu cầu hoàn thiện chuẩn theo hướng bổ sung “tiêu chuẩn môi trường giáo dục đại học” với các chỉ báo định lượng và định tính rõ ràng hơn. Thông tư 12/2017-Quy định KĐCLGD cơ sở GD ĐH cần bổ sung cụ thể về thành phần “Các bên liên quan đến cơ sở giáo dục bao gồm người học, giảng viên, nhân viên, đội ngũ lãnh đạo và quản lý, nhà sử dụng lao động, các đối tác, gia đình người học, nhà đầu tư, cơ quan quản lý trực tiếp, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, tổ chức, cá nhân có liên quan khác” với mức độ yêu cầu cụ thể hơn khi tham gia, trách nhiệm, cống hiến, thụ hưởng như một thành viên máu thịt ở trong môi trường đó.
4.2. Kiến nghị
Đối với cơ quan quản lý: Xây dựng bộ tiêu chuẩn môi trường GDĐH tích hợp chuyển đổi số và tự chủ đại học. Cần bổ sung tiêu chí môi trường giáo dục với đặc tính xanh, số, đổi mới sáng tạo được tiếp cận liên ngành văn hóa học, xã hội học và kinh tế học.
Đối với cơ sở GDĐH: Phát triển hệ sinh thái học thuật mở, tăng cường hợp tác và văn hóa chất lượng. Mở rộng tầm nhìn và giá trị cốt lõi trong chiến lược phát triển nhà trường trong bối cảnh mới; ý nghĩa và giá trị của nhà trường phải được xã hội thừa nhận cùng với quá trình tham gia của nhiều thành phần trong hệ sinh thái bền vững.
Đối với nghiên cứu giáo dục: Đẩy mạnh nghiên cứu xã hội học giáo dục về môi trường học thuật và cơ hội nghề nghiệp. Các chính sách về giáo dục đại học cần được nghiên cứu dựa trên các nền tảng lí luận vững chắc trước khi ban hành chính sách.
Tài liệu tham khảo
1. Altbach, P. G. (2016). Global perspectives on higher education. Johns Hopkins University Press.
2. Becker, S. A., et al. (2018). Horizon report: Higher education edition. EDUCAUSE.
3. Lê Ngọc Hùng. (2009). Xã hội học giáo dục, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. OECD. (2022). Higher education in the digital era. OECD Publishing.
5. Phạm Hồng Quang. (2025). Nghiên cứu sự thay đổi của môi trường giáo dục đại học trong bối cảnh tự chủ đại học. Đại học Thái Nguyên, Đề tài cấp Bộ (2024-2025).
6. UNESCO. (2021). Reimagining our futures together: A new social contract for education. UNESCO Publishing.
7. Trung tâm KĐCLGD-ĐHQGHN-Báo cáo ĐGN.
Abstract: In the context of digital transformation, university autonomy, and globalization, the higher education environment has evolved from a set of physical teaching conditions into a multidimensional academic–social–technological ecosystem. This paper examines the theoretical and practical foundations for improving higher education environment standards from the perspective of sociology of education. Using document analysis, systemic approach, and sociological frameworks, the study evaluates the current structure of standards and proposes enhancement directions. Findings indicate that the existing framework includes four major components: teaching–learning environment, science and technology environment, cooperation and community engagement environment, and university governance environment. However, these standards should be expanded to incorporate digital ecosystems, innovation systems, academic social capital, and accountability mechanisms under university autonomy. The paper proposes an extended framework aligned with contemporary higher education transformation.
Keywords: higher education environment, sociology of education, university autonomy, digital transformation, quality standards.