ThS. Nguyễn Đức Thắng -
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân Việt Nam long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam mới - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là NHà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đã hội tụ và tỏa sáng truyền thống mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mở đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là một áng văn lập quốc vĩ đại, mà còn là một tác phẩm chính luận mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc, góp phần tích cực đặt nền tảng cho một trật tự pháp lý hiện đại trong thế kỷ XX.
Thực tiễn trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới đã cho thấy, không phải quốc gia nào sau khi giành được độc lập, tự chủ cũng có được một bản Tuyên ngôn Độc lập. Sự kiện ra đời Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 ở Việt Nam đã phản ánh sự kết tinh những phẩm giá cao quý nhất của dân tộc Việt Nam; đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới, vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó là một bản Tuyên ngôn Độc lập hùng tráng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng, của dân tộc Việt Nam khởi thảo.
Ngay trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn lời bất hủ của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người còn trân trọng viện dẫn trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của nước Pháp một triết lý nổi tiếng, đó là: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được. Việc trân trọng viện dẫn những tinh hoa trong hai cuộc cách mạng tiêu biểu của nước Pháp và nước Mỹ để mở đầu cho Tuyên ngôn lập quốc của nước mình, vừa thể hiện nét độc đáo, sáng tạo, đầy tính nhân văn cao cả và cử chỉ ngoại giao rất tinh tế, sắc bén của chủ nhân một quốc gia độc lập; nhưng cũng vừa mang tính chủ động tiến công cách mạng của một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược sâu rộng trên nhiều lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa, quân sự...
Bằng tầm nhìn chiến lược về ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam tuyên bố mong muốn xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa nước ta với nước Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Điều đó sáng ngời tư tưởng đại nghĩa, lòng khoan dung cao cả của nhân dân Việt Nam. Bởi vì, trong hơn 30 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, Người đã thấu hiểu tận tim gan bản chất bóc lột dã man, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Ngay cả khi đã vạch rõ tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ nước ta, chúng đã “bóc lột dân ta đến tận xương tủy”; rồi trong vòng 5 năm chúng lại “bán” nước ta cho phát xít Nhật, gây cho nhân dân ta thảm cảnh “một cổ hai tròng”, với hơn hai triệu đồng bào bị chết đói. Song đến khi thực dân Pháp thất thế và rút chạy, nhân dân Việt Nam vẫn độ lượng khoan hồng, giang tay cứu giúp cho nhiều người Pháp và tài sản của họ thoát khỏi bàn tay tàn bạo, đê hèn của phát xít Nhật lúc đó.
Nhân dân nước Mỹ rất tự hào về Tô-mát Giép-phơ-xơn, người đã khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Niềm tự hào đó càng được đề cao khi trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới lại được mở đầu bằng chính những nội dung tinh túy nhất trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, đúng vào thời điểm quân Đồng minh vừa chiến thắng phe phát xít. Sự thật lịch sử đó không có cớ gì mà Chính phủ Mỹ đương thời lại bỏ qua cử chỉ đặc biệt thân thiện của nhân dân Việt Nam.
Nhưng điều còn thú vị hơn là trực tiếp vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam đã cho viên thiếu tá tình báo L.A Pát-ti, đại diện của quân đội Mỹ ở Hà Nội khi đó, được xem trước bản Tuyên ngôn Độc lập mà Người sẽ đọc tại cuộc mít tinh lớn ở Hà Nội, khiến cho chính viên thiếu tá tình báo này phỉa thú thực rằng “không còn tin ở tai mình nữa”. Sau hơn ba thập kỷ với biết bao chính biến thăng trầm của lịch sử, ngài L.A Pat-ti đã tự thuật lại sự kiện trên rất sinh động, hấp dẫn và nghiêm túc trong tác phẩm Why Viet Nam? (Tại sao Việt Nam?).
Rõ ràng, ngay trong thời kỳ đầu lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đặt nền móng mối quan hệ ngoại giao thân thiện giữa Việt Nam với Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, trong đó có nước Mỹ và nước Pháp. Thế nhưng, cơ hội lịch sử đó đã bị chính phủ đương thời ở Mỹ và ở Pháp bỏ qua, đúng vào thời điểm nhân dân Việt Nam cùng sát cánh đứng về phía phe Đồng minh để loại trừ chủ nghĩa phát xít tàn bạo.
Như vậy, xét trên nhiều phương diện, có thể khẳng định bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 là sự kết tinh tâm huyết của dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; thể hiện truyền thống, khí phách quật cường, bản lĩnh và ý chí quyết tâm sắt đá trong đấu tranh để giành và giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc.
Nhưng ngay tại thời điểm có tính chất bước ngoặt của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc lại đang có những toan tính mới, hòng xóa bỏ mọi thành quả cách mạng. Chúng núp dưới danh nghĩa phe Đồng minh chiến thắng phát xít để âm mưu áp đặt các nước thuộc địa ở Á châu dưới chế độ “Uỷ trị quốc tế”, trực thuộc vào nước Mỹ hay nước Pháp. Tổng thống Cộng hòa Pháp De Gaulle lấy tư cách một nước thuộc phe Đồng minh, mưu toan tiếp tục nắm giữ toàn vẹn đất đai ở hải ngoại đã từng thuộc Pháp trước chiến tranh. Thực dân Pháp vẫn không chịu từ bỏ âm mưu biến nước ta thành thuộc địa vĩnh viễn của chúng. Lúc này, đế quốc Mỹ cũng đang thừa cơ lăm le tìm mọi thủ đoạn để nhẩy vào độc chiếm Đông Dương nói chung và xâm chiếm nước Việt Nam độc lập nói riêng.
Trong bối cảnh lịch sử đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ đối tượng kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của cách mạng Việt Nam và của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nếu như trong hơn 30 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung lên án đối tượng kẻ thù chủ yếu của cách mạng là chủ nghĩa thực dân Pháp, với bản ‘Yêu sách 8 điểm” nổi tiếng, gửi Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919; hay “Bản án chế độ thực dân Pháp” năm 1925..., thì nay, trước tình hình thế giới và trong nước phát triển rất mau chóng, bằng sự nhạy cảm về chính trị và tầm nhìn chiến lược sâu rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích và nhận rõ nguy cơ nền độc lập của dân tộc vừa mới giành được đang đứng trước sự đe dọa từ đối tượng kẻ thù mới là đế quốc Mỹ. Chính vì vậy, Người đã làm tất cả để phân hóa kẻ thù, tranh thủ từng đối tượng, kể cả long trọng khởi đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc mình bằng sự viện dẫn những nội dung tinh túy nhất trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Trên cơ sở pháp lý và chính nghĩa, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đã trở thành một văn kiện mẫu mực về nghệ thuật phân hóa, cô lập kẻ thù để nhằm loại bỏ từng kẻ thù nguy hiểm của cách mạng. Đứng trước dã tâm xâm lược trở lại Việt Nam của thực dân Pháp, bản Tuyên ngôn Độc lập đã lột rõ bộ mặt “bảo hộ” giả nhân, giả nghĩa, núp dưới bóng cờ quân Đồng minh của thực dân Pháp. Bằng những lập luận đanh thép và vững chắc, Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ cho toàn thế giới thấy rõ một thực tế lịch sử là: Từ mùa thu năm 1940, thực dân Pháp đã quỳ gối đầu hàng, dâng đất nước ta cho bọn phát xít Nhật. Cho nên, sự thực cũng từ đó, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Nhật. Chính từ đây, Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo toàn dân đứng lên đấu tranh để giành lại nước Việt Nam từ tay phát xít Nhật. Do đó, cơ sở pháp lý về sự tồn tại quyền lợi của thực dân Pháp ở Việt Nam cũng như trên toàn Đông Dương không còn nữa. Theo các Hiệp nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn đã chỉ rõ: Nếu các nước Đồng minh đã công nhận quyền dân tộc tự quyết của các nước đã bị phát xít chiếm đóng, thì “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”.
Những lập luận dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và rất đanh thép đã đặt cả chủ nghĩa thực dân cũ và mới vào tư thế của những kẻ can thiệp và xâm lược, nếu chúng quyết dã tâm núp dưới bóng cờ của quân Đồng minh để hòng thôn tính đất nước ta. Vì vậy, bản Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xác định rõ đối tượng cần tranh thủ, cần phân hóa; đồng thời, thể hiện tính chủ động, linh hoạt, cần kíp trong tiến công cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập hùng tráng bằng lời tuyên bố trịnh trọng và đanh thép, đáp ứng nguyện vọng thiết tha ngàn đời của nhân dân Việt Nam : “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Đã 80 năm trôi qua kể từ khi bản Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, đất nước Việt Nam đã có nhiều đổi thay lớn lao trên con đường tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp theo “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, thì bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đã trở thành một áng hùng văn lập quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trên hành trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vẫn luôn vẹn nguyên ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại sâu sắc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.